THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM
2.1 Vai trò và nhiệm vụ của nhập khẩu đối với Việt Nam
2.1.1 Vai trò của nhập khẩu
Nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của Việt Nam trên
các mặt như sau:
Thứ nhất, nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh
thương mại vì thông qua hoạt động nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế 60-100%
nguyên, nhiên vật liệu chính phục vụ cho sản xuất. Trong điều kiện sản xuất
nguyên liệu trong nước chưa phát triển, việc nhập khẩu những nguyên liệu cao cấp
như sợi cho ngành dệt, vải cho ngành may, phân bón cho nông nghiệp, các linh
kiện cho ngành lắp ráp xe hơi, điện tử…Hoạt động nhập khẩu đã và đang góp phần
quan trọng trong việc thực hiện chiến lược công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
hướng về xuất khẩu.
Thứ hai, nhập khẩu tác động mạnh vào quá trình đổi mới công nghệ, trang
thiết bị sản xuất. Qua đó nâng cao trình độ sản xuất và năng suất lao động trong
nước.
Thứ ba, nhập khẩu có vai trò nhất định trong việc nâng cao mức sống, mở
rộng nhu cầu trong nước của người dân. Bởi vì không chỉ cải thiện đồng lương của
đội ngũ nhân viên hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu mà hoạt động này còn cung
cấp các yếu tố đầu vào ( khoa học công nghê, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…)
qua đó thúc đẩy hoạt động sản xuất, giải quyết công ăn, việc làm cho người lao
động. Mặt khác, việc nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng, sách báo, văn hóa phẩm đã
góp phần nâng cao trình độ dân trí , cải thiện đời sống của người dân.
2.1.2 Nhiệm vụ của công tác nhập khẩu
• Đảm bảo kịp thời đầy đủ và đồng bộ nhu cầu về tư liệu sản xuất trong nước.
• Góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
• Bổ sung kịp thời những nhu cầu đời sống trong nước mà hoạt động sản xuất trong
nước chưa đáp ứng kịp.
Trong suốt hơn 20 năm đổi mới kinh tế thì Việt Nam luôn trong tình trạng
nhập siêu, cùng với tiến trình mở cửa theo lộ trình AFTA và WTO thì nhập siêu
ngày càng lớn: năm 2005 nhập siêu 4,5 tỷ USD; năm 2006: 4,8 tỷ USD; năm 2007
Năm 2009 kim ngạch nhập khẩu đạt 69.95 tỷ USD, tăng 16% so với năm
2008. Trong đó kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI đạt 26.07 tỷ USD,
trong đó các doanh nghiệp (DN) trong nước tăng 15,1% và các DN có vốn đầu tư
nước ngoài tăng 14,9%. Nhóm mặt hàng máy móc, thiết bị phụ tùng, nguyên, nhiên
vật liệu phục vụ cho đầu vào sản xuất xuất khẩu sẽ tiếp tục gia tăng, chiếm tỷ trọng
76% với 53.162 tỷ USD. Nhóm mặt hàng bị kiểm soát nhập khẩu bao gồm giấy,
dầu mỡ động thực vật, sản phẩm dầu gốc, gas..., chiếm tỷ trọng 16,7% với 11.68 tỷ
USD. Nhóm hàng hạn chế nhập khẩu bao gồm nguyên phụ liệu thuốc lá, ô tô và
phụ tùng ô tô dưới 12 chỗ ngồi, linh kiện xe gắn máy... sẽ chiếm 7,2%, khoảng 5 tỷ
USD. Châu Á vẫn là thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam, với tỷ trọng
khoảng 75-85%, tiếp theo là EU và châu Mỹ. Trong năm 2009, các biện pháp kiểm
soát nhập khẩu thông qua các biện pháp thuế quan và phi thuế quan đã được áp
dụng mạnh để giảm nhập siêu.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 4/2010 ước tính đạt gần 7 tỷ USD, tăng
3% so với tháng trước và tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng
đầu năm, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 24,8 tỷ USD, tăng 35,6% so
với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 14,6 tỷ USD,
tăng 24,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,2 tỷ USD, tăng 55,6%. Kim
ngạch nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng máy móc, nguyên liệu phục vụ sản xuất
đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng
đạt 4 tỷ USD, tăng 14,8%; xăng dầu đạt 2,2 tỷ USD, tăng 19,6%; vải đạt 1,5 tỷ
USD, tăng 19%; sắt thép đạt 1,6 tỷ USD, tăng 33,9%; điện tử, máy tính và linh
kiện đạt 1,4 tỷ USD, tăng 43,7%; chất dẻo đạt 1,1 tỷ USD, tăng 54,7%; ô tô đạt
825 triệu USD, tăng 57%, trong đó ô tô nguyên chiếc 227 triệu USD, giảm 0,3%;
nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 737 triệu USD, tăng 24,8%; hóa chất đạt
584 triệu USD, tăng 44,9%;
Nhập siêu tháng 4/2010 ước tính 1,3 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng trước và bằng
21,9% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu. Nhập siêu 4 tháng đầu năm đạt 4,7 tỷ
USD, bằng 23,1% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu.
Hình 2.1 Kim ngạch NK của Việt Nam giai đoạn 2000-2009