THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TIẾT VĨ MÔ NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC .
I> Thực trạng quá trình điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường của
ngân sách nhà nước trong các giai đoạn trước .
Giai đoạn từ 1976-1980 : giai đoạn này đất nước đã được giải phóng , hai miền có
hai hệ thống chính trị , kinh tế khác nhau được thống nhất lại . Cơ chế quản lý
kinh tế kế hoạch hoá tập trung được áp dụng trên phạm vi cả nước đã không mang
laị hiệu quả như mong muốn . vì vậy đảng ta đã kịp thời điều chỉnh lại cơ chế
chính sách kinh tế .
Đưa chính sách khoán vào áp dụng trong nông nghiệp
Về chế độ phân cấp ngân sách đã có sự thay đổi nới lỏng dần chế độ quản
lý ngân sách tập chung mở rộng dần quyền hạn quản lý ngân sách cho các địa
phương. Các nguồn thu ngân sách trong giai đoạn này có sự thay đổi về cơ cấu .
+ Thu ngoài nước ngày càng giảm đi trong đó thu viện trợ giảm đáng kể
(22,8$ xuống8%)
+ Thu từ thuế của các xí nghiệp quốc doanh giảm từ 42,1% (1978) xuống
32,1% (1980) do sự điều chỉnh của hệ thống giá cả dẫn đến phải tăng khoản chi bù
giá hàng cung cấp.
+ Thu từ thuế của kinh tế ngoài quốc doanh , nguồn thu thuế công thương
nghiệp ngày càng tăng . Điều đó phản ánh chính sách kích thích phát triển các
thành phần kinh tế khác của nhà nước ta .
Nhà nước vẫn tiếp tục bù giá vào lương cho công nhân viên chức ở xí nghiệp
quốc doanh và bù lổ cho xí nghiệp quốc doanh từ đó làm tăng bội chi ngân sách
tăng lạm phát . Nhưng tiền lương của công nhân viên chức tương đối ổn định .
o Giai đoạn từ 1981-1985:
Cuối năm 1985 do sự đổi tiền dẫn đến hiện tương jlam phát chư a từng thấy
trong những năm sau đó .
Các nguồn thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn này tiếp tục có những
thay đổi về cơ cấu .
+Thu khu vực kinh tế quốc doanh bình quân trong các năm 1981-1985 là
57,9% số thu ngân sách nhà nước trong khi đó bình quân trong thời gian 1976-
phát , mức tăng giá giảm dần và đi vào hướng ổn định , chi bình quân cho tiêu
dùng xã hội trong giai đoạn 1986-1990 so với giai đoạn 1981-1985 giảm 7,8%
tổng ssó chi ngân sách nhà nước , nếu so với tổng ssó thu ngân sách nhà nước bằng
62,26% còn so với thu ngân sách nhà nước bằng 84,25% , riêng chi văn hoá xã hội
bình quân so với giai đoạn 5 năm 1981-1985 tăng 6,7% chi ngân sách nhà nước ,
so với tổng ssố thu ngân sách nhà nước bằng 23,63%tăng 8,1% , còn so với thu
ngân sách nhà nước trong nước bằng 30,04% tăng 11,3%
Nguyên nhân của tình hình trên là do :
Nhà nước bỏ dần chế độ cung cấp tính vào lương phụ cấp , trợ cấp , chi bù
giá hàng cung cấp giai đoạn 1986-1990 giảm 15,5% so với giai đoạn 1981-1985
Do hậu quả của chính sánh giá , lương , tiền và tình trạng sa sút trong nhiều
năm trước đã dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước tăng cao trong những năm đầu
giai đoạn 1986-1990 , cụ thể như sau .
+ Do bội chi lớn nên nhà nước phải thực hiện chính sách phát hành tiền và vay
dân do nhà nước sử dụng chính sách phát hành tiền dẫn đến việc gia tăng lạm
phát . năm1988 nhà nước vay nước ngoài 31,1%số tiền để bù đắp cho thiếu hụt
67,3% từ phát hành tiền 1,6% vay dân
o Giai đoạn 1991-1995:
Do thực hiện từng bước cơ chế kinh tế nhiều thành phần đã phát triển kinh
tế ngoài quốc doanh ỏ nhiều lỉnh vực giải quyết nhiều công ăn việc làm , tăng thu
nhập cho người lao động
Từ cuôi năm 1989 , nhà nước dã thực hiện những chính sách chống lạm phát
có hiệu quả tích cực nên đã góp phần ổn đinhj kinh tế xã hội . Tỉ lệ tăng giá hàng
tháng của các năm 1990 –1991 –1992 và 6 tháng năm 1993 tương đối ổn định .
Trong giai đoạn này , nhà nước thực hiện chính sách đầu tư cho tiêu dùng xã hội .
vì ở tầm quản lý vĩ mô đảng và nhà nước đã xác định rỏ vị trí của chiến lược xây
dựng con người trong mối quan hệ với chiến lược phát triển kinh té xã hội và trong
nghị quyết hội nghị trung ương lần 4 của đãng đã làm rỏ thêm vai trò của chính
sách văn hoá xã hội trong việc thực hiện chiến lựơc con người do điều kiện ổn
định kinh tế từ những năm 1990 đến nay đã tạo tiền đề cho việc đầu tư tăng trưởng
ích lâu dài của nền kinh tế , tăng tích tụ vốn để tái đầu tư các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế
Chi ngân sách nhà nước : đạt 109,3% dự toán năm . điều đáng lưu ý là so với
dự toán thu thì dự toán chi năm nay biến động nhiều hơn . một mặt do thực hiện
chủ chương ”kích cầu “ của chính phủ . do tình hình kinh tế xã hội có những biến
động : thiên tai sảy ra trên diện rộng mà ta chưa lường hết được trong quá trình lập
kế hoạch . mặt khác để điều chỉnh vĩ mô bằng biện pháp tài chính như trợ giá hàng
xuất khẩu , hàng chính sách , hổ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước làm ăn có
hiệu quả . tăng dự trữ thu mua nông sản vào những thời điểm cần thiiết nhằm ổn
định kinh tế xã hội .
Chi đầu tư phát triển tăng 37,8% so với dự toán năm . Số tăng chi này chủ yếu
thực hiện kích cầu thông qua việc bổ sung vốn cho các công trình cơ sở hạ tầng ,
phát triển nông nghiệp , nông thôn , kiên cố hoá kênh mương , xây dựng giao
thông ở các tỉnh miền núi ,vùng cao, vùng sâu và có nhiều khó khăn .Chi thường
xuyên đạt 102,1% dự toán năm . trong đó chú trọng cho giáo dục đào tạo và khoa
học công nghệ như tinh thần nghị quyết, cắt giảm chi quản lý hành chính , đồng
thời bảo đảm kinh phí cho việc cũng cố quốc phòng an ninh đối ngoại và thực hiện
những nhiệm vụ mới phát sinh như khắc phục thiên tai , cứu đói, hoàn thuế cho các
doanh nghiệp , bù tiền điện cho thuỷ nông thuê sửa đường xá, vệ sinh đô thị
Bội chi ngân sách được kiềm chế trong tầm kiểm soát và có tác động đối với
quá trình kích thích tăng trưởng , chống thiểu phát , nâng cao sức mua và khả năng
thanh toán của nền kinh tế . bội chi ngân sách nhà nước năm 1999 là 4,9% . bù đắp
bội chi bằng cách vay trong và ngoài nước . só vay bù dắp bội chi dành toàn bôi
cho phát triển đây là năm thứ 8 chính phủ không phát hành tièen để bù đắp bội chi
II> Đánh giá tình hình điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường của ngân
sách nhà nước từ khi bước sang nền kinh tế thị trường
Từ khi bước sang nền kinh tế thị trường vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước
được nang lên một cách rỏ rệt . Nhà nước đã sử dụng công cụ ngân sách của mình
và công cụ chính sách tài chính tiền tệ để điều tiết nền kinh tế đưa nền kinh tế của
đất nứoc ngày càng phát triển và ổn định . mức thu nhập của người dân ngày càng
phụ thuộc vào nhà nước .Vì vậy cách một chỉ tồn tại vời các nước phát triển .
Đối với cách hai độ rủi ro quá cao và khi xẩy ra rủ ro thì cái giá phải trả là
quá đắt .
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nhà nước ta cần kiểm soát vốn để có thể
từ đó đIều chỉnh mức cung tiền tệ ,điều chỉnh lạm phát ,tỉ giá hối đoái .Chính Phủ
chủ chương khai thác tối đa nguồn vốn trong nước ,chủ yếu là vốn trong dân cư để
bù đắp bội chi ngân sách nhà nước .Từ đầu năm 1991 đến nay bộ tài chính đã phát
hành liên tục các loại tín phiếu ,trái phiếu kho bạc nhà nước .Trước hết nước ta đã
thí điểm ở ba thành phố lớn là Hải Phòng ,Hà Nội thành phố hồ chí minh,dần đần
sẽ mở rộng ra cả nước .
Từ giữa năm 1995 bộ tài chính phối hợp với ngân hành nhà nươc thành lập
và đưa vào hoạt động thị trườngđấu thầu tín phiếu kho bạc .Tạo thêm một kênh
huy động vốn mới cho ngân sách nhà nước đáp ứng tương đối kiệp thời các nhu
cầu chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển ổn định và số liệu này có ý