Thực trạng huy dộng vốn tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình - Pdf 72

Chơng 2
Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
tỉnh Hoà Bình
2.1 Tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hoà Bình
2.1.1 Một số chỉ tiêu tổng hợp
Hoà bình là tỉnh mới đợc tái lập tháng tháng 10/1991, tách ra từ tỉnh Hà Sơn Bình. Đến nay toàn tỉnh có 11
huyện thị, với 214 xã phờng, thị trấn. Trung tâm tỉnh là thị xã Hoà Bình. Diện tích đất tự nhiên 4.662 km
2
, dân số 780
ngàn ngời, mật độ bình quân: 167 ngời/1km
2
.
Về vị trí địa lý, Hoà Bình thuộc vùng miền núi cửa ngõ Tây Bắc, nằm ở vị trí đầu mối giao thông quan
trọng, tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng thông qua nhiều tuyến giao thông đờng bộ, đờng thuỷ và cách thủ đô Hà
Nội 70 Km, nên có vị trí chiến lợc quan trọng trong xây dựng kinh tế và bảo đảm an ninh quốc phòng. Có thể nói
Hoà Bình là Tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế xã hội nếu các lợi thế này đợc khai thác. Tuy nhiên, do địa
bàn bị chia cắt sâu, mạnh nên đã gây cản trở không nhỏ cho giao lu kinh tế văn hoá, phát triển kinh tế xã hội và đời
sống nhân dân.
Trong những năm qua với những chính sách đầu t đồng bộ của Đảng và Nhà nớc, nền kinh tế Hoà Bình đã
có nhiều khởi sắc. Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, liên tục năm sau cao hơn năm tr ớc, đời sống nông dân
đợc cải thiện và nâng cao, bộ mặt nông thôn đổi mới rõ rệt, nhiều ngành nghề đợc khôi phục và phát triển tạo khả
năng trong việc cơ cấu lại nền kinh tế của tỉnh theo hớng đa canh, gia tăng sản phẩm hàng hoá, giảm dần tỷ lệ nghèo
đói. Công nghiệp và dịch vụ có bớc phát triển đáng kể, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm.
Qua số liệu Biểu số 01 cho thấy từ năm 1998 - 2001 tỉnh Hoà Bình có nhịp độ
tăng trởng khá, tốc độ trung bình GDP tăng hàng năm trên 7%, tuy vậy so với bình
quân thu nhập cả nớc, bình quân GDP/ngời của tỉnh chỉ bằng 60% do có điểm xuất
phát quá thấp.
Biểu số 01:
Kết quả tăng trởng kinh tế của Tỉnh hoà bình
qua các năm 1998- 2001
Đơn vị tính: Triệu VNĐ

Ngành nông, lâm nghiệp thuỷ sản
49.09 47.93 48.53 47.87
Ngành công nghiệp và xây dựng
15.98 16.89 17.10 17.58
Ngành dịch vụ
34.93 35.18 34.37 34.55
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hoà Bình 2001, NXB Thống kê, trang 25)
Biểu số 02 cho thấy nền kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn là nền kinh tế nông nghiệp. Công nghiệp và xây dựng
còn rất nhỏ bé, dịch vụ tăng chậm và không đồng đều giữa các năm. Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2001 đạt
931.312 triệu đồng tăng 7% so với năm 2001, đời sống ngời nông dân đợc cải thiện một bớc tuy vẫn còn nghèo, tỷ lệ
thu nhập dành cho tiết kiệm và đầu t của nhân dân còn ở mức khiêm tốn. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2001 đạt
440.991 triệu đồng, tăng 13% so với năm 2000, tập trung vào một số sản phẩm tăng khá: Sản xuất phân phối điện, n-
ớc; chế biến...
Toàn tỉnh có 72 doanh nghiệp Nhà nớc hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế trong đó 18 doanh nghiệp do
Trung ơng quản lý, 49 doanh nghiệp do địa phơng quản lý, 5 doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Thực tế các
doanh nghiệp Nhà nớc sản xuất kinh doanh có hiệu quả không cao, nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, một số
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không ổn định.
Từ thực tế trên một yêu cầu cấp bách đặt ra là Hoà Bình phải đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu nền kinh
tế, phát triển sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, phát huy tối đa nguồn nội lực của Tỉnh để có một cơ cấu kinh tế
hợp lý theo định hớng.
2.1.2 Dân số và cơ cấu dân tộc
Đến cuối năm 2001 dân số của tỉnh Hoà Bình có 780 ngàn ngời trong đó dân c nông thôn là 671 ngàn
chiếm tỷ trọng 86% dân số toàn tỉnh. Dân số trong độ tuổi lao động là 382 ngàn ngời bằng 49% dân số, tỷ lệ tăng
dân số hàng năm trung bình 1.6 %. Hoà bình có 7 dân tộc cùng sinh sống trong đó đông nhất là dân tộc Mờng (60%)
sau đó là dân tộc Kinh (31%), còn lại là các dân tộc khác. Mật độ dân số trung bình 167 ngời/km2, nơi tập trung
đông nhất là thị xã Hoà Bình (599 ngời/km2) và nơi ít nhất là huyện Đà Bắc (61 ngời/km2)
Hàng năm có hàng vạn ngời đến tuổi lao động bổ sung, sức ép về giải quyết
việc làm trong những năm qua và hiện nay rất gay gắt, số lao động cha có việc làm
tăng, nguồn lao động chủ yếu là lao động phổ thông cha qua đào tạo.
Hoà Bình là tỉnh có nhiều dân tộc, trình độ dân trí thấp, mỗi dân tộc có một

đất lâm nghiệp lớn nhng diện tích rừng còn quá ít dẫn đến môi trờng sinh thái khắc
nghiệt: Gió nóng, lốc cục bộ, sơng muối...
2.2 Hoạt động nguồn vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn tỉnh Hoà Bình trong thời gian qua
2.2.1 Vai trò vị trí của của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn tỉnh Hoà Bình đối với sự phát triển kinh tế trên địa bàn
Tháng 10 năm 1991 cùng với sự tái lập của Tỉnh, NHNo&PTNT tỉnh Hoà
Bình đợc thành lập trên cơ sở giải thể để sáp nhập Ngân hàng Công thơng thị xã Hoà
Bình và Ngân hàng Nông nghiệp 9 huyện, với nhiệm vụ chủ yếu là huy động mọi
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để đầu t phát triển sản xuất kinh doanh
trên địa bàn, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đồng thời thực hiện
các nghiệp vụ ngân hàng khác.
Với đặc điểm địa bàn tỉnh Hoà Bình không lớn, lại có 2 NHTM Nhà nớc và 5
Quĩ tín dụng nhân dân cùng hoạt động kinh doanh tiền tệ, do đó thị phần đợc phân
chia theo đặc điểm tính chất của từng ngân hàng. Trong những năm qua từ khi Ngân
hàng Đầu t và Phát triển Hoà Bình không thực hiện các nghiệp vụ cấp phát vốn đầu t
xây dựng cơ bản cho công trình thuỷ điện Hoà Bình và chuyển hẳn sang kinh doanh
thì thị phần đợc hình thành nh sau: Ngân hàng Đầu t và Phát triển chủ yếu phục vụ
các đơn vị kinh tế thuộc các ngành công nghiệp, xây dựng cơ bản ở khu vực thành thị
và một số ít ở nông thôn; NHNo&PTNT tỉnh Hoà Bình phục vụ các đối tợng khách
hàng là hộ sản xuất, kinh doanh ở nông thôn, hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh hoạt động trong các lĩnh vực th-
ơng mại, dịch vụ, sơ chế hàng nông lâm sản; hệ thống các quỹ tín dụng phục vụ chủ
yếu cho các thành viên của quỹ. Tuy nhiên sự phân chia này cũng chỉ là tơng đối, bởi
vì các quỹ tín dụng trên địa bàn, đặc biệt là 2 ngân hàng thơng mại là NHNo&PTNT
và Ngân hàng Đầu t và Phát triển cạnh tranh nhau ở tất cả mọi khâu, mọi lĩnh vực và
đều thực hiện các chức năng của ngân hàng kinh doanh đa năng. Bên cạnh đó tiết
kiệm bu điện với mạng lới rộng khắp đến từng thôn xã và lợi thế về công nghệ tin
học, mạng viễn thông... tạo khả năng thu hút lớn nguồn vốn tiết kiệm dân c đang là
một đối thủ cạnh tranh gay gắt với các NHTM trong tỉnh nói chung và với

cơ cấu kinh tế nông thôn; phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thâm canh tăng vụ chuyển biến mạnh;
quan hệ sản xuất đợc đổi mới theo hớng xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá với nhiều thành phần kinh tế tham gia;
kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn đợc tăng cờng; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đợc đảm bảo, môi tr-
ờng sinh thái đợc cải thiện một bớc góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế- xã hội, tạo tiền đề cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của tỉnh.
Trong những năm tiếp theo, thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc mà trớc hết là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nh
nội dung Nghị quyết Đại hội ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hoà Bình lần thứ VIII đã
đề ra, NHNo&PTNT tỉnh Hoà Bình có vai trò hết sức quan trọng cũng nh nhiệm vụ
rất nặng nề trong việc huy động vốn để cho vay phát triển kinh tế trên địa bàn.
2.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy, màng lới hoạt động của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Hoà Bình
So với các NHTM khác trên địa bàn, NHNo&PTNT tỉnh Hoà Bình có màng l-
ới rộng khắp với 10 Ngân hàng Nông nghiệp huyện đặt trụ sở tại các thị trấn là trung
tâm kinh tế, văn hoá xã hội của huyện, dới nó là các ngân hàng cấp III trực thuộc
huyện để rút ngắn khoảng cách không gian giữa ngân hàng với khách hàng nhất là
đối với những vùng sâu vùng xa bà con nông dân khó có điều kiện đi lại giao dịch
nơi trung tâm huyện lỵ. Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh
tại Thị xã Hoà Bình- là trung tâm của tỉnh, vừa làm nhiệm vụ quản trị điều hành
chung vừa tiến hành hoạt động kinh doanh trực tiếp trên địa bàn Thị xã. Trực thuộc
Ban giám đốc
Các chi nhánh NHNo &PTNT huyện Phòngkinhdoanh Phòngkế toán ngânquỹ Phòng kiểmtra KTNB
Phòngtổchức
Phòng hành chínhquản trị
Phòng kinh doanh
Phòngkế toán kho quỹ
Bộ phậnhành chính
Khách hàng
ngân hàng cấpIII
ngân hàng cấp II loại V

thực sự góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và dân c
phát triển sản xuất kinh doanh, đứng vững trong cơ chế thị trờng, đặc biệt là các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực vật t nông nghiệp, lơng thực, phân
bón, chế biến tiêu thụ sản phẩm nông lâm nghiệp... Ngoài ra NHNo&PTNT Hoà
Bình còn làm dịch vụ cho Ngân hàng Phục vụ ngời nghèo với tổng d nợ đến
31/12/2001 là 109 tỷ đồng.
Các dịch vụ ngân hàng khác ngày càng đợc hoàn thiện và đa dạng, mang lại
lợi ích kinh tế cho ngân hàng và xã hội.
2.2.3.1 Thực trạng nguồn vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Hoà Bình
NHNo&PTNT Hoà Bình là đơn thành viên hạch toán phụ thuộc và nhận khoán
tài chính với NHNo&PTNT Việt Nam, vốn điều lệ và các quỹ do NHNo&PTNT Việt
Nam quản lý tập trung. Với chức năng kinh doanh trực tiếp trên địa bàn, để đạt đợc
mục tiêu, nhiệm vụ trong hoạt động kinh doanh, NHNo&PTNT tỉnh Hoà Bình khai
thác mọi nguồn vốn và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn nhằm tăng cờng qui mô tài
sản sinh lời.
Biểu số 03:
nguồn vốn NHNo&PTNT tỉnh Hoà bình giai đoạn 1997-
2001
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 1997 1998 1999 2000 2001
Bình
quân
Tỷ
trọng
(%)
%
01/97
1. Vốn huy động 181 213 233 353 448 285 86 247
2. Vốn vay 2 2 9 2 52 13 4

tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách hàng, linh hoạt điều hành lãi suất trong phạm
vi cho phép nhất là trên địa bàn có cạnh tranh.
Biểu số 04:

Trích đoạn Về phía ngời gửi tiền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status