TIỀN LƯƠNG VÀ Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA TIỀN LƯƠNG - Pdf 73

TIỀN LƯƠNG VÀ Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA TIỀN LƯƠNG.
1. Khái niệm tiền lương.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng hợp. Nó chịu tác động của nhiều
yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử. Ngược lại tiền lương cũng tác động
đối với phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và ổn đình chính trị xã hội. Chính vì
thế không chỉ nhà nước mà ngay cả người sản xuất kinh doanh người lao động đều
quan tâm đến chính sách tiền lương. Chính sách tiền lương phải thường xuyên
được đổi mới cho phù hợp với điều kiện kinh tế chính trị xã hội của từng nước
trong từng thời kỳ.
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được hiểu một cách thống
nhất như sau:
“Tiền lương dưới chủ nghĩa xã hội là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện
dưới hình thức tiền tệ được nhà nước phân phối có kế hoạch cho các công nhân
viên chức cho phù hợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống
hiến. Tiền lương phản ánh việc trả cho công nhân viên chức dựa trên nguyên tắc
phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động’’
Với quan điểm này ta thấy rằng:
Tiền lương không phải là giá cả sức lao động, vì dưới chủ nghĩa xã hội sức
lao động không phải là hàng hoá cả trong khu vực sản xuất cũng như khu vực quản
lý nhà nước. Tiền lương là một khái niệm thuộc phạm trù phân phối tuân thủ những
nguyên tắc của quy luật phân phối dưới chủ nghĩa xã hội.
Tiền lương được phân phối công bằng theo số lượng và chất lượng lao động
của công nhân viên chức đã hao phí và được kế hoạch hoá từ cấp trung ương đến
cơ sở, được nhà nước thống nhất quản lý.
Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức lao động,
sức lao động được coi là hàng hoá, do vậy tiền lương được coi là giá cả của sức lao
động. Khi phân tích về nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nơi mà các quan hệ
thị trường thống trị mọi quan hệ kinh tế, xã hội khác. Các Mác viết : “ Tiền lương
không phải là giá trị hay giá cả của lao động mà chỉ là một hình thái cải trang của
gía trị hay giá cả sức lao động’’.
Trong quá trình hoạt động, nhất là trong hoạt động kinh doanh, đối với các

Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch
vụ cần thiết mà ngươì lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương
danh nghĩa của họ.
Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế được thể hiện
qua công thức sau:
I
LTT
=
GC
LDN
I
I
Trong đó:
I
LTT
: Chỉ số tiền lương thực tế.
I
LDN
: Chỉ số tiền lương danh nghĩa
I
GC
: Chỉ số giá cả
Như vậy, ta có thể thấy rõ nếu giá cả tăng lên thì tiền lương thực tế giảm đi.
Điều này có thể xảy ra ngay cả khi tiền lương danh nghĩa tăng lên. Đây là một
quan hệ rất phức tạp do sự thay đổi của tiền lương danh nghĩa, của giá cả và phụ
thuộc vào những yếu tố khác nhau. Trong xã hội tiền lương thực tế là mục đích
trực tiếp của người lao động hưởng lương. Đó cũng là đối tượng quản lý trực tiếp
trong các chính sách về thu nhập, tiền lương và đời sống.
2.3. Tiền lương tối thiểu
2.3.1. Tiền lương tối thiểu

1
+ K
2
Trong đó:
K
đc
: Hệ số điều chỉnh tăng thêm.
K
1
: Hệ số điều chỉnh theo vùng.
K
2
: Hệ số điều chỉnh theo ngành.
Khi đó tiền lương tối thiểu tối đa doanh nghiệp được phép áp dụng là:
TL
minđc
= TL
min
x ( 1+ K
đc
)
Trong đó:
TL
minđc
: Tiền lương tối thiểu tối đa doanh nghiệp được áp dụng.
TL
min
: Là mức lương tối thiểu chung do nhà nước quy định cũng là
giới hạn dưới của khung lương tối thiểu.
Như vậy khung lương tối thiểu của doanh nghiêp là TL

phần vào việc nâng cao sức khoẻ chất lượng người lao động và nuôi sống gia đình
họ.
Vai trò kích thích của tiền lương: Tiền lương làm cho người lao độngcó trách
nhiệm trong công việc, tạo ra sự say mê nghề nghiệp, kích thích người lao động
phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, không ngừng học tập để nâng cao trình độ
nghề nghiệp.
Vai trò điều phối lao động của tiền lương: với mức tiền lương thoả đáng
người lao động có thể tự nguyện nhận mọi công việc được giao dù ở đâu, làm gì
hay bất cứ khi nào trong điều kiện sức lực và trí tuệ của họ cho phép.
Vai trò quản lý lao động của tiền lương: Với mức tiền lương thoả đáng người
lao động sẽ làm việc với tinh thần tự nguyện, có ý thức về chất lượng công việc,
hạn chế được tình trạng vi phạm kỷ luật lao động, hạn chế các bất bình trong lao
động và giảm sự luân chuyển lao động trong doanh nghiệp.
II. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC TIỀN LƯƠNG.
1. Yêu cầu của tổ chức tiền lương.
- Bảo đảm tái sản xuất lao động và không ngừng nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho người lao động:
Đây là một yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo thực hiện đúng chức năng và
vai trò của tiền lương trong đời sống xã hội. Yêu cầu này cũng đặt ra những đòi hỏi
cần thiết khi xây dựng các chính sách tiền lương. Một chính sách tiền lương được
coi là hợp lý nếu như nó bảo đảm cho người lao động có được mức thu nhập ổn
định để trang trải cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần. Mặt khác nó phải tạo điều kiện nâng cao trình độ lành
nghề và phát triển cá nhân cho người lao động.
- Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao :
Tiền lương là một đòn bẩy kinh tế quan trọng để nâng cao năng xuất lao
động, tạo cơ sở quan trọng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Do vậy tổ chức tiền
lương phải đạt yêu cầu làm tăng năng suất lao động. Mặt khác đây cũng là yêu cầu
đặt ra đối với sự phát triển, nâng cao trình độ và kỹ năng của người lao động.
- Bảo đảm tính đơn giản, rõ ràng dễ hiểu:

nhưng có mức hao phí sức lao động ( đóng góp sức lao động) như nhau thì được
trả lương như nhau.
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nó bảo đảm được sự công bằng,
bảo đảm sự bình đẳng trong trả lương. Điều này sẽ có khuyến khích rất lớn đối với
người lao động.
Nguyên tắc trả lương ngang nhau cho lao động như nhau nhất quán trong
từng chủ thể kinh tế trong từng doanh nghiệp cũng như trong từng khu vực hoạt
động. Nguyên tắc này được thể hiện trong các thang lương, bảng lương và các hình
thức trả lương, trong chính sách về tiền lương.
Tuy nhiên, dù là một nguyên tắc rất quan trọng thì việc áp dụng nguyên tắc
này và phạm vi mở rộng việc áp dụng trong một nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều
vào trình độ phát triển và tổ chức và quản lý kinh tế xã hội của từng nước trong
từng thời kỳ khác nhau.
Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau bao hàm ý nghĩa đối với
những công việc khác nhau thì cần thiết phải có sự đánh giá đúng mức và phân biệt
công bằng, chính xác trong tính toán trả lương.
ở nước ta hiện nay chúng ta đang phấn đấu cho một xã hội công bằng, văn
minh và tiến bộ, trong đó có công bằng trong trả lương. Trong khu vực hành chính
sự nghiệp các chế độ tiền lương được thống nhất trong các thang bảng lương của
từng nghành, từng hoạt động và từng lĩnh vực. Trong các tổ chức hoạt động kinh
doanh, nhà nước hướng các doanh nghiệp thực hiện tổ chức trả lương theo chính
sách tiền lương và có những điều tiết cần thiết để tiền lương phù hợp với lao động
thực tế bỏ ra trong quá trình làm việc thông qua những cơ chế thích hợp.
Nguyên tắc 2: Bảo đảm năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình
quân.
Năng suất lao động không ngừng tăng lên đó là một quy luật. Tiền lương
của người lao động cũng tăng lên không ngừng do tác động của nhiều nhân tố
khách quan. Tăng tiền lương và tăng năng suất lao động có liên quan chặt chẽ với
nhau. Xét các yếu tố, các nguyên nhân trực tiếp làm tăng tiền lương và tiền lương
bình quân ta thấy tiền lương tăng là do trình độ tổ chức và quản lý lao động ngày

trong quá trình làm việc. Những người làm việc trong điều kiện năng nhọc độc hại
hao tốn nhiều sức lực phải được trả lương cao hơn so với những người làm việc
trong điều kiện bình thường. Sự phân biệt này làm cho tiền lương bình quân trả cho
người lao động làm việc ở những nơi, những nghành có điều kiện lao động khác
nhau là rất khác nhau. Để làm tăng tính linh hoạt trong trả lương, phân biệt theo
điều kiện lao động, người ta sử dụng các loại phụ cấp về điều kiện lao động để trả
cho lao động ở những công việc có điều kiện làm việc rất khác nhau.
Ba là, ý nghĩa kinh tế của mỗi nghành nghề trong nền kinh tế quốc dân:
Nền kinh tế bao gồm rất nhiều ngành khác nhau. Trong từng thời kỳ, từng
giai đoạn của sự phát triển của mỗi nước, một số nghành được xem là trọng điểm
vì có tác dụng rất lớn đến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Các ngành
này cũng cần phải được ưu tiên phát triển. Trong đó, dùng tiền lương để thu hút và
khuyến khích người lao động trong các ngành có ý nghĩa quan trọng, Đó là một
biện pháp về đòn bẩy kinh tế và cần phải được thực hiện tốt. Thực hiện sự phân
biệt này thường rất đa dạng, có thể trong tiền lương cũng có thể dùng các loại phụ
cấp khuyến khích.
Bốn là, sự phân bố theo khu vực sản xuất:
Một ngành có thể được phân bố ở những khu vực khác nhau về địa lý kéo
theo những khác nhau về đời sống vật chất và tinh thần, văn hoá tập quán. Những
sự khác nhau đó gây ảnh hưởng và làm cho mức sống của người lao động hưởng
lương khác nhau. Để thu hút khuyến khích lao động làm việc ở vùng xa xôi, hẻo
lánh, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, phải có chính sách tiền lương thích hợp
với những loại phụ cấp ưu đãi thoả đáng. Có như vậy thì mới có thể sử dụng
hợp lý lao động xã hội và khai thác có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên thiên
nhiên ở mọi miền đất nước.
III. CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG
1. hình thức trả lương theo thời gian.
1.1. ý nghĩa và điều kiện áp dụng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status