THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI - Pdf 72

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA SỞ GIAO DỊCH NGÂN
HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
2.1. Tổng quan về Sở giao dịch ngân hàng chính sách xã hội
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Sở giao dịch ngân hàng chính sách xã hội, đơn vị thành viên hạch toán phụ
thuộc của NHCSXH được thành lập theo quyết định số 146/QĐ - HĐQT ngày
12/02/2003 của Chủ tịch HĐQT NHCSXH. Sau một thời gian chuẩn bị, ngày
19/03/2003 Sở giao dịch ngân hàng chính sách xã hội đã khai trương và đi vào hoạt
động.
Trong bất kỳ đơn vị nào cơ cấu tổ chức đóng vai trò quan trọng không thể
thiếu được, thông qua đó ban lãnh đạo có thể kiểm tra, giám sát những hoạt động
của đơn vị mình, để từ đó đề ra hướng chỉ đạo đúng. SGDNHCSXH cũng vậy với
cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, đến 31/12/2008 cơ cấu tổ chức của SGDNHCSXH gồm: 1
Giám Đốc; 1 Phó Giám Đốc, 4 phòng ban trực thuộc (Kế toán - Ngân quỹ; Hành
chính - Tổ chức; Kế hoạch - Nghiệp vụ; Kiểm tra - Kiểm soát nội bộ)
+ Cơ cấu tổ chức của SGDNHCSXHVN
Cựng với BGĐ tiến hành kiểm tra mọi hoạt động của ngõn hàng,kiểm tra sự tuõn thủ của cỏc phũng ban,
đưa ra những giải phỏp nhằm tăng hiệu quả quản trị của BGĐ..
BAN GIÁM ĐỐC
P. kế hoạch _ nghiệp vụ
P. hành chính sự nghiệp
P.Kiểm tra-Kiểm toỏn nội bộ
P.Kế toỏn Ngõn quỹ
Lập kế hoạch cho cụng tỏc huy động vốn và sử dụng vốn trong ngõn hàng, cố vấn cho Ban giỏm đốc cỏc
vấn đề về nguồn vốn..
Thực hiện cỏc giao dịch liờn quan đến ngõn quỹ, tổ chức ghi chộp đầy đủ, chớnh xỏc, kịp thời từng nghiệp
vụ kinh tế phỏt sinh về cỏc hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn, lập bỏo cỏo,bảng cõn đối định kỳ gửi
lờn cấp trờn..
Giỏm sỏt cỏc hoạt động, đưa ra chế độ thưởng phạt…
2.1.2. Vai trò của SGDNHCS đối với ngân hàng NHCSXH
Vai trò chính của SGDNHCSXH bao gồm:

NHCSXH. Thực hiện các nhiệm vụ khác của tổng giám đốc giao.
2.1.3. Khái quát tình hình hoạt động của SGDNHCSXH
2.1.3.1. Tình hình huy động vốn
Tình hình hoạt động huy động vốn của SGDNHCSXH những năm gần đây
được phản ánh tổng quát qua bảng 2.1 như sau:
Bảng 2.1 : Tình hình huy động vốn từ năm 2005 đến 2008
Đơn vị: Tỷ đồng
NGUỒN VỐN 2005 2006 2007 2008
1. Vốn huy động
2.800,8 3.818,1 4.360,1 5.005,8
- Vốn vay NHNN
- Tiền gửi, tiền vay các TCTD khác 3.200,3 3.190,1 4.440
- Tiền gửi 2% của các tổ chức tín dụng
- Tiền gửi của khách hàng 617,8 1.170 565,6
- Vốn tài trợ uỷ thác đầu tư
- Phát hành trái phiếu
- Tài sản nợ khác
2. Nguồn vốn cân đối từ trung ương
12,2 16,03 20,4 20,4
Tổng nguồn vốn
2.813 3.834,1 4.380,5 5.026,2
(Nguồn: Báo cáo tài chính 2005, 2006,2007,2008 của SGDSXH)
Qua bảng 2.1 cho thấy tình hình huy động vốn của SGDNHCSXH những
năm gần đây như sau:
Sở giao dịch được giao nhiệm vụ trọng tâm là công tác huy động vốn. Đây là
một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với hoạt động của toàn hệ thống NHCSXH để
đáp ứng nguồn vốn giải ngân cho các chi nhánh trong cả nước, nguồn vốn huy
động tại Sở giao dịch đều tăng trưởng qua các năm. Nguồn vốn huy động chủ yếu
là từ hai nguồn là tiền gửi và tiền vay của các tổ chức tín dụng khác, và tiền gửi
của khách hàng, còn lại các nguồn khác thì ngân hàng chỉ thực hiện quản lý hộ.

Đến năm 2008 mặc dù tình hình kinh tế có nhiều biến động như lãi suất liên
ngân hàng năm qua không ổn định diễn biến phức tạp và luôn ở mức cao. Bên cạnh
đó sự cạnh tranh gay gắt của các tổ chức tín dụng trên địa bàn bằng hình thức
khuyến mãi để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi nhưng ngân hàng cũng đã tăng được
nguồn vốn huy động Sở giao dịch vẫn nỗ lực cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được
giao. Đến 31/12/2008, tổng nguồn vốn huy động của Sở giao dịch NHCSXH đạt
5005,8 tỉ đồng tăng 14,8% so với năm 2007, hoàn thành 100% kế hoạch Trung
ương giao và đạt chuyên đề huy động vốn.
Biểu đồ 2.1: Diễn biến huy động vốn qua các năm
Qua biểu đồ 2.1 ta thấy dõ hơn tốc độ tăng của nguồn vốn huy động không
cao vào năm 2007 tăng 14,2% so với năm 2006, và năm 2008 tăng 14,8% so với
năm 2007.
Trong cơ cấu nguồn vốn huy động, Sở giao dịch luôn đặc biệt quan tâm chú
trọng đến những nguồn vốn có khả năng huy động với thời hạn dài, ổn định và lãi
suất thấp: đó là các khoản tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của một số đơn
vị như Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng phát triển, Công ty Dịch vụ
Tiết kiệm bưu điện.
Việc ổn định và tăng trưởng nguồn vốn đòi hỏi Sở giao dịch NHCSXH phải
chủ động kế hoạch chi tiết cho các khoản huy động vốn và trả nợ khách hàng khi
đến hạn thanh toán, nhiều khoản tiền gửi của khách hàng có thời hạn ngắn do vậy
để đảm bảo cân đối nguồn vốn, có tháng doanh số huy động lên đến 1.000 tỷ đồng
và có quý lên đến 2.000 tỷ đồng.
Sở giao dịch đạt được những kết quả đáng khích lệ như trên là nhờ sự quan
tâm chỉ đạo sát sao, kịp thời của NHCSXH TW cùng với sự nỗ lực phấn đấu của
tập thể cán bộ viên chức. Sở giao dịch luôn xác định công tác huy động vốn là một
trong các nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị nên đã tích cực tuyên truyền trên các
phương tiện thông tin đại chúng. Đặc biệt vào những thời điểm nhạy cảm như thời
gian chuyển trụ sở Ngân hàng, Sở giao dịch đã liên hệ với đài phát thanh các
phường lân cận để phát bản tin ngắn về NHCSXH vào mỗi buổi sáng và buổi
chiều, cử cán bộ trực tiếp đi phát tờ rơi quảng cáo đến từng địa bàn dân cư để khơi

dư nợ cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ theo dự án KFW.
Năm 2007 Tổng dư nợ cho vay tăng 27,3%, đặt đến mức 20,4 tỉ đồng. Qua
biểu đồ 2.3 so sánh ta thấy hầu như tổng dư nợ cho vay tăng là do hoạt động cho
vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng lên, còn hoạt động cho vay hssv gần như không
thay đổi, vì SGD không cho vay mới mà chỉ thực hiện tiếp các hợp đồng đã kí từ
trước.
Đến năm 2008 thì tổng dư nợ cho vay hầu như không thay đổi, dư nợ cho
vay của cả hai lĩnh vực đều không biến đổi gì nhiều. Tổng dư nợ tính đến
31/12/2008 là 40,4 tỉ đồng và bằng năm 2007.
Ta thấy việc cho vay tại ngân hàng được lấy nguồn từ trung ương giao cho
thì chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn huy động, phù hợp với nhiệm vụ của
ngân hàng trung ương giao cho là huy động vốn để cân đối cho toàn hệ thống là
chủ yếu.
Biểu đồ 2.3: So sánh dư nợ cho vay HSSV và cho vay DNVVN
Qua biểu đồ 2.3 so sánh thì ta thấy dư nợ cho vay chủ yếu vẫn là cho vay
hssv chiếm tỉ trọng lớn mặc dù dư nợ cho vay trong lĩnh vực này không có sự thay
đổi lớn. Và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang tăng rất nhanh gần đuổi
kịp so với dư nợ cho vay hssv vào năm 2008.
Vậy cụ thể sự biến động tình hình cho vay trong hai lĩnh vực cụ thể như
sau:
- Công tác cho vay học sinh viên có hoàn cảnh khó khăn:
Trong thời gian đầu hoạt động, nghiệp vụ cho vay Học sinh sinh viên có
hoàn cảnh khó khăn là hoạt động tín dụng chủ yếu của Sở giao dịch NHCSXH.
Xác định đây là nhiệm vụ chính trị của đơn vị, ngay từ khi tiếp nhận bàn giao từ
Ngân hàng Công thương, lãnh đạo Sở giao dịch đã quán triệt nhiệm vụ đến từng
cán bộ tín dụng, xác định rõ trách nhiệm phải đáp ứng tốt nhất nhu cầu vay vốn của
HSSV, cũng như tìm các biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn
Quỹ tín dụng đào tạo.
Để đẩy mạnh công tác cho vay HSSV, Sở giao dịch NHCSXH đã chủ động
liên hệ, gặp gỡ và trao đổi với các trường Đại học trên địa bàn để tuyên truyền về

phủ, Sở giao dịch đã cử cán bộ xuống làm việc trực tiếp với các Nhà trường thông
qua Phòng Công tác chính trị và quản lý sinh viên để thông báo và tuyên truyền
rộng rãi về một số quy định mới trong công tác cho vay Học sinh sinh viên; chủ
động hướng dẫn HSSV làm thủ tục vay vốn nhanh gọn, các sinh viên đều được giải
ngân theo nhu cầu và với mức vay tối đa là 800.000đ/tháng; trả lời các thắc mắc
của gia đình và sinh viên liên quan đến thủ tục và chế độ vay vốn.
Đến 31/12/2008 thì dư nợ cho vay đạt 11,9 tỉ đồng như vậy dư nợ cho vay
năm 2008 giảm so với năm trước là do doanh số cho vay giảm và việc thu nợ lại
cũng giảm so với năm 2007 nhưng doanh số thu nợ vẫn cao hơn doanh số cho vay.
Bảng 2.3 : Tình hình số lượng HSSV được vay tại sở giao dịch
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
Tổng dư nợ Số sinh viên còn
dư nợ
Dư nợ bình quân trên một
sinh viên trên 1 năm
2005 1.2200 4.411 2,77
2006 12.250 3.227 3,8
2007 12.210 2.659 4,59
2008 11.900 2.278 5,22
(Nguồn : Báo cáo kết quả hoạt động của SGD từ 2005 – 2008)
Qua bảng 2.3 ta thấy số sinh viên còn dư nợ liên tục giảm mạnh qua các năm
trong khi tổng dư nợ thay đổi không đáng kể do đó làm cho dư nợ trên một HSSV
tăng lên khá nhanh. Để đến năm 2008 đáp ứng đủ số tiền vay trên một HSSV là
800.000đ/tháng. Và đến cuối năm 2008 thì dư nợ trung bình trên 1 SV đã đạt tới
5,22 triệu đồng trên năm tức trung bình 522.000đ/tháng học phí đây là do số dư nợ
những năm trước còn đọng lại với mức cho vay trung bình trên một sinh viên thấp.
Vậy tình hình cho vay và thu nợ cụ thể của từng năm như thế nào ta cũng
xem bảng phân tích sau:

thành 99,9% kế hoạch giao, phân bổ đều cả cho vay trung hạn và cho vay ngắn
hạn theo nhu cầu thực tế của khách hàng tại phương án sản xuất kinh doanh và
theo quy định của NHCSXH.
Năm 2008 tổng dư nợ cho vay KFW đạt 8,5 tỉ đồng, tăng 3,6% so với năm
2007 tốc độ tăng tuy không cao nhưng đã tăng nguồn thu nhập cho Sở.
Sở giao dịch đã tiến hành kiểm tra sau khi cho vay đối với tất cả các món
vay đã giải ngân, hiện trạng các tài sản thế chấp, đôn đốc các doanh nghiệp trả lãi,
gốc đúng hạn cho ngân hàng. Các doanh nghiệp được vay vốn đều sử dụng vốn
vay đúng mục đích, có hiệu quả, chấp hành việc trả gốc và lãi đầy đủ.
Bảng 2.5 : Doanh số cho vay và thu nợ DNVVN theo dự án KFW
Đơn vị: tỉ đồng
Chỉ tiêu
Năm
Tổng dư nợ Doanh số cho vay Doanh số thu nợ
2005 0 0 0
2006 3,776 3,776 0
2007 8,167 6,43 2,039
2008 8,513 5,417 5,071
(Nguồn : Báo cáo kết quả hoạt động của SGD từ 2005 – 2008)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status