BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------
VŨ THỊ THU LINH
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------
VŨ THỊ THU LINH
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số đề tài: 15BQTKDBG-23
LUẬN VĂN THẠC SĨ
người đã tận tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn tơi trong suốt q trình thực hiện luận
văn này.
Tơi xin trân trọng cảm ơn Phịng quản lý Ngân sách Sở Tài chính tỉnh Bắc
Giang, UBND huyện Lạng Giang, các phòng ban chức năng của huyện Lạng
Giang, UBND, Ban Tài chính các xã, thị trấn trong huyện và đặc biệt Ban lãnh
đạo, tập thể cán bộ cơng chức Phịng Tài chính - Kế hoạch huyện Lạng Giang
đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi học tập và thực hiện luận
văn này.
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, động viên của gia đình, đồng
nghiệp, bạn bè. Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và ghi nhận những tình
cảm q báu đó.
Một lần nữa, tôi xin được trân trọng cảm ơn và chúc sức khoẻ, hạnh
phúc, thành đạt tới tất cả mọi người!
Lạng Giang, ngày 29 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thu Linh
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2.2. Thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Lạng Giang
iii
Trang
i
ii
iii
v
vii
1
1
2
2
3
4
5
5
5
11
11
12
14
14
14
24
27
29
30
30
3.2.2. Tăng cường, bồi dưỡng nguồn thu và quản lý nguồn thu ngân
sách xã
3.2.3. Hồn thiện cơng tác quản lý năng cao hiệu quả chi ngân sách xã
3.2.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tài chính ngân sách xã
3.2.5. Hồn thiện bộ máy và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý
ngân sách xã
3.2.6. Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin quản lý ngân sách xã
3.3. Một số kiến nghị
3.3.1. Đối với Bộ Tài chính
3.3.2. Đối với Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
iv
47
59
76
78
79
79
81
82
83
85
85
85
85
86
41
Bảng 2.4
Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý Ngân sách xã của huyện Lạng
Giang
47
Bảng 2.5
Tình hình thực hiện kế hoạch thu ngân sách xã của huyện Lạng
Giang giai đoạn 2014-2016
48
Bảng 2.6
Thu và cơ cấu các khoản thu ngân sách xã chủ yếu của huyện
Lạng Giang
50
Bảng 2.7
Tình hình thu NSX huyện Lạng Giang giai đoạn 2014-2016
51
Tổng hợp tình hình thu thuế thu nhập cá nhân của NSX ở huyện
Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014-2016
55
Bảng 2.13
Tổng hợp tình hình thu tiền sử dụng đất của NSX ở huyện Lạng
Giang, tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2014-2016
55
Tổng hợp tình hình các khoản thu bổ sung từ ngân sách cấp trên
Bảng 2.14 của Ngân sách xã ở huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giai đoạn
2014-2016
56
Bảng 2.15
Các khoản chi chủ yếu ngân sách xã huyện Lạng giai đoạn 20142016
62
Bảng 2.16
Nội dung chi NSX huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giai đoạn
2014-2016
64
Sơ đồ 2.2 Trình tự ghi sổ kế tốn theo hình thức kế tốn trên máy vi tính
77
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt
BHXH
BHYT
Diễn giải
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
BQ
CBCC
Bình quân
Cán bộ cơng chức
CNH-HĐH
DT
Cơng nghiệp hố - hiện đại hố
Dự tốn
ĐTPT
HĐND
Kế hoạch
Lâm nghiệp
Nơng lâm nghiệp
Nhà nước
Ngồi quốc doanh
Ngân sách
Ngân sách Nhà nước
Ngân sách xã
Sản xuất kinh doanh
Tài chính - Kế hoạch
Tiền gửi kho bạc
Tài sản cố định
Thực hiện
Uỷ ban nhân dân
Ước thực hiện
Xây dựng cơ bản
vii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống tài chính của mỗi quốc gia thì Ngân sách nhà nước (NSNN) có
vị trí quan trọng đặc biệt, nó giữ vai trị chủ đạo trong hệ thống tài chính và có ý
nghĩa quyết định trong q trình phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Cùng với sự phát triển của đất nước, ngân sách nhà nước ngày càng lớn mạnh
và phát huy vai trò quan trọng trong việc tập trung nguồn tài lực đảm bảo duy trì sự
tồn tại, cũng như mọi hoạt động của bộ máy Nhà nước, đồng thời là công cụ thiết yếu
giúp Nhà nước quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong điều kiện hiện nay, công tác quản lý ngân sách xã vẫn còn những bất
cập nhất định cả về cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện cần được nghiên cứu tìm
kiếm những giải pháp hồn thiện để đáp ứng được sự phát triển lớn mạnh của nền
kinh tế đất nước cả về chiều rộng lẫn chiều sâu phù hợp với thời đại hội nhập mới.
Qua nghiên cứu và thực tế công tác tại địa phương học viên đã lựa chọn đề tài:
“Tăng cường quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc
Giang” làm cơng trình nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
a. Mục tiêu nghiên cứu chung:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách
xã mà đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý ngân sách xã có hiệu quả trên
địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
b. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách xã;
- Đánh giá thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Lạng Giang,
tỉnh Bắc Giang những năm qua;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện
Lạng Giang;
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm tăng cường quản lý ngân sách xã
có hiệu quả trên địa bàn huyện Lạng Giang trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu:
- Các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý ngân sách xã;
- Công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Lạng Giang;
- Các nguồn ngân sách xã;
- Các đối tượng thu, chi ngân sách xã: Các doanh nghiệp Nhà nước, doanh
nghiệp tư nhân, hộ cá thể, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện Lạng Giang.
* Về thu bao gồm các khoản thu ngân sách xã như sau:
- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp
luật;
- Dữ liệu thứ cấp bao gồm: các báo cáo về tình hình cơ bản của huyện, tình
hình thu, chi ngân sách của các xã, thị trấn trong huyện; Các chủ trương chính sách
của Nhà nước Việt Nam về sử dụng ngân sách nhà nước; Tình hình thực hiện ngân
sách của các nước và một số địa phương của Việt Nam và các nghiên cứu trước đây
có liên quan. Các dữ liệu này có liên quan đến q trình nghiên cứu của đề tài đã
được cơng bố chính thức ở các cấp, các ngành: UBND huyện Lạng Giang, phịng
Tài chính - Kế hoạch huyện, chi Cục thống kê Lạng Giang, phịng Tài ngun và
Mơi trường huyện, chi Cục thuế Lạng Giang...
Các dữ liệu này được tìm, đọc, phân tích và trích dẫn đầy đủ.
* Thu thập số liệu sơ cấp
Các dữ liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu này chủ yếu là lấy ý kiến của các
cán bộ quản lý, cán bộ công chức và một số doanh nghiệp về sử dụng ngân sách.
Phương pháp thu thập chủ yếu là phỏng vấn theo phiếu điều tra cán bộ công chức
cấp xã, các doanh nghiệp trong huyện. Tiến hành điều tra đối với cán bộ của 23 xã, thị
trấn và cán bộ phịng tài chính trên cơ sở 45 phiếu điều tra đối với cán bộ xã, 10 phiếu
điều tra cán bộ phịng tài chính trực tiếp quản lý trong lĩnh vực tài chính.
3
c. Phương pháp, tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu
* Tổng hợp, xử lý số liệu
Sau khi thu thập xong dữ liệu, toàn bộ những dữ liệu này được kiểm tra, hiệu
chỉnh và sắp xếp theo 1 trình tự các khoản thu, chi ngân sách, tính tốn các chỉ tiêu
phân tích thu, chi, so sánh, đối chiếu đánh giá để rút ra những kết luận cần thiết.
* Phương pháp phân tích số liệu
Các phương pháp phân tích thống kê sử dụng chủ yếu là :
- Phương pháp thống kê mơ tả: Thơng qua các chỉ tiêu phân tích số tuyệt đối,
số tương đối. số bình qn phân tích mức thu, chi ngân sách.
- Phương pháp phân tích tài chính: Phân tích thực thu, thực chi ngân sách theo
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP XÃ
1.1. Cơ sở lý luận về tăng cường quản lý ngân sách xã
1.1.1. Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm ngân sách Nhà nước
Từ “ngân sách” được lấy ra từ thuật ngữ “budjet” một từ tiếng Anh thời trung
cổ, dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa những khoản tiền cần thiết
cho những khoản chi tiêu công cộng. Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà vua
cho những mục đích cơng cộng như: đắp đê phịng chống lũ lụt, xây dựng đường xá
và chi tiêu cho bản thân hồng gia khơng có sự tách biệt nhau. Khi giai cấp tư sản
lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và đòi hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu
này, từ đó nảy sinh thuật ngữ ngân sách nhà nước (NSNN).
Trong thực tiễn, thuật ngữ ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của một
đơn vị trong một thời gian nhất định. Một bảng tính tốn các chi phí để thực hiện
một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể
nào đó. Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là Ngân sách Nhà nước.
Từ điển tiếng việt thông dụng định nghĩa: “Ngân sách là tổng số thu và chi của
một đơn vị trong một thời gian nhất định”.
Điều 1 của luật Ngân sách nhà nước được Quốc hội khố XI nước Cộng hồ xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai năm 2002 cũng đưa ra khái niệm
Ngân sách Nhà nước sau đây khá tương đồng với các định nghĩa của các nước.
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được các cấp có thẩm
quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
NSNN Việt Nam gồm: Ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Ngân
sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Phù hợp với mơ hình tổ chức chính quyền Nhà nước
ta hiện nay, ngân sách địa phương bao gồm: Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh) ngân sách cấp huyện, quận, thị
xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách cấp
Cho đến nay chính quyền cấp xã đã trở thành cấp chính quyền cơ sở có vai trị hết
sức quan trọng trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở nước ta.
Song song với sự ra đời, tồn tại và phát triển của chính quyền cấp xã thì “quỹ”
xã (mà bây giờ gọi là NSX) cũng được hình thành và phát triển như một tất yếu
khách quan để đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước ở cơ sở. Qua
mỗi giai đoạn phát triển, NSX đã có những thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, về kỷ
luật tài chính, chế độ thu chi Ngân sách xã cho phù hợp. Chẳng hạn: Về chức năng,
nhiệm vụ: ở thời Khúc Hạo có tư giáp trơng coi nhân lực và sánh thuế; ở thời Lê có
xã trưởng thơng coi việc khốn thu và nộp thuế; ở thời Nguyễn có chức sắc ở 3
miền khác nhau phụ trách cơng tác tài chính.
Về chế độ thu, chi NSX trong mỗi thời kỳ cũng có sự khác nhau do sự áp đặt
các luật lệ khác nhau của các triều đại. Trong thời Lê, chế độ quản lý NSX được
quy định rất chặt chẽ: đối với xã lớn chỉ được phép chi trong phạm vi 50 quan, xã
nhỏ 20 quan (đơn vị tiền tệ lúc đó), quỹ xã chỉ giữ lại 30 quan để chi tiêu, số còn lại
6
phải gửi vào nhà giàu trong xã cất giữ. Dưới chế độ XHCN, trong thời kỳ bao cấp
công tác quản lý NSX chưa được quan tâm, coi trọng do ảnh hưởng của cơ chế tập
trung, bao cấp. Từ năm 1996 NSX được quản lý theo Luật NSNN.
Trải qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau trong tiến trình lịch sử, chúng
ta đã thấy được vị trí, vai trị quan trọng của Ngân sách xã. Đặc biệt trong những
năm 1946-1954, 1955-1975 của cuộc đấu tranh giải phóng nước nhà, Ngân sách xã
đã thực sự trở thành công cụ, phương tiện vật chất có tác dụng to lớn trong sự
nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng Tổ quốc.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thực hiện khẩu hiệu “tất cả cho tiền
tuyến, tất cả để chiến thắng”, xã đã gom góp tiền bạc, lương thực để ni qn và
góp phần hết sức quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng miền Bắc, giải
phóng miền Nam khỏi ách chiếm đóng của đế quốc Mỹ.
Quản lý là tổ chức, điều khiển và theo dõi thực hiện công việc nào đó.
Quản lý về cơ bản và trước hết là tác động đến con người để họ thực hiện,
hoàn thành những công việc được giao để họ làm những điều bổ ích, có lợi. Điều đó
địi hỏi ta phải hiểu rõ và sâu sắc về con người như: Cấu tạo thể chất, những nhu
cầu, các yếu tố năng lực, các qui luật tham gia hoạt động (tích cực, tiêu cực).
Quản lý là thực hiện những cơng việc có tác dụng định hướng, điều tiết phối
hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua
việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát.
Hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó, điều tiết được
nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận.
Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đơng người
được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao bền lâu và không ngừng phát
triển. Chẳng thế mà người Nhật khẳng định rằng: “Biết cái gì, biết làm gì là quan
trọng nhưng quan trọng hơn là biết quan hệ”. Người Mỹ cho rằng: “Chi phí cho
thiết lập, khai thơng các quan hệ thường chiếm 25% đến 50% tồn bộ chi phí cho
hoạt động”. Trong hoạt động kinh tế biết thiết lập, khai thơng cá quan hệ sản xuất
cụ thể thì các yếu tố thuộc lực lượng sản xuất mới ra đời và phát triển nhanh chóng.
Quản lý doanh nghiệp trong kinh tế thị trường cần nhận thức và thực hiện tốt các
mối quan hệ như: Quan hệ với những người chủ vốn; quan hệ với tổ chức của
những người lao động, với người lao động; quan hệ với những người bán hàng cho
doanh nghiệp.
Quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián
tiếp và trực tiếp nhằm thu được những diễn biến, thay đổi tích cực.
1.1.1.4. Khái niệm sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà nước
Sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà nước là dùng ngân sách nhà nước như thế
nào để đạt hiệu quả tốt nhất, mục đích sử dụng là cao nhất.
1.1.1.5. Khái niệm tăng cường quản lý ngân sách xã
Tăng cường quản lý ngân sách xã là làm cho công tác quản lý ngân sách xã trở
nên mạnh hơn, nhanh hơn và có kết quả cao hơn.
1.1.1.6. Hệ thống Ngân sách nhà nước
Theo quy định hiện hành, hệ thống NSNN bao gồm:
a. Ngân sách trung ương là NS của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương;
b. Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là NS tỉnh), bao
gồm NS cấp tỉnh và NS của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
c. Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là NS
huyện), bao gồm NS cấp huyện và NS các xã, phường, thị trấn;
d. Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là NS cấp xã);
9
Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN được lập dựa trên cơ sở pháp lý là Hiến
pháp của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, hệ thống NSNN được tổ chức theo các
nguyên tắc thống nhất và tập trung dân chủ:
- Tính thống nhất: địi hỏi các khâu trong hệ thống NS phải hợp thành một thể
thống nhất, biểu hiện các cấp NS có cùng định mức chi tiêu, quản lý thu chi thống
nhất thông qua mục lục NSNN, cùng thực hiện một q trình NS (lập dự tốn, chấp
hành dự tốn và quyết tốn NS).
- Tính tập trung: thể hiện NS trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các
nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng. NS cấp dưới chịu sự chi phối của NS
cấp trên và được điều tiết một phần nguồn thu từ NS cấp trên nhằm đảm bảo cân đối
của NS cấp mình.
- Tính dân chủ: Dự tốn và quyết tốn NS phải được tổng hợp từ NS cấp dưới,
đồng thời mỗi cấp chính quyền địa phương có HĐND và UBND thì sẽ có một NS
và được quyền chi phối NS cấp mình.
Các khâu trong hệ thống NS được quản lý theo cơ chế phân cấp quản lý NS của
từng quốc gia, tương ứng với cơ chế phân cấp quản lý hành chính hiện nay để bảo đảm
có sự chuyển giao nguồn tài chính giữa cấp trên và cấp dưới nhằm đáp ứng nhiệm vụ
thuộc thẩm quyền phân cho từng cấp. Đây được xem như một phương thức để tăng
cơ quan quyền lực Nhà nước cấp xã đó là HĐND cấp xã;
+ Ngân sách xã là cấp Ngân sách cuối cùng gắn chặt với việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, là nơi trực tiếp giải quyết mối quan hệ lợi
ích giữa Nhà nước và nhân dân, đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh.
Mối quan hệ về lợi ích đó được thực hiện thông qua hoạt động thu chi Ngân sách
xã. Thông qua hoạt động thu- chi đó, chính quyền cấp xã cũng đảm bảo thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình.
Bên cạnh những đặc điểm chung của cấp ngân sách. NSX cũng có những đặc
điểm riêng, đó là NSX vừa là cấp ngân sách vừa là đơn vị sử dụng ngân sách, chính
đặc điểm riêng này đã làm cho NSX trở thành một đơn vị dự tốn đặc biệt, vì nó khơng
có đơn vị dự tốn trực thuộc nào và nó vừa phải duyệt cấp, chi trực tiếp và tổng hợp
các khoản chi trực tiếp vào chi NSX.
1.1.3. Vị trí của ngân sách xã trong hệ thống ngân sách Nhà nước
Theo luật NSNN, tổ chức hệ thống NSNN bao gồm Ngân sách Trung ương và
Ngân sách các cấp chính quyền địa phương. Trong đó NS địa phương bao gồm:
- Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (gọi là ngân sách
cấp tỉnh)
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi là ngân sách
cấp huyện)
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi là ngân sách cấp xã)
Vậy ngân sách cấp xã là ngân sách cấp cơ sở, cấp ngân sách cuối cùng trong
hệ thống NSNN. Ngân sách xã có vị trí rất quan trọng trong hệ thống NSNN, biểu
hiện ở các mặt:
Thứ nhất: Xã là một đơn vị hành chính cơ sở, Hội đồng nhân dân xã là cơ
quan quyền lực Nhà nước tại địa phương, triển khai thực hiện mọi chủ trương,
đường lối của Đảng và Nhà nước cấp trên, ngoài ra HĐND xã còn được quyền ban
hành các Nghị quyết về phát triển kinh tế xã hội và quản lý ngân sách trên địa bàn,
vì vậy NSX thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân.
11
* Đối với thu NSX
Thông qua thu NSX mà các nguồn thu được tập trung hình thành nên quỹ
NSX, đảm bảo nhu cầu chi tiêu của chính quyền xã. Thơng qua thu, chính quyền xã
thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh và
các hoạt động khác trên địa bàn xã, đảm bảo cho các hoạt động này tuân thủ theo
đúng quy định của pháp luật. Thông qua hoạt động thu NSX, chính quyền xã thực
hiện những chính sách điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, hướng dẫn sản xuất tiêu dùng
từ công cụ thuế của Nhà nước.
12
Ngồi ra, thu NSX góp phần thực hiện tốt các chính sách xã hội như: đảm bảo
cơng bằng giữa những người có nghĩa vụ đóng góp cho NSX, có sự trợ giúp cho các
đối tượng nộp khi họ gặp khó khăn hoặc thuộc diện cần ưu đãi theo chính sách của
Nhà nước thông qua xét miễn, giảm số thu.
Việc áp dụng đúng các hình thức thu và mức thu cịn giúp nhân dân nâng cao
ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng và giữ gìn kỷ cương phép nước.
Như vậy có thể nói, thu NSX đóng vai trị quan trọng trong việc góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội tại địa bàn do Nhà nước cấp xã quản lý. Xét trên
phương diện quan hệ giữa hai mặt thu và chi NSX thì thu NSX cịn ảnh hưởng
mang tính quyết định đến chi ngân sách xã vì "lường thu mà chi" đã trở thành một
nguyên tắc để điều hành ngân sách.
* Đối với chi NSX
Chi NSX để đảm bảo phương tiện vật chất cho chính quyền ở xã được tồn tại
và phát triển.
Chi NSX cho sự nghiệp giáo dục và y tế đã góp phần nâng cao dân trí và sức
khoẻ cho người dân. Nhờ đó mà các mục tiêu xoá mù chữ, phổ cập giáo dục các
bậc, kế hoạch hố gia đình, phịng dịch bệnh,... được thực hiện.
Thơng qua chi ngân sách xã mà các chính sách xã hội được thực hiện như: Chi
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN; Thông tư số 60/2003/TT-BTC
ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt
động tài chính khác của xã, phường, thị trấn.
1.2.2. Chu trình quản lý ngân sách xã
Cũng như các cấp NS khác, ngân sách xã cũng được tổ chức quản lý theo một
chu trình khoa học gồm 3 khâu: Lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân
sách xã. Nội dung quản lý ngân sách xã được quy định cụ thể tại Luật NSNN năm
2002; Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN; Thơng tư số 59/2003/TT-BTC ngày
23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP
ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN;
Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính quy định về quản
lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn và các văn
bản hướng dẫn hiện hành của Chính phủ, của Bộ Tài chính cũng như các quy định
về phân cấp quản lý KTXH, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của HĐND cấp tỉnh.
Nội dung cơ bản về Chu trình quản lý ngân sách xã như sau:
1.2.2.1. Lập dự toán ngân sách xã
Đây là khâu đầu tiên trong quy trình quản lý ngân sách xã, nó đặt cơ sở nền
tảng cho những khâu tiếp theo. Nếu khâu lập dự tốn được thực hiện chính xác, có
cơ sở khoa học, hợp thời gian… sẽ tạo điều kiện rất lớn cho các khâu tiếp theo, giúp
cho quá trình điều hành ngân sách được tốt hơn. Hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn
của Ủy ban nhân dân cấp trên, Ủy ban nhân dân xã lập dự tốn ngân sách năm sau
trình Hội đồng nhân dân xã quyết định.
* Yêu cầu của lập dự toán Ngân sách xã:
- Dự toán NSX phải phản ánh một cách đầy đủ, chính xác các khoản thu, chi
dự kiến có thể phát sinh năm kế hoạch theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của
14
- Số kiểm tra về dự tốn NSX do UBND huyện thơng báo;
- Tình hình thực hiện dự tốn NSX các năm trước, ước thực hiện Ngân sách
năm hiện hành;
* Trình tự lập dự tốn Ngân sách xã
- Ban Tài chính xã phối hợp với cơ quan Thuế, tổ đội Thuế xã (nếu có), tổ uỷ
nhiệm thu, các thơn, đội để tính toán các khoản thu Ngân sách trên địa bàn (Trong
phạm vi phân cấp cho xã quản lý).
15
- Các ban ngành, tổ chức của xã (Mặt trận tổ quốc, Đồn thanh niên, Hội phụ
nữ, Hội nơng dân, Hội cựu chiến binh...) căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao và
chế độ định mức, tiêu chuẩn chi, tiến hành lập dự trù kinh phí hoạt động cho các
cơng việc dự kiến năm kế hoạch, dự tính các khoản thu có thể phát sinh theo điều lệ
hoạt động của tổ chức mình để cung cấp tư liệu cho Ban Tài chính xã lập dự tốn
NSX. Trường hợp các tổ chức, đồn thể lập dự trù kinh phí vượt q định mức, tiêu
chuẩn theo số kiểm tra đã thông báo thì Ban Tài chính xã có quyền u cầu sửa lại
cho phù hợp.
- Ban Tài chính xã lập dự tốn thu, chi và cân đối Ngân sách xã trình UBND
xã báo cáo thường trực HĐND xã để xem xét gửi UBND huyện và phịng Tài
chính- KH cấp huyện. Thời gian báo cáo dự toán NSX do UBND cấp tỉnh quy định.
Trên cơ sở đó UBND huyện kiểm tra, tổng hợp và ra quyết định giao nhiệm vụ thu,
chi chính thức cho NS cấp xã. Đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, phịng
Tài chính- KH huyện làm việc với UBND xã về cân đối thu, chi NSX thời kỳ ổn
định mới theo khả năng bố trí cân đối chung của ngân sách địa phương. Đối với các
năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, phịng tài chính huyện chỉ tổ chức làm việc với
UBND xã về dự toán ngân sách khi UBND xã có yêu cầu
- Căn cứ Quyết định giao nhiệm vụ thu, chi NSX do UBND cấp huyện giao,
UBND xã hồn chỉnh dự tốn thu, chi ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách