TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VÀ HỢP
ĐỒNG MUA LẠI TRÁI PHIẾU
I.THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
1.Trái phiếu
1.1.Khái niệm và đặc điểm của trái phiếu
Hiện nay các nhà nghiên cứu tài chính tiền tệ vẫn chưa thống nhất với nhau khái
niệm trái phiếu. Theo từ điển kinh tế Oxford, trái phiếu là những chứng từ hứa trả
những khoản tiền vào những thời điểm nhất định. Theo giáo trình Thị trường
chứng khoán thì trái phiếu là một loại chứng khoán nợ quy định nghĩa vụ của
người phát hành (người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán
(người cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong những
khoảng thời gian cụ thể. Tuy nhiên khái niệm về trái phiếu thường được đề cập
như là một cam kết của người phát hành sẽ thanh toán cho người sở hữu trái phiếu
những khoản tiền xác định bao gồm cả gốc và lãi vào những khoảng thời gian xác
định trong tương lai tuỳ thuộc vào phương thức trả đã được quy định khi phát
hành, trái phiếu thường có mệnh giá, lãi suất và ngày đáo hạn. Khi một nhà đầu tư
mua trái phiếu thì có nghĩa là nhà đầu tư đó đã cho tổ chức phát hành vay tiền.
Trái phiếu có thể được phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất hay phi vật
chất( ghi sổ hay điện tử), tuy nhiên dù theo hình thức nào thì trái phiếu đều bao
gỗm những thông tin sau:
Mệnh giá: là giá trị ghi trên trái phiếu mà tổ chức phát hành cam kết trả cho người
sở hữu trái phiếu và ngày đáo hạn.
Ngày đáo hạn: là ngày mà tổ chức phát hành thanh toán số tiền theo mệnh giá cho
người sở hữu trái phiếu.
Lãi suất: tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh toán cho chủ sở hữu trái phiếu một số
tiền lãi vào một ngày xác định hoặc theo định kỳ. Trái phiếu phát hành với một tỷ
lệ lãi suất danh nghĩa được xác định bởi các điều kiện thị trường tại thời điểm chào
bán trái phiếu. Lãi suất thường được công bố theo tỷ lệ phần trăm (%) so với mệnh
giá của trái phiếu. Lãi suất có thể được quy định trả hàng năm hoặc trả định kỳ. Số
tiền lãi trái phiếu hay còn gọi là trái tức có thể được tính rất dễ dàng bằng cách
nhân mệnh giá với tỷ lệ lãi suất.
được thanh toán trái phiếu . Người sở hữu trái phiếu có thể nắm giữ trái phiếu đến
ngày đáo hạn hoặc có thể bán nó trên thị trường thứ cấp trước ngày đáo hạn.
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu ghi rõ họ tên và địa chỉ người sở hữu trái
phiếu trên bề mặt trái phiếu và trong sổ của tổ chức phát hành. Đặc điểm của trái
phiếu ghi danh là khó chuyển nhượng, trường hợp bị mất có thể xin cấp lại. Đến
ngày nhận tiền lãi đại lý công ty phát hành sẽ gửi séc trả lãi cho người sở hữu trái
phiếu.
Trái phiếu ghi danh được chia làm 2 loại: Trái phiếu đăng ký từng phần và trái
phiếu đăng ký toàn phần.
• Trái phiếu đăng ký từng phần: tên và địa chỉ người chủ sở hữu được ghi lại
với mục đích tiếp nhận mọi văn bản thông báo và để thanh toán vốn gốc vào
kỳ đáo hạn, trái tức sẽ được nhận gửi kèm theo cuống phiếu trả lãi (như trái
phiếu vô danh)
• Trái phiếu đăng ký toàn phần: tên và địa chỉ của người chủ sở hữu được ghi
lại với mục đích tiếp nhận mọi văn bản thông báo và để thanh toán tiền vốn
khi đáo hạn và nhận trái tức. Trái tức được thanh toánkhi có phiếu kiểm tra
của tổ chức phát hành 6 tháng một lần. Một dạng phổ biến của trái phiếu
đăng ký toàn phần là đăng ký trong sổ, dang này không có giấy chứng nhận
sở hữu trái phiếu mà thay vào đó là quyền sở hữu trái phiếu được thể hiện
bằng cách ghi vào trong sổ tên và địa chỉ người sở hữu.
1.2.2. Phân loại theo đối tuợng phát hành
Trái phiếu được phân thành hai loại là trái phiếu chính phủ và trái phiếu công
ty.
1.2.2.1. Trái phiếu chính phủ:
Trái phiếu do chính phủ hoặc chính quyền địa phương phát hành nhằm mục
đích cân đối ngân sách, thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, trái phiếu
loại này được bảo đảm bằng ngân sách quốc gia hoặc ngân sách của chính
quyền địa phương trong trường hợp phát hành trái phiếu chính quyền địa
phương. Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu an toàn nhất, hầu như không có
rủi ro vì có nguồn vốn ngân sách bảo đảm cuối cùng.
hạn (kỳ phiếu), trung và dài hạn. Nhưng thông thường, khi có nhu cầu vốn
ngắn hạn các công ty thường vay vốn qua các ngân hàng hơn là phát hành kỳ
phiếu.
Các loại trái phiếu công ty gồm:
• Trái phiếu có thể mua lại trước hạn: Một số công ty quy định trong
trái phiếu của họ có điều khoản cho phép công ty mua lại trái phiếu
trước khi đến hạn. Thông thường, công ty chấp nhận trả cho người co
trái phiếu theo giá gia tăng (tức là lớn hơn mệnh giá trái phiếu) khi
công ty muốn mua lại trái phiếu đó. Loại trái phiếu này mang lại cho
tổ chức phát hành một lợi thế là công ty có thể chủ động trả lại nợ nếu
thấy không còn nhu cầu vay vốn nữa hoặc trong trường hợp lãi suất
thị trường xuống thấp hơn so với lúc phát hành, tức là giá trái phiếu
tăng lên thì công ty có thể mua lại trái phiếu mình đã phát hành theo
giá thấp hơn như đã định trước và có thể phát hành đợt mới theo lãi
suất thấp hơn. Về phía người mua trái phiếu thì đây là một bất lợi, do
vậy loại trái phiếu này thường phải bán rẻ hơn so với trái phiếu không
có đặc tính này.
• Trái phiếu có thể chuyển đổi: Đây là loại trái phiếu có thể chuyển đổi
tương tự như loại cổ phiếu có thể chuyển đổi. Trái phiếu chuyển đổi
cho phép người sở hữu nó có thể chuyển đổi sang một loại chứng
khoán nhất định, chứng khoán này có thể là cổ phiếu ưu đãi hay cổ
phiếu thường của công ty phát hành (thông thường là cổ phiếu
thường). Nhiều công ty phát hành trái phiếu có thể chuyển đổi vì điều
đó làm cho trái phiếu trở nên hấp dẫn và dễ bán hơn. Đặc tính chuyển
đổi được quy định ngay lúc phát hành trái phiếu và chỉ được chỉnh sửa
lại trong trường hợp tách cổ phiếu hoặc trả cổ tức bằng cổ phiếu.
• Trái phiếu kèm chứng quyền: Đây là loại trái phiếu cho hip người
mua được mua kèm theo quyền mua một số lượng cổ phiếu nhất định
ứng với số lượng trái phiếu nắm giữ với mức giá nhất định trọng một
khoảng thời gian xác định. Cũng như trái phiếu chuyển đổi, đặc quyền
không có phiếu trả lãi thường được bán với mức chiết khấu lớn và kỳ
đáo hạn dài, do vậy sẽ chịu ảnh hưởng lớn bởi biến động lãi suất.
• Trái phiếu seri: Là loại trái phiếu được phát hành một đợt nhưng mỗi
seri có ngày đáo hạn khác nhau, theo định kỳ đều đặn cho đến khi
toàn bộ đợt phát hành được hoàn trả.
• Trái phiếu đầu cơ (speculative bonds hay junk bonds): là loại trái
phiếu do các doanh nghiệp có mứ đọ uy tín thấp phát hành, vì vậy loại
trái phiếu này có rất nhiều rủi ro và phải bán với giá thấp. Thông
thường trái phiếu đầu cơ sẽ đưa ra lợi tức cao hơn các trái phiếu thông
thường khác. Những nhà đầu tư sẽ yêu cầu có thu nhập cao hơn khi
mua trái phiếu đầu cơ vì họ phải chịu nhiều rủi ro hơn.
• Trái phiếu Euro (euro bonds): Trái phiếu châu Âu là loại trái phiếu
được giao dịch bằng ngoại tệ. Những nhà đầu tư nước ngoài khi mua
loại trái phiếu này phải cân nhắc băng cách dự đoán sự biến đổi tỷ giá
vì tiền lãi và vốn đầu tư phải được chuyển đổi sang ngoại tệ.
2. Thị trường trái phiếu
2.1. Khái niệm thị trường trái phiếu
Là một bộ phận của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu là thị trường phát
hành và giao dịch các loại trái phiếu của chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ
chức khác theo quy định của pháp luật. Trái phiếu được phát hành trên thị trường
sơ cấp qua nhiều phương thức khác nhau như bảo lãnh phát hành, đấu thầu.... Sau
đó chúng sẽ được tiến hành giao dịch trên thị trường thứ cấp. Trên thị trường thứ
cấp, các trái phiếu được mua bán giữa các nhà đầu tư và các tổ chức đầu tư thông
qua các nhà môi giới, kinh doanh chứng khoán. Thị trường trái phiếu thứ cấp được
chia làm hai loại là thị trường Sở giao dịch và thị trường OTC.Tại thị trường này
các nhà đầu tư có thể dễ dàng mua bán các trái phiếu trước khi tới hạn thanh toán.
Thị trường Sở giao dịch: trái phiếu được giao dịch trên thị trường có tổ chức có
tính lỏng cao dễ dàng chuyển sang tiền mặt. Trên Sở giao dịch, kết quả yết giá và
giao dịch được công bố trên hệ thống máy tính. Hệ thống này được kết nối với các
thành viên của Sở giao dịch và các tổ chức đầu tư đồng thời được công bố ra công
vào thế kỷ 18 và sau đó là một loạt thị trường tại Pháp, Đức, Ý, một số nước Bắc
Âu và Mỹ cũng được thành lập. Sau một thời gian hoạt động thị trường đã chứng
tỏ khả năng không đáp ứng được yêu cầu của cả ba giao dịch khác nhau, vì thế thị
trường hàng hoá được tách thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được
tách ra và phát triển thành thị trường hối đoái, thị trường chứng khoán động sản trở
thành thị trường chứng khoán.
Là một bộ phận của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu có những đặc
trưng riêng biệt khác hẳn với các thị trường khác vì hàng hoá giao dịch trên thị
trường là các trái phiếu- một loại hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản. Bản
chất của thị trường thể hiện mối quan hệ cung cầu của vốn đầu tư, giá cả của hàng
hoá chứa đựng thông tin về chi phí vốn đầu tư.
2.3. Phân loại thị trường trái phiếu
2.3.1. Phân loại theo thị trường
• Thị trường trái phiếu sơ cấp: Thị trường trái phiếu sơ cấp là thị trường mua
bán lần đầu các trái phiếu mới được phát hành của chủ thể phát hành. Thị
trường sơ cấp còn được gọi là thị trường phát hành hay thị trường cấp một.
Khi có nhu cầu huy động vốn, Chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chức
khác được phép phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật để bán cho