TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ TẠO LẬP VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1 Khái niệm về vốn
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về vốn, tuỳ theo góc độ nhìn nhận vốn
là một trong những nhân tố có tầm quan trọng quyết định tới mọi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Vốn trong sản
xuất kinh doanh của một doanh nghiệp luôn luôn tồn tại dưới hai hình thức cơ bản
là hình thái giá trị và hình thái hiện vật.
Dưới dạng hình thái giá trị vốn tồn tại dưới dạng hình thái tiền. Đây là hình
thái ban đầu và cũng là hình thái cuối cùng của vốn, bởi vì sau một chu kỳ kinh
doanh vốn kinh doanh lại được thu hồi về dưới dạng ban đầu là tiền theo vòng chu
chuyển T- H- T’.
Dưới dạng hình thái hiện vật: vốn tồn tại dưới dạng hình thái tư liệu sản xuất
như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,…
Đối với sự phát triển của một quốc gia vốn được coi là một trong bốn nguồn
lực của nền kinh tế quốc dân. Đó là nhân lực, vốn, kỹ thuật công nghệ, và tài
nguyên. Như vậy xét trong một quốc gia muốn phát triển nên kinh tế quốc dân
ngoài nhân lực, kỹ thuật công nghệ và tài nguyên thì cần phải có vốn.
Vốn kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài
sản dùng cho kinh doanh:
Về phương diện vật chất vốn bao gồm các loại máy móc, thiết bị, nhà cửa,
kho tàng, vật kiện trúc, vật tư hàng hoá…là các phạm trù gắn với nền sản xuất
hàng hoá.
Vốn có thề là tiền như tiền Việt nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý…Nhưng tiền chỉ
có thể trở thành hàng hoá khi nó được đưa vào lưu thông, sản xuất kinh doanh. tiền
có sự luân chuyển từ hình thái vật chất sang tiền tệ với một lượng lớn hơn và ngày
càng mở rộng.
Ngoài sự tồn tại dưới dạng vật chất nó còn tồn tại dưới dạng là những tài sản
vô hình như quyền sở hữu công nghệ, uy tín của doanh nghiệp, nhãn mác độc
quyền, kinh nghiệm tay nghề, nguồn nhân lực, nguồn chất xám…Những yếu tố này
cũng được coi là vốn.
được tác dụng. Để đầu tư vào sản xuất kinh doanh vốn phải được tích tụ thành món
lớn. Do đó các doanh nghiệp không những chỉ khai thác tiềm năng về vốn của
doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn như nhận vốn liên doanh,
phát hành cổ phần, vay vốn…
Bốn là: Vốn có giá trị mặt thời gian - điều này cũng có nghĩa là phải xem xét
giá trị thời gian của đồng vốn. Có nhiều yếu tố tác động từ lạm phát, sự biến động
của giá cả…
Năm là: Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Mỗi một đồng vốn đều có chủ
sở hữu nhất định . Trong nền kinh tế thị trường không thể có những đồng vốn vô
chủ, ở đâu có những đồng vốn vô chủ thì ở đó sẽ chi tiêu lãng phí, kém hiệu quả.
Ngược lại chỉ khi xác định rõ chủ sở hữu thì đồng vốn mới hiệu quả. Cũng tuy theo
hình thức đầu tư mà người sở hữu vốn có thể đồng nhất với người sử dụng vốn,
hoặc người sở hữu vốn tách khỏi người sử dụng vốn. Song dù trong trường hợp
nào thì người sở hữu vốn vẫn phải được ưu tiên đảm bảo quyền lợi và được tôn
trọng quyền sở hữu vốn của mình. Đây là nguyên tắc huy động và quản lý vốn.
Sáu là: Trong nền kinh tế thị trường vốn phải được quan niệm là một loại hàng
hoá đặc biệt. Những người sẵn có thể đưa vốn vào thị trường còn có những người
khác cần có vốn lại tới thị trường này. Quyền sở hữu vốn không di chyển nhưng
quyền sử dụng vốn được chuyển nhượng qua sự vay, nợ. Người vay phải trả một tỷ
lệ lãi xuất tức là họ phải trả gía cho quyền sử dụng vốn. Như vậy khác với các hàng
hoá thông thường khác hàng hoá vốn khi bị bán đi sẽ không mất quyền sở hữu mà
người sở hữu của nó chỉ mất quyền sử dụng. Người mua được quyền sử dụng vốn
trong thời gian nhất định và phải trả cho người sở hữu vốn một khoản tiền được
gọi là lãi suất.
Bẩy là: trong nền kinh tế thị trường vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền các tài
sản hữu hình mà nó còn được biểu hiện bằng giá trị những tài sản vô hình khác: vị
trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát minh sang chế, bí
quyết công nghệ…Cùng với sự phát triển kinh tế hàng hóa với sự tiến bộ khoa học
kỹ thuật công nghệ thì những tài sản vô hình ngày càng phong phú, đa dạng và
chúng ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra khả năng sinh lời của
điểm của tài sản cố định. Quy mô vốn cố định quyết định quy mô của tài sản cố
định.
Tài sản cố định có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất cùng với
mức độ hao mòn tài sản cố định sẽ có một phần vốn cố định thể hiện qua các chu
kỳ sản xuất tương ứng với giá trị hao mòn tài sản cố định. Đến khi tài sản cố định
hết giá trị sử dụng thì vốn cố định cũng hoàn thành một vòng luân chuyển của nó.
Tài sản cố định còn được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, cũng tuỳ
thuộc vào phương thức quản lý mà doanh nghiệp ứng dụng hợp lý:
Theo hình thái thể hiện: tài sản cố định bao gồm tài sản cố định hữu hình và
tài sản cố định vô hình.
Tài sản cố định hữu hình là những tài sản biểu hiện bằng các hình thái vật
chất cụ thể như nhà xưởng, máy móc thiết bị, đất đai…
Tài sản cố định vô hình là những tài sản không biểu hiện bằng các hình thái
hiện vật cụ thể. Đó là những khoản chi cho phát minh sáng chế, nhãn hiệu thương
mại, các chi phí đầu tư ban đầu cho việc khảo sát thăm dò, chi phí cho việc đào tạo
cán bộ…
Do tài sản cố định có chu kỳ vận động dài do đó sau nhiều năm mới có thể
thu hồi đủ vốn ban đầu đã đầu tư nên đồng vốn luôn bị đe doạ bởi những rủi ro
những nguyên nhân khách quan làm thất thoát vốn. Phân loại tài sản cố định theo
hình thái này giúp doanh nghiệp trong việc quản lý và tính toán khấu hao chính xác
và hợp lý.
Ngoài ra tài sản cố định còn phân loại theo hiện trạng sử dụng: tài sản cố
định chia thành tài sản cố định đang dùng, tài sản cố định chưa dùng và tài sản cố
định chờ thanh lý.
Theo sự phân chia này doanh nghiệp sẽ nắm bắt được tình hình sử dụng vốn
cố định hiện tài cũng như khả năng sử dụng tiềm tàng để có thể điều chỉnh lại cơ
cấu vốn cố định một cách hợp lý tránh tình trạng lãng phí do sự tồn đọng vốn chưa
sử dụng một cách có hiệu quả.
Như vậy: vốn cố định là một bộ phận của vốn sản xuất là biểu hiện bằng tiển
giá trị của tài sản cố định. Nó có thể tham gia toàn bộ hoặc một phần vào quá trình
Vốn được phân chia thành vốn tự có và vốn vay:
vốn tự có( vốn chủ sở hữu):
Vốn tự có là nguồn vốn thuộc sở hữu của các chủ sở hữu doanh nghiệp mà
doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. doanh nghiệp về mặt pháp lý là
người sở hữu nguồn vốn này có toàn quyền sử dụng chúng, tỷ trọng vốn chủ sở
hữu so với tổng nguồn vốn phản ảnh mức độ sở hữu và chủ động của doanh nghiệp
trong kinh doanh.
Ở mỗi loại hình sở hữu doanh nghiệp khác nhau thì nguồn vốn này cũng có
nguồn khác nhau:
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: thì nguồn vốn này là vốn ngân sách, ngân
sách nhà nước cấp một phần vốn ban đầu thì doanh nghiệp bắt đầu hoạt động trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp sau đó, doanh nghiệp có trách nhiệm
bảo toàn và phát triển vốn của ngân sách nhà nước cấp. Bên cạnh đó trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng có thể có được nguồn tài
trợ của nhà nước thông qua việc cấp tài sản như nhà xưởng, máy móc thiết bị…
- Đối với các doanh nghiệp cổ phần: nguồn vốn tự có hình thành từ đóng
góp của các cổ đông bằng việc phát hành và bán cổ phiếu công ty trên thị trường
khi sáng lập công ty. Trong quá trình hoạt động của mình doanh nghiệp cũng có
thể tăng lượng vốn này bằng cách phát hành thêm cổ phiếu ra thị trường…
- Đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn…: nguồn vốn
tự có là phần vốn góp của các chủ doanh nghiệp chủ đầu tư bỏ ra để đầu tư vào
hoạt động sản xuất kinh doanh khi mới thành lập hoặc đầu tư dự án, theo qui định
của pháp luật, số vốn pháp định đối với các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc không thấp hơn tổng vốn đầu tư các dự án nếu dùng để đầu tư
thực hiện dự án.
Vốn nợ( nợ phải trả):
Nếu như với vốn chủ sở hữu chủ doanh nghiệp có thể sử dụng mà không có
sự ràng buộc nào thì vốn nợ là khoản vốn mà doanh nghiệp phải cam kết thanh
toán, doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng vốn trong phạm vi những ràng buộc nhất
vòng chu chuyển của vốn đã hoàn thành.
Trên đây là các cách phân loại vốn cơ bản của doanh nghiệp. Mỗi doanh
nghiệp có thể sử dụng nhiều hình thức phân loại khác nhau tuỳ thuộc vào mục tiêu
quản lý vốn sao cho hợp lý và dễ quản lý nhất.
1.1.3 Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Bất kể một hoạt động nào muốn thực hiện được đều phải có những tiền đề
cơ bản. ví dụ như để nấu được cơm thì trước hết phải có gạo và nước. Và để hoạt
động sản xuất kinh doanh có thể được thực hiện thì trước hết phải cần có vốn.
Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu nhà nước, cá
nhân, tập thể. Sở hữu cá nhân nếu số vốn đó nằm trong công ty tư nhân. sở hữu tập
thể nếu số vốn đó nằm trong công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty cổ phần.
Vốn trong các doanh nghiệp nhà nước hình thành từ nguồn vốn do ngân sách nhà
nước cấp thuộc sở hữu nhà nước. Nhưng dù ở hình thức sở hữu nào thì vai trò của
vốn cũng không thay đổi.
Với mọi doanh nghiệp dù ở hình thức nào thì muốn hoạt động sản xuất kinh
doanh được đều phải có lượng vốn nhất đinh. Đây là điều kiện tiên quyết, quan
trọng nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tuỳ theo loại hình
kinh doanh mà luật qui định doanh nghiệp phải có số vốn pháp định nhất định. Tuỳ
theo nguồn vốn kinh doanh cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp
có các tên gọi khác nhau như: doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…Có vốn doanh nghiệp mới có điều kiện
để trang bị các thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh
như văn phòng, phương tiện hoạt động, … cùng với việc ứng dụng khoa học vào
hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn cũng quyết định đến khả năng đổi mới thiết bị,
công nghệ, phương pháp quản lý,…của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt
động.
Số lượng vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những tiêu thức
quan trọng để xếp doanh nghiệp vào qui mô lớn, hay nhỏ và nó cũng là điều kiện
để sử dụng các tiềm năng hiện có cũng như các yếu tố đầu vào doanh nghiệp. ví dụ
khi doanh nghiệp có ít vốn thì chỉ có thể sử dụng các loại máy móc có công nghệ
Như vậy vai trò của vốn rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp, thực tiễn nền kinh tế trong những năm qua cũng chi thấy doanh
nghiệp nào có lượng vốn càng lớn thì càng có thể chủ động trong kinh doanh.
Ngược lại doanh nghiệp nào thiếu vốn kinh doanh không có chiến lược tài trợ
trước mắt cũng như lâu dài thường đánh mất cơ hội kinh doanh, cũng như vai trò
của mình trên thị trường mất bạn hàng thường xuyên ổn định không tạo ra sức
mạnh và hiệu quả tổng hợp trong kinh doanh.
Nhận biết được vai trò của vốn trong kinh doanh, nhưng để có được lượng
vốn cần thiết thì nhất thiết doanh nghiệp phải có các biện pháp tạo lập hữu hiệu và
phù hợp, đồng thời phải có chính sách sử dụng hiệu quả và hợp lý. Tuy nhiên sử
dụng hình thức tạo lập nào, thời hạn dài hay ngắn, chi phí huy động cao hay thấp…
bắt buộc doanh nghiệp phải luôn có sự cân nhắc, vừa đảm bảo hoạt động sản xuất
kinh doanh, vừa tối thiểu hoá chi phí, hạn chế thấp nhất rủi ro nhằm thực hiện được
các mục tiêu của mình.
Mặt khác mỗi doanh nghiệp đều có các đặc điểm riêng, có những lợi thế
riêng và những hạn chế nhất định. Chính vì vậy mỗi doanh nghiệp phải tự đánh giá
phân tích những ưu và nhược điểm của mình để tìm ra những phương thức tạo lập
vốn phù hợp nhất hiệu quả nhất phát huy khả năng tiểm ẩn và hạn chế những
nhược điểm.
1.2 Tạo lập vốn, các hình thức tạo lập và các nhân tố ảnh hưởng đến việc
tạo lập vốn
1.2.1 Khái niệm tạo lập vốn
Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp và đặc điểm kinh doanh mà mỗi
doanh nghiệp có các phương thức tạo lập vốn khác nhau. Nhưng sử dụng hình thức
nào phù hợp nhất mang lại hiệu quả cao nhất còn là vấn đề khó khăn của mỗi
doanh nghiệp. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt
không chỉ ở thị trường tiêu thụ mà cả ở thị trường vốn, thì vấn đề tạo lập vốn và
phương thức tạo lập vốn trở nên hết sức cấp thiết, luôn được các nhà quản lý đặt
lên hàng đầu. Để giải quyết nó thì trước hết doanh nghiệp phải chủ động, tích cực
tìm kiếm các nguồn để thu hút được một lượng vốn đáng kể cho sản xuất kinh