THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - SINGAPORE GIAI ĐOẠN 1995-2001 - Pdf 73

THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM -
SINGAPORE GIAI ĐOẠN 1995-2001
I. VỊ TRÍ CỦA NỀN KINH TẾ SINGAPORE
1. Vị trí của kinh tế Singapore trong kinh tế thế giới và ASEAN
Ba thập kỉ vừa qua, Singapore đã nổi lên như một vùng kinh tế năng động và
là một mẫu mực cho quá trình phát triển kinh tế. Từ một nền kinh tế bị tàn phá
vào giữa thập kỷ 60, chính phủ Singapore đã nỗ lực biến Singapore trở thành
"một quốc gia độc lập có khả năng liên kết mậu dịch và đầu tư với các nước công
nghiệp hàng đầu và là một trung tâm phân phối hàng hoá, dịch vụ và thông tin
thành công trong khu vực"
2
.
Kinh tế chủ yếu dựa vào thương mại và dịch vụ, theo báo cáo của WTO, năm
1997, Singapore là nước có kim ngạch thương mại đứng thứ 13 trên thế giới.
Theo thống kê của TDB - Singapore Trade Development Board - Cục Phát triển
Thương mại Singapore, kim ngạch ngoại thương của Singapore gấp 3 lần GDP và
bằng 4/5 kim ngạch thương mại của Trung Quốc. Năm 2001, vị trí này có giảm
xuống song Singapore vẫn nằm trong tốp đầu của thế giới về kim ngạch ngoại
thương.
Bảng 2.1: Thương mại hàng hoá thế giới năm 2001:
Các nước xuất, nhập khẩu chính
(đơn vị: tỷ USD và %)
2 Lý Quang Diệu, Bí quyết hoá rồng, lịch sử Singapore 1965-2000, NXB trẻ T6/2001
1
1
Thứ
hạng
Nước xuất
khẩu
Giá trị
kim

(a)
60,4 0,9 -20,0
Tái XK 55,6 0,9 -6,0
18 Malaysia 87,9 1,4 -10,0 19 Malaysia 74,1 1,2 -10,0
24 Thái Lan 65,1 1,1 -6,0 22 Thái Lan 62,1 1,0 0,0
28 Indonesia 56,3 0,9 -9,0 37 Philippins 31,4 0,5 -7,0
35 Philippins 32,1 0,5 -19,0 39 Indonesia 31,0 0,5 -8,0
50 Việt Nam 15,1 0,2 4,0 47 Việt Nam 15,6 0,2 2,0

Thế giới 6155,0 100 -4,0 Thế giới 6411,3 100 -4,0
(a) Giá trị nhập khẩu giữ lại được tính bằng tổng giá trị nhập khẩu trừ đi giá trị phần tái xuất.
Nguồn:

Bảng 2.2: Thương mại dịch vụ thế giới năm 2001:
Các nước xuất, nhập khẩu chính.
(Đơn vị: tỷ USD và %)
Thứ
hạng
Nước xuất
khẩu
Giá trị
kim
ngạch
Tỷ
trọng
Tốc độ
tăng,
giảm
Thứ
hạng

Theo thống kê của WTO, năm 2001 xuất khẩu dịch vụ của Châu Á là 302,6 tỷ
đô la, trong đó Singapore chiếm 26,4 tỷ đô la (tức là 8,7%) đứng thứ 5 toàn Châu
Á; tỷ trọng của Singapore trong nhập khẩu là 20 tỷ/355 tỷ USD chiếm 5,6%.
Đứng trong hàng ngũ 10 nước hàng đầu thế giới về công nghệ thông tin và đang
phấn đấu trở thành quốc gia số 1 ở Châu Á về cơ sở hạ tầng và kinh doanh điện
tử, từ thập kỷ 90, sản lượng công nghiệp điện tử của Singapore là 5,2% tỷ trọng
của cả thế giới và tỷ trọng đó hầu như không thay đổi trong những năm gần đây.
Kinh tế Singapore gắn bó với nền kinh tế thế giới đặc biệt là các trung tâm kinh
tế thế giới (Mỹ, Nhật, EU) trong hệ thống phân công lao động quốc tế, và là một
bộ phận trong hệ thống sản xuất, dịch vụ toàn cầu.
Đối với ASEAN, Singapore là quốc gia đầu tầu trong phát triển kinh tế khu
vực Đông Nam Á; là cầu nối của khu vực đối với kinh tế thế giới, Singapore luôn
chiếm một tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất nhập khẩu của các nước
ASEAN và là nhà đầu tư lớn trong khu vực.
Năm 1990, đầu tư của Singapore ở khu vực Đông Nam Á chỉ chiếm chưa đầy
1%. Đến năm 1997, Singapore trở thành nước cung cấp vốn lớn trong khu vực
bên cạnh các cường quốc như Mỹ, Nhật và một số nước Châu Âu. Cũng trong
năm 1997, tổng vốn đầu tư của Singapore vào ASEAN là 8,1 tỷ USD (chiếm
60,3% tổng lượng vốn đầu tư nội bộ khu vực)
3
. Kim ngạch xuất nhập khẩu của
Singapore luôn giữ tỷ trọng khoảng 30% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả
khu vực; bỏ xa các nước như Malaysia, Thái Lan, Indonesia.
Bảng 2.3: Xuất khẩu hàng hoá của các nước ASEAN
(Đơn vị: triệu USD)
Nước 1996 1997 1998 1999 2000 2001 QI -
3 Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái bình dương số 2 (31) 4-2001
3
3
2002

Quan hệ kinh tế song phương giữa Singapore và các nước trong khu vực
ASEAN cũng ngày càng gia tăng. Singapore là bạn hàng lớn thứ 3, là thị trường
xuất khẩu lớn thứ 3 và là thị trường nhập khẩu lớn thứ 2 của Malaisia; cho đến
giữa năm 1997, Singapore là nước đầu tư lớn nhất vào Malaysia với tổng số vốn
9,7 tỷ USD. Với Indonesia, ngoài việc hai nước là bạn hàng truyền thống của
nhau trong quan hệ thương mại, Singapore là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất ở
Indonesia. Tính riêng năm 1999, 13,3% đầu tư nước ngoài của Indonesia là của
Singapore. Trong đó, riêng vùng Batam đầu tư của Singapore chiếm 44%. Sự gắn
bó lẫn nhau giữa Singapore, Malaysia, Indonesia còn thể hiện ở kế hoạch xây
4
4
dựng "vùng tam giác tăng trưởng" Singapore - Johor Malaysia - Riau (nhất là đảo
Batam) Indonesia. Johor và Batam giầu tài nguyên khoáng sản và có nguồn lao
động rẻ tiền sẽ được Singapore đầu tư cơ sở hạ tầng và công nghệ tiên tiến, cung
cấp chuyên gia - những thế mạnh mà Singapore dồi dào khả năng cung cấp
4
.
Lãnh thổ Philippins cũng là nơi các công ty quốc tế của Singapore đặc biệt để
mắt tới. Điển hình là trường hợp của công ty CSE (System and Engineering) đã
mua 43% cổ phần của công ty Internet Infinite Information của Philippin với giá
2 triệu USD. CSE là công ty sản xuất và lắp đặt phần mềm Internet, hiện đang có
mức thu nhập bán hàng với Mỹ chiếm 90%.
Với Thái Lan, ngoài quan hệ thương mại, quan hệ tiểu vùng (Singapore,
Malaysia, Thái Lan) tính riêng năm 1994, Singapore là nhà đầu tư lớn thứ 2 ở
Thái Lan, chiếm 21,1% tổng lượng vốn đầu tư nước ngoài ở đất nước này. Các
dự án đầu tư ở Singapore cũng thể hiện trong nhiều lĩnh vực tài chính; ngân hàng
lớn nhất của Singapore là DBS Bank đã mua cổ phiếu của Thái Lan.
Với Campuchia, những năm gần đây, Singapore đã tăng cường hoạt động
thương mại và đầu tư. Vào năm 1998, tổng kim ngạch buôn bán giữa 2 nước là
595 triệu S$ (345 triệu USD) trong đó Singapore khuyến khích Campuchia xuất

6T/2002 6T/02
so với
6T/01
Tỷ lệ
%
Nghìn USD
Tỷ lệ
%
Nghìn USD
ASEAN 100% 1.165.806 *** ASEAN 100% 2,248,386
Brunei 0.10 1.211 186,0 Brunei **
*
*** ***
Mianma 0.30 3.579 148,7 Mianma 0,12 2.648 67,0
Indonesia 15.44 180.047 125,8 Indonesia 7,81 175.586 110,3
Campuchia 6.95 81.007 119,2 Campuchia 1,28 28.711 167,4
Malaysia 14.26 116.230 102,3 Malaysia 13,10 294.507 134,3
Lào 2.58 30.125 94,2 Lào 0,81 18.150 50,1
Singapore 39.39 459.179 81,4 Singapore 57,10 1.283.815 100,1
Thái Lan 10.15 118.310 72,8 Thái Lan 18,05 405.829 99,8
Philippins 10.82 126.118 59,1 Philippins 1,85 41.524 140,8
Nguồn: Tạp chí Ngoại thương số 21 ngày 31/08/2002, trang 9.
Chú thích: *** không có số liệu
Về đầu tư sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, đầu
tư của các nước ASEAN vào Việt Nam tăng rất nhanh, cả về số dự án lẫn khối
lượng vốn đầu tư. Tổng số vốn đầu tư của ASEAN vào Việt Nam chiếm gần 30%
tổng số vốn đầu tư từ các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới dầu tư vào Việt
Nam trong đó Singapore luôn giữ vị trí số 1 (cả về số dự án lẫn vốn đầu tư).
Năm 1996, lần đầu tiên Singapore đã vươn lên thay thế vị trí số 1 của Đài Loan
trong các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đạt 4,82 tỷ USD tính đến

cải thiện. Đặc biệt năm 1995, với sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN, là mốc
đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ thương mại giữa hai nước; bắt đầu
thời kỳ Singapore trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam.
Quan hệ giữa hai nước phát triển mạnh cả về kim ngạch và cơ cấu các mặt
hàng xuất nhập khẩu, năm 1991, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước là
1.152,2 triệu USD đến năm 1995, con số này là 3.173 triệu USD và luôn giữ
6 Hợp tác Kinh tế Việt Nam - Singapore, Chuyên đề báo Đầu tư, 05/08/2002
7
7
được mức ổn định ở các năm tiếp theo. Năm 1999, do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ khu vực, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Singapore và
Việt Nam giảm xuống còn 2.705 triệu USD; song đến năm 2001, con số này đã
tăng lên 3.535 triệu USD. Nhìn chung, kim ngạch buôn bán hai nước hàng năm
có tăng giảm đôi chút nhưng đánh giá chung vẫn theo xu hướng tăng về số tuyệt
đối. Riêng 6 tháng đầu năm 2002, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam
đối với Singapore là 1.742,994 triệu USD
7
.
Bảng 2.7: Kim ngạch buôn bán của Việt Nam với Singapore
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu với thế giới
( Đơn vị: Triệu USD)
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 6T/2002
KNXK với
Singapore (1)
3.173 3.034 3.280 3.240 2.705 3.645,7 3.535 1.742,94
Tổng KNXNK
(2)
13.604,3 18.399,3 20.777,3 20.896 23.159 30.090 31.100 15.953,883
(1)/(2)(%) 23,32 16,49 15,79 15,54 11,68 12,00 11,37 10,93
Nguồn: (1) Thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam

(%)
1995 636 5.448,9 11,67
1996 614 -3,46 7.255,9 33,2 8,46
1997 807 31,43 9.185,0 26,6 8,79
1998 709 -12,14 9.361,0 1,9 7,57
1999 822 15,94 11.523,0 23,1 7,13
2000 885,7 7,75 14.450,0 2,4 6,13
2001 1.043 17,76 15.100,0 4,5 6,91
6T/2002 459,179 -18,6 7.327,243 -5,6 6,27
* Nguồn: (1) Thống kê tổng cục hải quan Việt Nam
(2) Theo
Theo số liệu thống kê của tổng cục hải quan Việt Nam, năm 1995 kim ngạch
xuất khẩu sang Singapore mới đạt 636 đến năm 2001 đã lên tới 1.043 triệu USD
tăng 407 triệu USD tức là tăng gần 64% so với năm 1995. Năm 1997 là năm có
mức tăng trưởng cao nhất tới 31,43% và tăng cả tỷ trọng trong tổng kim ngạch
xuất khẩu với thế giới. Năm 1998, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền
tệ khu vực, mức giảm của xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Singapore khá lớn
12,14%; song so với tổng kim ngạch xuất khẩu với thế giới, tỷ trọng của
Singapore giảm chút ít từ 8,79% xuống 7,57%. Từ năm 1999, xuất khẩu của Việt
Nam sang Singapore hồi phục mạnh mẽ với mức tăng trưởng cao (trung bình gần
12%/năm) tuy nhiên cột tỷ trọng có chiều hướng giảm xuống. Lý do là kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam với thế giới có mức tăng trưởng lớn hơn. Tuy nhiên, đây
lại là dấu hiệu đáng mừng cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và thương mại nói
riêng. 6 tháng đầu năm 2002, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Singapore
có xu hướng giảm sút so với năm 2001 (chỉ bằng 81,4% so với cùng kỳ năm
ngoái). Lý do là một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang
Singapore gặp khó khăn về khâu chuẩn bị hàng hoá của các doanh nghiệp xuất
khẩu Việt Nam. Ví dụ như mặt hàng gạo, sự phối kết hợp không chặt chẽ giữa
9
9

10
Tương lai, đây là mặt hàng chủ lực trừ khi nhà máy lọc dầu Dung Quất của ta đi
vào hoạt động
9
.
Lạc nhân: Lượng tiêu thụ nội địa không nhiều, chủ yếu tái xuất sang
Indonexia, Philipin, Malayxia. Trong những năm 80 và đầu những năm 90, sản
lượng lạc của ta nhiều và chất lượng tốt, ổn định, giá cạnh tranh nên lượng lạc
tiêu thụ tại Singapore hàng năm khoảng 30.000 tấn giá trung bình từ 600 - 700
USD/tấn C&F, thời điểm cao nhất là 850 USD/tấn. Nhưng những năm qua lượng
lạc của Việt Nam xuất sang thị trường này giảm đáng kể do nhu cầu khu vực và
do chất lượng lạc của ta không đồng đều, độ ẩm cao, hay bị mốc trên đường vận
chuyển, làm phát sinh chất Aflatoxin - tác nhân gây ung thư nên các công ty
không dám mua vì nếu lượng Aflatoxin vượt quá 5 phần tỷ (5 PPB) thì hàng
không được nhập vào Singapore, nếu đã nhập vào thì sẽ bị tịch thu và tiêu huỷ.
Vụ lạc 1998 ta chỉ bán được 7.275 tấn, giá chào thấp nhất tới 560 USD. Tuy
nhiên năm 1999 chúng ta xuất sang thị trường Singapore 11.113 tấn với kim
ngạch 6,129 triệu S$; năm 2000 là 12.345 tấn và 6,640 triệu S$. Tuy nhiên đến
năm 2002 mặc dù khối lượng lên tới 12.053 tấn nhưng kim ngạch giảm xuống
còn 5,664 triệu S$ do bất lợi về giá cả
10
.
Cao su: Singapore nhập cao su sơ chế hoặc phẩm chất thấp để sản xuất hoặc
tái chế để bán sang các nước công nghiệp phát triển như Nhật, Mỹ và Tây Âu.
Giá giao dịch qua sở giao dịch hàng hoá Singapore (SICOM) nhưng chủ yếu dựa
trên giá cả Hội cao su Malaysia. Giá biến động từng ngày, thậm chí từng buổi
trong ngày và theo từng chủng loại. Trong những năm 80 và đầu những năm 90
cao su của ta chủ yếu bán sang thị trường này hoặc qua thị trường này sang nước
thứ ba. Kim ngạch của mặt hàng này từ năm 1995 đến nay chiếm tỷ lệ đáng kể
trong tổng kim ngạch xuất khẩu và biến động lên xuống phức tạp. Năm 1995 là

không hạn chế.
Quần áo, giầy dép: Tuy số lượng bán vào thị trường này ngày một tăng nhưng
cũng không đáng kể và hầu như đều gắn mác của các hãng có tên tuổi trên thế
giới như "Crocodile" hay "Nike". Một số cũng được tái xuất sang thị trường khác.
11 Cục phát triển thương mại SGP - SGP Trade Development Board - TDB
12
12
Từ năm 1995, kim ngạch mặt hàng này luôn đạt mức tăng trưởng cao; năm 1995
kim ngạch chỉ đạt 5,223 triệu S$, sang năm 96 đã là 14,183 triệu S$ tăng 171,5%.
Năm 97 tiếp tục đạt mức tăng trưởng ổn định là 98,6% với kim ngạch lên tới
28,170 triệu. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực, năm 98 xuất
khẩu giày dép sang thị trường Singapore chỉ đạt 22,566 triệu S$, giảm tới 19,9%
so với năm trước; song đến năm 99 đã kịp phục hồi với mức tăng trưởng kim
ngạch là 29,2% vượt mức trước khủng hoảng (29,156 triệu S$) và tiếp tục tăng
23,1% trong năm 2000 đạt 35,885 triệu đô la kim ngạch. Tuy nhiên năm 2001 lại
là năm không thành công khi kim ngạch giảm 8.3% xuống còn 32,880 triệu S$.
Nguyên nhân của sự giảm sút này có thể do kinh tế Singapore năm 2001 đã gặp
suy thoái, đạt mức tăng trưởng âm -2%.
Thủ công mỹ nghệ: Do dân số ít, khả năng và chủng loại của ta không đa dạng
như của Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ nên khó có khả năng tăng kim ngạch tại
thị trường này. Một số do các công ty Singapore mua nhưng lại tái xuất sang
nước khác. Tuy nhiên năm 2001 chúng ta cũng đã xuất được 5,27 triệu S$.
Gạo: Mặt hàng này Singapore chủ yếu nhập khẩu để tái xuất. Kim ngạch xuất
khẩu mặt hàng này tăng khoảng 10 lần trong năm 1996 -1999 (năm 1996 - 4,087
triệu S$, năm 1998 - 9,613 triệu, 1999 - 44,057 triệu S$). Sở dĩ có sự tăng đột
biến là một số lượng lớn được nhập cho Indonesia, Singapore phải đứng ra bảo
lãnh. Tuy nhiên, khách hàng Singapore phàn nàn gạo của ta chất lượng không
đều, nhiều hạt vàng, hay giao thiếu đầu bao nên giá cả khó cạnh tranh với cùng
chủng loại của các nước khác. Do đó năm 2000 kim ngạch giảm 27,8% còn 31,8
triệu S$. Năm 2001 xuất khẩu gạo đã hồi phục tăng 29,3% đạt 40,693 triệu S$.

1995 1996 1997 1998
Mặt hàng Số tuyệt
đối
Tăng
giảm (%)
Số tuyệt
đối
Tăng
giảm (%)
Số tuyệt
đối
Tăng
giảm
(%)
Số tuyệt
đối
Tăng
giảm
(%)
Số tuyệt
đối
12 TDB - SGP Trade Development Board
14
14
1.Dầu thô 252,600 33,6 260,975 3,3 378,215 44,9 386,986 2,3 413,785
2.Gia vị 37,033 4,4 49,997 35,0 64,073 28,2 63,818 -0,4 123,131
3.Cà phê 117,386 -48,9 25,692 -78,1 54,843 113,5 30,601 -44,2 26,066
4.Giầy dép 5,223 345,1 14,183 171,5 28,170 98,6 22,566 -19,9 29,156
5.Cao su 22,032 11,3 8,083 -63,3 16,117 10,4 99,400 -35,5 32,082
6.Cá đông lạnh 7,263 -39,0 7,853 8,1 9,720 23,8 10,507 8,7 15,117

(%)
Tổng KNNK với
TG (2)
Tăng giảm
(%)
Tỷ trọng (1)/
(2)
1995 1.395,42 8.155,4 17,11
1996 1.330,84 -4,63 10.030,0 22,99 13,27
1997 1.360,38 2,22 10.432,0 4,00 13,04
1998 1.392,04 2,33 10.350,0 -0,80 13,45
1999 1.392,86 0,06 10.568,0 2,10 13,18
2000 1.985,78 42,57 14.073,0 33,16 14,11
2001 2.117,70 6,64 16.000,0 13,69 13,24
6T/2002 1.283,644 0,1 8.626,640 10,20 14,88
* Nguồn: (1) TDB - Singapore Trade Development Board
(2) Theo
Từ năm 1995 đến năm 1999, kim ngạch nhập khẩu tăng không đáng kể cả về
số tuyệt đối và số tương đối. Tuy nhiên ở cột tỷ trọng của kim ngạch nhập khẩu
từ Singapore so với tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam với thế giới (giai
đoạn 1995 - 1999) có mức biến động lớn hơn. Lý do là tốc độ tăng trưởng của
kim ngạch từ thị trường Singapore và tổng kim ngạch có sự chênh lệch khá lớn
qua các năm. Cụ thể như năm 1995, nhập khẩu từ Singapore đạt tỷ trọng 17,11%;
1616
nhưng sang năm 1996, trong khi tổng kim ngạch tăng tới 22,99% thì kim ngạch
từ thị trường này giảm 4,63% làm cột tỷ trọng giảm xuống còn 13,27%. Năm
1997 cũng vì lý do trên mà tỷ trọng tiếp tục giảm còn 13,04%. Năm 1998, do ảnh
hưởng của khủng hoảng kinh tế, tổng kim ngạch đã đạt mức tăng trưởng âm; kim
ngạch từ Singapore vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định, mặc dù không cao
(2,3%), nâng mức tỷ trọng lên 13,45%. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế này,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status