TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH HỒ THỊ THU THẢO ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
CỦA NÔNG HỘ TRỒNG KHÓM
Ở HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã ngành: 52620115
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã ngành: 52620115
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
LÊ THỊ DIỆU HIỀN
NGUYỄN QUỐC NGHI
Cần Thơ – 12/2013i
LỜI CẢM TẠ Trước tiên, em xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả Quý Thầy (Cô) trường
Đại học Cần Thơ, các Thầy (Cô) khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, những
LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và
kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, không trùng với bất kỳ đề tài nghiên
cứu khoa học nào. Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013.
Hồ Thị Thu Thảo
iii
NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Họ và tên GVHD: LÊ THỊ DIỆU HIỀN
Học vị: Thạc sĩ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Cơ quan công tác chuyên môn: Khoa Kinh tế - QTKD, Đại học Cần Thơ
Họ và tên sinh viên: HỒ THỊ THU THẢO
Mã số sinh viên: 4105153
Chuyên ngành: Kinh Tế Nông Nghiệp
Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CỦA NÔNG HỘ TRỒNG
KHÓM Ở HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG
iv
MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi không gian 3
1.4.3 Phạm vi thời gian 3
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
1.5.1 Nghiên cứu nước ngoài 3
1.5.2 Nghiên cứu trong nước 6
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
11
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 11
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 11
2.1.1.1 Khái niệm về nông hộ và nguồn lực nông hộ 11
2.1.1.2 Sản xuất 11
2.1.1.3 Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả sản xuất 11
2.1.2 Các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích 13
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 14
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 14
2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 14
2.2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 15
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ VỀ KỸ THUẬT, PHÂN PHỐI
NGUỒN LỰC, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHI PHÍ CỦA NÔNG HỘ SẢN
XUẤT KHÓM CỦA HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG 50
5.1 CÁC BIẾN SỬ DỤNG TRONG MÔ HÌNH PHÂN TÍCH MÀNG BAO DỮ
LIỆU 50
vi
5.2 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ VỀ KỸ THUẬT, PHÂN PHỐI NGUỒN LỰC VÀ
CHI PHÍ SẢN XUẤT 52
5.3 SO SÁNH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KHÓM CỦA HỘ NGHÈO VÀ KHÔNG
NGHÈO 55
5.4 NĂNG SUẤT MẤT ĐI DO KÉM HIỆU QUẢ KỸ THUẬT TRONG LẦN THU
HOẠCH HIỆN TẠI 56
5.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57
CHƯƠNG 6: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CHO
NÔNG HỘ TRỒNG KHÓM Ở HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH
TIỀN GIANG 59
6.1. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT
KHÓM CỦA NÔNG HỘ Ở HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG 59
6.1.1 Thuận lợi 59
6.1.2 Khó khăn 59
6.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NĂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CHO
NÔNG HỘ 60
6.2.1 Đề xuất giải pháp dựa trên kết quả nghiên cứu từ mô hình DEA 60
6.2.2 Đề xuất giải pháp trên cơ sở thực trạng sản xuất 62
CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
7.1. KẾT LUẬN 64
7.2. KIẾN NGHỊ 64
7.2.1 Đối với nông hộ 64
7.2.2 Đối với cơ quan chức năng và chính quyền địa phương 65
Bảng 5.2: Hiệu quả kỹ thuật của nông hộ sản xuất khóm ở địa bàn nghiên cứu
52
Bảng 5.3: Hiệu quả phân phối nguồn lực của nông hộ sản xuất khóm ở địa bàn
nghiên cứu 54
Bảng 5.4: Hiệu quả sử dụng chi phí của nông hộ sản xuất khóm ở địa bàn
nghiên cứu 55
Bảng 5.5: So sánh hiệu quả sản xuất khóm của hộ nghèo và hộ không nghèo 55
Bảng 5.6: Năng suất bị mất đi do kém hiệu quả kỹ thuật 57
Bảng 6.1: Phân bổ nguồn lực đầu vào theo khảo sát thực tế và theo kết quả đề
xuất từ mô hình dea cho nông hộ 61
viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Phước tỉnh Tiền Giang 19
Hình 3.2 Top 10 nước sản xuất hàng đầu thế giới năm 2011 29
Hình 3.3 Giá khóm tại thị trường Mỹ Tho năm 2013 32
Hình 4.1 Cơ cấu chi phí sản xuất khóm/1000m
2
/vụ 45 ix
là sản xuất nông nghiệp. Người nông dân chiếm tỷ lệ cao trong phân công lao
động của cả nước (hơn 70% dân số nước ta tham gia vào các hoạt động nông
nghiệp)[8]. Nông nghiệp Việt Nam là một ngành cực kỳ quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân và nó có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với nền kinh tế quốc gia,
cũng như đóng góp một phần không nhỏ vào GDP nước nhà. Vì vậy việc phát
triển tốt nền nông nghiệp cùng với trang thiết bị hiện đại sẽ đóng góp một
phần việc phát triển đất nước và góp phần đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước.
ĐBSCL là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta với diện tích tương
đương 4 triệu ha và đây còn là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của
miền Nam. Bên cạnh là nơi sản xuất lúa nhiều cả nước, ĐBSCL còn là vùng
trọng điểm về cây ăn trái của cả nước. Nơi đây có điều kiện tự nhiên về đất
đai, khí hậu, nguồn nước… rất thuận lợi để phát triển cây ăn trái nhiệt đới với
chủng loại đa dạng, phong phú. Nói đến trái cây ĐBSCL, không thể không
nhớ đến các loại trái cây đặc sản và nổi tiếng đã thành thương hiệu như: xoài
cát Hòa Lộc, bưởi da xanh, sầu riêng Cái Mơn, vú sữa Lò Rèn, cam sành và
bưởi Năm Roi….
Đóng góp một phần vào thương hiệu trái cây Việt Nam thì không thể
không kể đến đặc sản nổi tiếng là khóm. Khóm có mặt ở hầu hết các tỉnh
ĐBSCL nhưng trở thành thương hiệu nổi tiếng ở cả thị trường nội địa lẫn thị
trường nước ngoài thì có khóm Tân Phước ở Tiền Giang. Tuy đã được các cơ
quan chức năng chú trọng đầu tư và quan tâm nhiều nhưng việc sản xuất khóm
vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề bất cập, khó khăn, và cuộc sống của người dân
trồng khóm chưa thật sự được cải thiện. Trong những năm gần đây, một số hộ
nông dân ở Tiền Giang đã thay đổi quy trình sản xuất khóm nhằm cải thiện và
nâng cao năng suất và sản lượng. Tuy nhiên, năng suất và sản lượng dường
như không có sự chuyển biến tích cực do còn gặp phải những khó khăn vướng
mắc: (1) Hoạt động sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL mang tính đặc thù với sản
xuất nhỏ, manh mún cùng với thói quen sử dụng kinh nghiệm, kỹ thuật sản
xuất truyền thống lạc hậu; (2) Hiệu quả kỹ thuật thấp; và (3) Việc sử dụng,
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Tình hình sản xuất khóm ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang như thế
nào?
- Mô hình sản xuất khóm ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang đã đem lại
hiệu quả như thế nào cho nông hộ ?
- Giải pháp nào có thể nâng cao được hiệu quả sản xuất cho nông hộ sản
xuất khóm ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang? - 3 -
1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những nông hộ sản xuất khóm ở
huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang
1.4.2. Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, tuy nhiên số liệu thu
thập chỉ tập trung ở huyện Tân Phước, do đây là một trong những vùng
nguyên liệu khóm lớn nhất khu vực ĐBSCL (diện tích trồng khóm trên
13.000ha)[5]. Vì vậy, những thông tin về tình hình sản xuất và tiêu thụ khóm
của nông hộ sẽ mang tính đại diện cao.
1.4.3. Phạm vi thời gian
Đề tài được thực hiện từ tháng 07 đến tháng 12 năm 2013. Các thông tin
liên quan đến tình hình sản xuất khóm của nông hộ ở huyện Tân Phước, tỉnh
Tiền Giang được thu thập từ vụ thu hoạch gần nhất, kéo dài từ tháng 01 đến
tháng 05 năm 2013. Bên cạnh đó, tác giả còn tiến hành thu thập số liệu thứ cấp
về điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu và tình hình kinh tế xã hội của vùng
trong thời gian ba năm gần nhất (2011-2013) từ Sở Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn tỉnh Tiền Giang và Niên giám thống kê tỉnh Tiền Giang.
1.5. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
phân tích màng bao dữ liệu (DEA) để ước tính điểm số về hiệu quả. Dữ liệu sử
dụng trong nghiên cứu là dữ liệu nông nghiệp hằng năm trong 23 năm (1972-
1994) trên 4 khu vực ở Thái Lan. Đầu vào được phân thành 6 yêu tố: Đất đai,
vốn, phân bón, lao động thời vụ, lao động hợp đồng và lao động gia đình. Kết
quả nghiên cứu cho thấy: (1) Có khả năng đáng kể để tăng mức độ hiệu quả
bằng cách tăng quy mô đất canh tác hoặc trang trại. Nghiên cứu cũng chỉ ra
rằng có tiềm năng để tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở Thái Lan đặc biệt
là ở khu vực miền Nam, mức độ không hiệu quả kỷ thuật của trung bình tổng
thể có giảm 51% nếu hoạt động ở quy mô tối ưu. (2) Sự đa dạng của các điểm
hiệu quả giữa các vùng. Ở khu vực phía Nam có hiệu suất kỹ thuật và quy mô
tổng thể tương đối thấp hơn 2 khu vực còn lại (miền Bắc và miền Trung), điều
này được giải thích do sự khác biệt trong điều kiện khí hậu, chất lượng đất và
tưới tiêu. Điều này cho thấy sự thay đổi đáng kể trong khu vực khí hậu, tài
nguyên thiên nhiên, thủy lợi, v.v , có thể có tác động khác nhau về hiệu quả
trong sản xuất nông nghiệp Thái Lan trong khu vực khác nhau. (3) Kết quả
phân tích DEA cho thấy, trong tổng số 92 quan sát có 23% hoạt động ở quy
mô tối ưu, 23% hoạt động trên quy mô tối ưu và 54% hoạt động dưới quy mô
tối ưu của họ. Điều này cho thấy rằng sự gia tăng lớn trong hiệu quả kỹ thuật
tổng thể có thể đạt được bằng việc hiệu chỉnh quy mô trang trại; Khi so sánh
hiệu quả quy mô giữa các vùng có 87% trang trại ở khu vực Đông Bắc hoạt
động trên quy mô tối ưu, 70% trang trại ở miền Bắc hoạt động dưới quy mô
tối ưu, 57% trang trại ở khu vực miền Trung hoạt động ở quy mô tối ưu và
100% trang trại ở khu vực miền Nam hoạt động dưới quy mô tối ưu. Kết quả
cho thấy nhìn chung lợi thế về quy mô của trang trại ngày càng tăng trong
ngành nông nghiệp ở Thái Lan. Tuy nhiên, các dịch vụ khuyến nông nên được
tăng cường sử dụng để tăng hiệu quả kỹ thuật cho một vài trang trại nông
nghiệp hoạt động không hiệu quả.
Benjamin C. Asogwa, Simon T. Penda and Wuraola L. Lawal (2011).
“Application of Data Envelopment Analysis to Evaluate Farm Resource
Management of Nigerian Farmers” (Ứng dụng phương pháp phân tích màng
phương pháp DEA và tìm ra các yếu tố sản xuất chính tạo nên sự khác biệt
giữa các đơn vị sản xuất hiệu quả và không hiệu quả. DEA sử dụng trong
nghiên cứu này để tạo ra điểm hiệu quả kỹ thuật theo cả 2 giả định là lợi nhuận
cố định theo quy mô (CRS) và lợi nhuận biến đổi theo quy mô (VRS) với dữ
liệu được thu thập từ 190 mẫu. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Điểm số trung
bình của hiệu quả kỹ thuật 0,785 theo CRS và 0,833 theo VRS. Các yếu tố sản
xuất quan trọng của đơn vị sản xuất hiệu quả và không hiệu quả được so sánh
bằng phương pháp phân tích phương sai. Nghiên cứu cũng cho thấy đơn vị có
hiệu quả kỹ thuật sản xuất cao hơn sử dụng ít đơn vị đầu vào trên cùng một
đơn vị sản lượng, sản phẩm được tao ra nhiều hơn trên mỗi con bò trên 1 ha,
chất lượng sữa cao hơn so với đơn vị sản xuất không hiệu quả.
Banaeian N., O Mid M., A Hmadi H (2011). “Improvement of Cost
Efficiency in Strawberry Greenhouses by Data Envelopment Analysis” (Nâng
cao hiệu quả chi phí của việc sản xuất dâu tây trong nhà kính bằng phương - 6 -
pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA) ở Iran). Mục đích của nghiên cứu này
là sử dụng kỹ thuật DEA để điều tra hiệu quả kỹ thuật và quy mô của việc sản
xuất dâu tây trong nhà kính ở Iran, bên cạnh đó nghiên cứu còn tập trung vào
việc so sánh và tối ưu hóa hiệu suất của nhà kính. Dữ liệu sử dụng trong
nghiên cứu được thu thập trực tiếp thông qua bảng câu hỏi 25 nhân viên làm
việc trong các nhà kính. Phân tích được dựa trên số lượng của 4 yếu tố đầu vào
quan trọng: lao động thuê, phân bón, vốn và các chi phí khác và và đầu ra là
sản lượng dâu tây sản xuất ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Hiệu quả kỹ thuật
trung bình đạt 73% và trung bình hiệu quả kỹ thuật thuần túy đạt 96%, có một
tiềm năng phù hợp cho việc sử dụng các yếu tố đầu vào hiệu quả hơn và bền
vững hơn trong sản xuất. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự khác biệt giửa số
lượng các yếu tố đầu vào đang cung cấp và lượng cần thực tế có thể giúp chủ
cao.
Huỳnh Trường Huy, Võ Hồng Phượng, La Nguyễn Thùy Dung
(2006); Phân tích hiệu quả quy mô và kỹ thuật của hộ sản xuất lúa tại ĐBSCL.
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu phân tích hiệu quả quy mô và kỹ thuật của 261
hộ sản xuất lúa ở Cần Thơ và Sóc Trăng, hai địa phương đại diện cho hoạt
động sản xuất lúa ở ĐBSCL. Tác giả đã thông qua phương pháp Data
Envelopment Analysis và Stochastic Frontier Analysis để thực hiện nghiên
cứu. Kết quả phân tích cho thấy hiệu quả kỹ thuật sản xuất lúa của nông dân
đạt trên 75% đối với trường hợp thu nhập theo quy mô cố định và thay đổi,
hiệu quả qui mô đạt khá cao gần 97%. Tuy nhiên, hầu hết các hộ sản xuất lúa
chưa đạt hiệu quả kỹ thuật tối ưu, chỉ có 23 hộ đạt hiệu quả tối ưu và 25 hộ đạt
qui mô tối ưu trong số 261 hộ được khảo sát. Trong số các mô hình canh tác
được khảo sát, cho thấy các mô hình sản xuất lúa kết hợp cho hiệu quả cao
hơn những mô hình độc canh lúa. Đồng thời, những yếu tố ảnh hưởng đến
hiệu quả kỹ thuật bao gồm diện tích canh tác, vốn đầu tư, chi phí phân bón và
nông dược; trong khi đó, hiệu quả phi kỹ thuật phụ thuộc vào trình độ, kinh
nghiệm và khả năng ứng dụng kỹ thuật sản xuất của nông dân.
Quang Minh Nhựt (2009); Phân tích hiệu quả kỹ thuật, phân phối
nguồn lực và hiệu quả sử dụng chi phí của hộ sản xuất lúa tại tỉnh Đồng Tháp.
Với đề tài này tác giả sử dụng phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA)
và hàm Tobit để ước lượng hiệu quả sản xuất và các nhân tố tác động đến hiệu
quả. Nhằm đảm bảo tính khoa học của số liệu, tác giả tiến hành thu thập số
liệu thuộc 6 huyện trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp với một mẫu gồm 520 nông hộ
đại diện cho mô hình sản xuất có ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và 287
nông hộ đại diện cho mô hình không áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Kết
quả phân tích cho thấy rằng hộ sản xuất lúa ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật đạt
hiệu quả cao và ổn định hơn so với hộ sản xuất không ứng dụng tiến bộ kỹ
thuật. Ngoài ra, kết quả phân tích còn chỉ ra rằng hộ sản xuất ứng dụng tiến bộ
kỹ thuật sử dụng nguồn lực đầu vào hợp lý hơn và tiết kiệm hơn so với hộ sản
xuất không ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Thêm vào đó, kết quả ước lượng của hàm
trung bình 0,98. Từ kết quả phân tích trên cho thấy các hộ sản xuất hành tím
trong vùng đạt hiệu quả theo qui mô sản xuất tương đối cao và ổn định trong
khi hiệu quả sử dụng chi phí của hộ sản xuất hành tím lại khá thấp.
Nguyễn Thị Tú Anh (2013); Phân tích hiệu quả kỹ thuật và các chỉ tiêu
tài chính của việc trồng khóm ở Thành phố Vị Thanh, Tỉnh Hậu Giang.Tác giả
đã sử dụng phương pháp phân tích màng bao dữ liệu DEA ( Data
Envelopment Analysis) để phân tích hiệu quả kỹ thuật trồng khóm của nông
hộ kết hợp với phân tích các chỉ tiêu tài chính để đánh giá hiệu quả kinh tế của
nông hộ trồng khóm ở Tp. Vị Thanh, Tỉnh Hậu Giang. Qua quá trình nghiên
cứu 50 hộ trên địa bàn, kết quả thu được cho thấy đa phần các nông hộ tham
gia sản xuất đều có lãi, ít đôi khi lỗ. Và việc trồng khóm đem lại tỷ suất lợi
nhuận cao gấp 1.33 lần so với việc đem gửi vốn vào ngân hàng. Việc phân tích
hiệu quả kỹ thuật của việc trồng khóm tại địa bàn nghiên cứu cho ra kết quả
phân tích như sau: các nông hộ đạt hiệu quả kỹ thuật trung bình tương đối cao
87.88%. Nhưng chỉ có 15 hộ đạt được hiệu quả kỹ thuật tối ưu trên tổng số 50
hộ được điều tra. Và kết quả nghiên cứu còn chỉ ra được hiệu quả kỹ thuật phụ
thuộc vào lượng sử dụng những yếu tố đầu vào phân bón, lao động và thuốc
BVTV. Ngoài ra đất đai, thời tiết, kinh nghiệm sản xuất, ứng dụng KHKT
cũng ảnh hưởng đến sản xuất của nông hộ. Từ những phân tích trên, tác giả đã
đề xuất mô hình sản xuất giúp hộ nông dân sử dụng tối thiểu các yếu tố đầu
vào để đạt được hiệu quả tối ưu trong sản xuất. - 9 -
Thái Thanh Hà (2009); Áp dụng phương pháp phân tích màng bao dữ
liệu và hồi quy Tobit để đánh giá hiệu quả sản xuất cao su thiên nhiên của các
hộ gia đình tại tỉnh Kon Tum. Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở số
liệu thu thập được từ 122 hộ gia đình sản xuất cao su thiên nhiên tại tỉnh Kon
Tum, Tây Nguyên. Số liệu từ điều tra phỏng vấn được sử dụng trong nghiên
hiệu quả phân phối và hiệu quả sử dụng chí phí trong sản xuất của hai nhóm
hộ nghèo và không nghèo. Từ việc xác định những thuận lợi và khó khăn
trong quá trình canh tác tác giả đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất - 10 -
cho nông hộ trồng khóm đồng thời đưa ra một số kiến nghị mang tính khoa
học với các cấp chính quyền tại địa phương. - 11 -
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
2.1.1.1 Khái niệm về nông hộ và nguồn lực nông hộ
- Nông hộ
Là những hộ nông dân làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, dịch
vụ, tiểu thủ công nghiệp…hoặc kết hợp làm nhiều nghề, sử dụng lao động,
tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất, kinh doanh.
“Nông hộ là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông, lâm, ngư
nghiệp, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc sống chung trong một
mái nhà, có chung nguồn thu nhập, tiến hành các hoạt động sản xuất nông
nghiệp với mục đích chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các thành viên trong
hộ”.
- Nguồn lực nông hộ
Các tài nguyên trong nông hộ rất đa dạng bao gồm đất đai, lao động, kỹ
thuật, tài chính, con người…chúng có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau trong quá
quả kinh tế được đo lường bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh doanh với chi
phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Là sự kết hợp các yếu tố sản xuất (đất đai,
vốn, lao động, kỹ thuật sản xuất…) nhất định để tạo ra một lượng sản phẩm
đầu ra lớn nhất. Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị, nghĩa là khi sự
thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có giá trị còn ngược lại thì không có
hiệu quả, phản ánh tương quan giữa kết quả đạt được so với hao phí lao động,
vật chất, tài chính. Là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu
tố sản xuất – kinh doanh, nhằm đạt được hiệu quả tối đa với chi phí tối thiểu.
Tùy theo mục đích đánh giá, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng
những chỉ tiêu khác nhau như năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn, hàm
lượng vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với đồng vốn bỏ ra, thời gian thu hồi
vốn…Chỉ tiêu tổng hợp thường dùng nhất là doanh lợi thu được so với tổng số
vốn bỏ ra. Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân chỉ tiêu hiệu quả là tỷ trọng thu
nhập quốc dân trong tổng sản phẩm xã hội. Trong trường hợp, để phân tích các
vấn đề kinh tế có quan hệ chặt chẽ với các vấn đề xã hội, khi tính hiệu quả
kinh tế, phải coi trọng hiệu quả về mặt xã hội như: tạo thêm công ăn việc làm
để giảm nạn thất nghiệp, tăng cường an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội,
cũng cố đoàn kết giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, công bằng xã
hội…Từ đó có khái niệm kinh tế - xã hội.
c. Hiệu quả sản xuất
Trong sản xuất kinh doanh thường phải đối mặt với các giới hạn trong
việc sử dụng nguồn lực sản xuất. Do đó, họ cần phải xem xét và lựa chọn thứ
tự ưu tiên các hoạt động cần thực hiện dựa vào các nguồn lực đó sao cho đạt
kết quả cao nhất. Thuật ngữ mà chúng ta thường dùng để chỉ kết quả đạt được
đó là hiệu quả. Hiệu quả là một thuật ngữ tương đối và luôn liên quan đến một
vài chỉ tiêu cụ thể. Một hoạt động sản xuất hay một phương án sản xuất được
coi là hiệu quả khi dùng một lượng đầu vào cố định đã biết trước tạo ra sản
lượng đầu ra lớn nhất hoặc để tạo ra một lượng đầu ra nhất định sản xuất với
mức chi phí đầu vào tối thiểu. Hiệu quả sản xuất thông thường bao gồm các
loại hiệu quả là hiệu quả kỹ thuật (TE), hiệu quả phân phối nguồn lực (AE),
được do tiêu thụ sản phẩm.
DT= Sản lượng * giá bán
Lợi nhuận (LN): Là phần còn lại sau khi lấy doanh thu trừ chi phí
LN= Tổng doanh thu – Tổng chi phí ( bao gồm chi phí LĐGĐ )
Thu nhập (TN): Là phần lợi nhuận cộng với chi phí LĐGĐ
TN= LN + CP LĐGĐ
Lao động gia đình (LĐGĐ): Là số ngày lao động mà người trực tiếp sản
xuất bỏ ra để chăm sóc cây trồng hay vật nuôi. Lao động gia đình được tính
bằng đơn vị ngày công lao động (mỗi ngày công được tính là 8 giờ lao động).