Nghiên cứu mô hình lập tiến độ tối ưu cho những dự án xây dựng bao gồm những công tác lặp lại báo cáo tổng kết kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường msđt t ktxd 2010 17 - Pdf 73

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

T.S LƯƠNG ĐỨC LONG

Đề tài:

Nghiên cứu mơ hình lập tiến độ tối ưu cho những dự án xây
dựng bao gồm những cơng tác lặp lại

Chun Ngành : CƠNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG

TP.HỒ CHÍ MINH, 2010


Danh sách các cán bộ tham gia thực hiện đề tài
1.

Lương Đức Long. Tiến Sỹ, Giảng Viên, Chủ nhiệm Bộ Môn Thi Công và Quản lý
Xây Dựng, Khoa KT Xây Dựng, Đại Học Bách Khoa TPHCM ( Chủ trì thực hiện
đề tài).

2.

Dương Minh Tín, Thạc sỹ Xây Dựng (Cộng tác viên).

3.

Lê Thanh Tuyến, KS Xây Dựng (Cộng tác viên).

 

gián đoạn của các công tác cho phép gián đoạn. Thuật toán đề xuất được phát triển thành một
chương trình được viết bằng ngơn ngữ máy tính, và qua đó một số ví dụ minh hoạ được thực thi để
hiện ưu điểm của phương pháp đề xuất so với các phương pháp khác.


MỤC LỤC
1. GIỚI THIỆU...................................................................................................................................  
1.1  Dự án xây dựng nhiều cơng trình ............................................................................................  
1.2  Các vấn đề trong lập tiến độ dự án xây dựng nhiều cơng trình ...............................................  
1.3  Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................................  
2.

LƯỢC KHẢO CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................................................................  
2.1  Giới thiệu ................................................................................................................................. 
2.2  Kỹ thuật lập tiến độ truyền thống ............................................................................................ 
2.3  Kỹ thuật lập tiến độ cho những dự án xây dựng lặp lại........................................................... 

3.  TIẾN ĐỘ DỰ ÁN VỚI CƠNG TÁC CĨ TÍNH CHẤT LẶP LẠI (MỖI CÔNG TÁC ĐƯỢC
THỰC HIỆN MỘT TỔ ĐỘI CHUYÊN NGHIỆP) ............................................................................... 
3.1  Mô tả vấn đề ............................................................................................................................ 
3.2  PHƯƠNG PHÁP LẬP TIẾN ĐỘ NHỮNG DỰ ÁN VỚI NHỮNG CÔNG TÁC LẶP
LẠI (MỖI CÔNG TÁC MỘT TỔ ĐỘI CHUYÊN NGHIỆP THỰC HIỆN).
3.3  Nhận xét................................................................................................................................... 
4. TIẾN ĐỘ DỰ ÁN VỚI CƠNG TÁC CĨ TÍNH CHẤT LẶP LẠI (MỖI CÔNG TÁC ĐƯỢC
THỰC HIỆN BỞI NHIỀU TỔ ĐỘI CHUYÊN NGHIỆP THỰC HIỆN) ............................................. 
4.1  Mô tả mô hình.......................................................................................................................... 
4.2  Mơ tả các thơng số dự án .........................................................................................................  
4.3  Sơ đồ khối tổng quát................................................................................................................  
4.4  Sơ đồ khối xác định tổ đội thực hiện công tác – hàm namecrew(j, Ci)................................... 
4.5  Sơ đồ khối tính tốn ma trận DUij, CUij, Dij và Cij .................................................................. 

một lần nên được xem là công tác khơng lặp lại.
Theo Vorster và Bafna (1992)[5] thì dự án lặp lại chia làm 2 dạng. Dạng đầu tiên là những
cơng tác lặp lại có thời gian thi cơng giống nhau trong tất cả các đơn vị và được thể hiện thành
các đường thằng như hình 1.1. Ví dụ: Một dự án nhà ở trong đó các cơng tác xây dựng nhà ở
được lặp lại trong tất cả các đơn vị của dự án. Trong dạng thứ 2, công tác lặp lại có thời gian thi
cơng khơng giống nhau trong các đơn vị như hình 1.2. Ví dụ: Dự án xây dựng đường cao tốc,
thời gian thi công đào đất ở các công đoạn là khác nhau.
Trong thực tế, thời gian thi công các công tác ở các đơn vị thường khác nhau bởi vì khối
lượng ở các đơn vị khác nhau và năng suất lao động của các tổ đội cũng khác nhau. Ví dụ trong
cơng tác đào đất, khối lượng đào đất trong mỗi đơn vị có thể khác nhau bởi vì địa hình, năng
suất, loại đất ở từng đơn vị khác nhau.
1.2 Các vấn đề trong lập tiến độ dự án xây dựng nhiều cơng trình
Việc lập tiến độ cho một dự án có nhiều đơn vị lặp lại trong đó các cơng tác được thực hiện
bởi một hay nhiều tổ đội là rất phức tạp. Để xác định được thời gian thực hiện của mỗi công tác
cần phải kết hợp việc sử dụng nhiều tổ đội để thi công 1 công tác trong giải quyết các vấn đề sau:
Trong dự án nhiều cơng trình, một tổ đội xây dựng thi công một công tác thường di chuyển
từ đơn vị này đến đơn vị khác. Việc lập tiến độ đòi hỏi đảm bảo cho các tổ đội được làm việc
liên tục tránh thời gian gián đoạn không cần thiết (Ashley 1980, Birrell 1981, El-Rayaes và
Moselhi 1997, Kavanagh 1985 và Reda 1990)[6,7,8,9]. Như vậy, vấn đề thứ nhất ở đây là việc
lập tiến độ phải tối đa hiệu quả việc sử dụng tài nguyên.
Trong dự án xây dựng lặp thường bao gồm cả công tác lặp lại và khơng lặp lại. Mỗi loại cơng
tác này địi hỏi những kỹ thuật tính tốn khác nhau. Đối với những cơng tác khơng lặp lại thì có
thể sử dụng các kỹ thuật lập tiến độ mạng truyền thống. Tuy nhiên, các công tác lặp lại thi yêu

-1-


Báo cáo nghiên cứu đề tài NCKH cấp trường

Mã số: T-KTXD-2010-17

LƯỢC KHẢO CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.

Giới thiệu

Lập tiến độ của dự án xây dựng là rất quan trọng trong cả 3 giai đoạn: trước, đang và đã xây
dựng. Trước khi xây dựng, lập tiến độ để đưa ra thời gian hồn thành và thời gian kết thúc cho
mỗi cơng tác cũng như của cả dự án. Những thông tin này thường phải cung cấp trong giai đoạn
đấu thầu theo quy định của nhiều hợp đồng xây dựng. Hơn nữa, lập tiến độ để xác định những tài
nguyên cần thiết để có kế hoạch cung cấp hợp lý như: vật tư, nhân công, thiết bị và tiền. Trong
khi xây dựng, tiến độ đóng vai trị như là một đường lối chỉ đạo để thực hiện dự án. Điều này
cũng giúp phát hiện sớm những sai lệch và có các giải pháp hợp lý. Sau khi xây dựng, tiến độ khi
lập kế hoạch được so sánh với tiến độ hồn cơng để giải quyết những yêu cầu và tranh luận có
thể nay sinh. Thêm vào đó, phân tích tiến độ khi hồn cơng sẽ cung cấp những dữ liệu giá trị để
sử dụng trong các dự án tương lai.
2.2.

Kỹ thuật lập tiến độ truyền thống

Trong chiến tranh thứ nhất, Henry L.Gantt đã đưa ra tiến độ ngang thể hiện sự liên hệ tiến độ
công việc và thời gian (Antill và Woodhead 1990)[11]. Những công tác được thể hiện bởi những
thanh. Chiều dài của thanh phụ thuộc vào thời gian thực hiện công tác. Tiến độ ngang rất dễ đọc,
dễ hiểu nhưng lại khó cập nhật, khơng thể hiện được mối liên hệ giữa các cơng việc, khó dự báo
được sự tác động của các công việc thay đổi đối với thời hạn hồn thành dự án. Mặc dù sau này
có sự xuất hiện của tiến độ mạng, tiến độ ngang vẫn tiếp tục được sử dụng rộng rãi trong công
việc xây dựng bởi vì nó đơn giản dễ dùng và khơng cần có mối quan hệ qua lại giữa các cơng
việc. Tuy nhiên, vì tiến độ ngang khơng xác lập được mối quan hệ qua lại giữa các công việc nên
mất nhiều thời gian để cập nhật tiến độ. Nếu như có một cơng việc trong tiến độ ngang thay đổi
thì sẽ không tự động điều chỉnh các công việc tiếp theo.

chết.
2.3.

Kỹ thuật lập tiến độ cho những dự án xây dựng lặp lại

Do những hạn chế của kỹ thuật lập tiến độ truyền thống trên, đã xuất hiện một số các phương
pháp lập tiến độ khác áp dụng trong việc xây dựng các dự án lặp lại. Những kỹ thuật này cố gắng
đảm bảo sự làm việc liên tục của tổ đội.
LOB (Line of Balance) được được hải quân Hoa Kỳ phát triển vào năm 1942 để điều hành và
lập kế hoạch thực hiện các dự án giống nhau (Lumsden 1968)[15]. Ban đầu, LOB được áp dụng
vào ngành công nghiệp sản xuất với mục đích là xác định vật liệu và tốc độ cho mỗi giai đoạn
sản xuất để đạt được sản lượng đầu ra yêu cầu. Lập tiến độ cho các dự án lặp lại giống như đối
với một nhà máy sản xuất là duy trì sự hoạt động liên tục của tổ đội. Vào năm 1966, kỹ thuật
LOB được hiệu chỉnh để áp dụng vào xây dựng các dự án nhà cửa trong ngành công nghiệp xây
dựng (trong báo cáo của National Building Agency – programming 1966). Sự phát triển của
LOB được thể hiện ở hình dáng của biểu đồ, ở đó số các căn nhà được thể hiện trên trục tung và
trục cịn lại là thời gian. Các cơng tác lặp lại thể hiện bằng các thanh xiên. Arditi và Albulak
(1979 và 1986) cho rằng một số lượng lớn những người lập tiến độ chỉ sử dụng CPM cho các dự
án khơng lặp lại (non-repetitive project) bởi vì nó khơng hiệu quả khi sử dụng trong xây dựng
các cổng trình lặp lại. Họ kiểm định giả thuyết bằng việc sử dụng cả 2 phương pháp và so sánh
kết quả của 2 kỹ thuật này. Họ kết luận rằng phương pháp lập tiến độ LOB tốt hơn cho những dự
án loại này về thời gian thi công và đảm bảo sự làm việc thuận lợi cho các tổ đội. Tuy nhiên,
LOB dẽ bị lỗi khi đánh giá thời gian hoàn thanh và mức độ chi tiết của LOB phải được đánh giá
cẩn thận - đối với những sơ đồ thể hiện q nhiều các cơng tác thì khó có thể hiểu được. Thêm
vào đó, họ chỉ ra rằng khó khăn chủ yếu khi chuẩn bị vẽ biểu đồ LOB là thể hiện các cơng tác
gối đầu có tiến độ tương tự nhau và đề nghị sử dụng những màu khác nhau để thể hiện các công
tác này. Một giải pháp khác được Mansur (1989) và Hegazy et al (1993) sử dụng là chia LOB ra
làm 2 phần (ví dụ: phần trên và phần dưới). Thể hiện các công tác lặp lại ở phần trên và những
công tác không lặp lại ở phần dưới. Làm như vậy sẽ tránh được sự chồng lên nhau của các công
tác xảy ra trong cùng một thời gian. Al sarraj (1990) đưa ra một công thức tốn học cho LOB để

ất
øo đ
a
Đ

3
2
1

6
5
4

La
øm

6
5
4

Đơn vị lặp lại

Thời gian (ngày)
10

20
30
Phương pháp LOB

3

tổ đội thi cơng hoặc các thiết bị khơng được xem là các biến có thể biến đổi [26].

-5-


Báo cáo nghiên cứu đề tài NCKH cấp trường

Mã số: T-KTXD-2010-17

3. TIẾN ĐỘ DỰ ÁN VỚI CƠNG TÁC CĨ TÍNH CHẤT LẶP LẠI (MỖI
CÔNG TÁC ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI MỘT TỔ ĐỘI CHUYÊN NGHIỆP)
3.1.

MÔ TẢ VẤN ĐỀ

Một dự án thường bao gồm nhiều công tác và những công tác này thường được lặp lại trong
nhiều đơn vị, mỗi đơn vị lặp của dự án được mơ hình như một mạng công việc trên nút, với tập
N nút dùng để biểu diễn N công tác trong mỗi đơn vị lặp, những cơng tác (i) (ở đây i=1,..,N) này
có quan hệ logic (ví dụ: kết thúc-bắt đầu, bắt đầu-bắt đầu), và mạng này được lặp lại Q lần tương
ứng với Q đơn vị trong dự án. Tài nguyên đuợc yêu cầu cho mỗi công tác sẽ di chuyển từ đơn vị
thứ nhất (j=1) đến đơn vị cuối cùng (j= Q) để thực thi cơng tác đó. Thời gian thực hiện (dij) mỗi
phần khối lượng công việc của công tác (i) ở mỗi đơn vị (j) có thể khác nhau, bởi vì khối lượng
công việc của công tác (i) ở đơn vị (j) là có thể khác nhau.
Những cơng tác được chia làm 2 kiểu, loại kiểu {X} và loại kiểu {Y}. Theo nguyên tắc sau:
1. Nếu một công tác là loại X, thì cơng tác này phải được thực thi một cách liên tục.
2. Nếu một cơng tác là Y, thì cơng tác này có thể cho phép sự gián đoạn trong việc thực thi.
Việc phân loại công tác là X hay Y được quyết định bởi người quản lý dự án, dựa theo tính
chất của từng cơng tác để thỏa mãn yêu cầu kỹ thuật và tổ chức của dự án (ví dụ, cơng tác chống
vách khi đào một đường hầm nên được làm liên tục không gián đoạn-chọn loại X).
Công

N
Bảng 1: Thời gian để hồn thành cơng tác (i), ở đơn vị (j )

2
Đơn vị 1

4
6

1
3

5
2

Đơn vị 2

4
6

1
3

5

Hình 3.1: Ví dụ của một mạng công tác trên nút dùng để biểu diễn một đơn vị
lặp gồm 6 công tác (N=6) trong một dự án gồm 2 đơn vị lặp (Q=2).

-6-



i, j

j =1

+ Max

Fi ( jq ) = Si ( jq ) + d i ( jq )
ƒ
ƒ
ƒ

j=1,..,jq,…,Q . Ở đây, jq là đơn vị lặp (tầng) đang xem xét.
Công tác t là công tác đứng trước của công tác (i).
lagt,i là thời gian chờ đợi để thực hiện công tác (i) sau khi cơng tác (t) kết thúc (lagt,i
≥0,≤0,=0)

Hình 3.2: Lập tiến độ cho những công tác loại {X} ở giai đoạn 1

* Trong trường hợp công tác (i) không cần được thực hiện tại đơn vị (j), tức là di,j = 0 thì
S i , j q = Max { 0 , F t , j q }
t ∈ {P }

-7-


Báo cáo nghiên cứu đề tài NCKH cấp trường

Mã số: T-KTXD-2010-17



-

2

2

4

4

2

2

X

2

1

1

1

1

1

1


3

3

3

3

X

5

3FS

1

1

1

1

1

1

X

6

a. Backward Step
Mục tiêu của Backward Step là cực tiểu hóa tổng thời gian gián đoạn không cần thiết trên
những công tác loại Y (loại công tác cho phép sự gián đoạn) bằng việc cố định thời điểm bắt đầu
của công tác loại Y ở đơn vị cuối cùng, và thực hiện việc đẩy các cơng tác về phía sau.
“Backward step” sẽ cực tiểu hóa số tổng ngày gián đoạn trong những cơng tác loại Y, trong khi
vẫn giữ thời gian hoàn thành dự án là không đổi.
b. Forward Step
Đối với mỗi công tác loại Y, ta cố định thời điểm bắt đầu tại đơn vị 1, và sau đó thực hiện
việc đẩy cơng tác về phía trước. Nếu sau khi đẩy cơng tác ở phân đoạn jq về phía trước, mà nó

khơng nối tiếp với thời điểm kết thúc của công tác này ở phân đoạn jq-1, thì phương pháp khơng
thực hiện việc dịch chuyển này ( Si, jq ≠ Fi , jq −1 ). Và ngược lại nếu ( Si, jq = Fi , jq −1 ), thì phương
pháp sẽ thực hiện việc dịch chuyển này. “Forward step” sẽ cực tiểu hóa số lần gián đoạn trong
mỗi công tác.
Bằng việc áp dụng phương pháp đề xuất cho ví dụ ở bảng 2, ta có thời gian hồn thành dự án
là 30 ngày, và tổng thời gian gián đoạn là 1 ngày như được minh họa ở Hình 5.

Hình 3.5: Tiến độ cuối cùng của dự án sau khi thực hiện giai đoạn 2.

Để kiểm chứng sự hữu hiệu của mơ hình đề xuất, tác giả đã so sánh kết quả với phương pháp
RSM của Harris (1998). Theo phương pháp RSM của Harris, thời gian hoàn thành dự án là 30
ngày, và tổng thời gian gián đoạn là 3 ngày, như được minh họa ở Hình 6. Từ kết quả này, ta có
thể thấy rằng mơ hình đề xuất là hữu hiệu hơn phương pháp của Harris do có cùng thời gian hồn
thành dự án (30 ngày), nhưng tổng thời gian gián đoạn là bé hơn (1 ngày
4. TIẾN ĐỘ DỰ ÁN VỚI CƠNG TÁC CĨ TÍNH CHẤT LẶP LẠI (MỖI
CÔNG TÁC ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI NHIỀU TỔ ĐỘI CHUN NGHIỆP
THỰC HIỆN)
4.1.

Mơ tả mơ hình

Lập tiến độ một dự án có Q đơn vị và mỗi đơn vị có M cơng tác. Khối lượng của các cơng tác
trong các đơn vị có thể giống hoặc khác nhau hoặc khơng có (mỗi đơn vị có thể lặp lại tồn bộ
hay một phần trong M cơng tác). Và mỗi cơng tác có thể được thực hiện bởi một hay nhiều tổ
đội, và các công tác được phân ra làm 2 loại: loại X alpha (không cho phép sự gián đoạn), loại Y
beta (cho phép dự gián đoạn)[10].Vậy ta có:
M: số cơng tác trong dự án và có thể lặp lại toàn bộ hay một phần trong Q đơn vị của dự án.
Giữa các cơng tác có sự ràng buộc lẫn nhau.
Q: số đơn vị của dự án (Ví dụ: số căn nhà trong một dự án nhà ở).
Ci: số tổ đội cùng thực hiện công tác thứ i
Wij: khối lượng công việc của công tác i đơn vị j
DUij: thời gian thực hiện một đơn vị công việc của cơng tác i ở đơn vị j.
CUij: chi phí thực hiện một đơn vị công việc của công tác i ở đơn vị j.
Từ các thơng số trên, mơ hình tính tốn phải tìm ra được thời gian bắt đầu và thời gian kết
thúc của từng công tác và chi phí của dự án.
Ví dụ cụ thể về dữ liệu đầu vào của một dự án:

Hình 4.2: Các thơng số về dự án
Cột Act: thứ tự công tác
Cột Predecessors: ràng buộc công tác đứng trước

-11-




... DQM ⎫
... ⎪⎪

DiM ⎬
... ⎪

... D1M ⎭⎪

Tương tự ta có ma trận: Wij, Cij, ESij, EFij. Trong đó:
+ Ma trận DUij và CUij là thời gian và chi phí thực hiện một đơn vị khối lượng của cơng tác i
ở đơn vị j.
+ Ma trận Wij là khối lượng nhập vào của từng công tác.
+ Ma trận Cij là chi phí thi cơng từng cơng tác.
+ Ma trận ESij là thời gian bắt đầu thực hiện công tác.

-12-


Báo cáo nghiên cứu đề tài NCKH cấp trường

Mã số: T-KTXD-2010-17

+ Ma trận EFij là thời gian kết thúc của công tác.
4.3. Sơ đồ khối tổng quát

B A É T Đ A ÀU
Tính toán m a trận
D ij , C ij , Wij
Tính ESij và EFij


Báo cáo nghiên cứu đề tài NCKH cấp trường

Mã số: T-KTXD-2010-17

Giai đoạn 1:
Cố định ESij cuối cùng mà tổ đội thực hiện. Sau đó dịch chuyển các cơng tác ở các đơn vị
đứng trước có cùng tổ đội với nó về phía trước. Tuy nhiên vẫn thỏa mãn các ràng buộc giữa các
công tác.
Giai đoạn 2:
Cố định ESij đầu tiên mà tổ đội thực hiện. Sau đó nếu dịch chuyển các cơng tác ở các đơn vị
đứng sau có cùng tổ đội với nó về phía sau mà làm cho liên tục được thì dịch chuyển.
Sau đây là các mơ hình cụ thể:
4.4.

Sơ đồ khối xác định tổ đội thực hiện công tác – hàm namecrew(j, Ci)

Trong đề tài này ta quy định tổ đội 1 thực hiện công tác i ở đơn vị 1, tổ đội 2 thực hiện công
tác i ở đơn vị 2. Tổ đội Ci thực hiện công tác i ở đơn vị k (Ci là số tổ đội cùng thực hiện công tác
i) và ở đơn vị Ci+1 thì tổ đội 1 sẽ thực hiện cơng tác i.
Ta có sơ đồ khối để xác định tổ đội thực hiện cơng tác như sau:

BẮT ĐẦU

Đúng

Sai

j mod Ci = 0


DUij = d namecrew
CU ij = c namecrew
D ij = DUij x Wij
C ij= CU ij x W ij
i=i+1
Đún g

i
vòng lặp thứ 3 chỉ áp dụng đối với các cơng tác có ràng buộc về cơng tác đứng trước.
Sau đây là hình minh họa của một dự án sau khi chạy xong bước 1 (lấy dữ liệu đầu vào như
hình 3.1 và hình 3.2). Ta thấy công tác 1, 4, 5 không được gián đoạn (X alpha) nhưng do giả
thiết ở bước này tất cả các công tác đều là Y beta. Và thời gian thực hiện là 124.09 ngày.

-16-


Báo cáo nghiên cứu đề tài NCKH cấp trường

Mã số: T-KTXD-2010-17

B A É T Ñ A ÀU
j =1
i =1

S o á c o â n g ta ùc
đ ư ù n g t r ư ơ ùc c o ân g ta ùc i
ơ û đ ơ n v ị j b a èn g 0

Đ u ùn g

EFpj là thời gian kết thúc của công tác
đứng trước thứ k của công tác i ở đơn vị j

Sai
k =1

E F pj > E S


EFcj là thời gian kết thúc của công tác i

Đ u ùn g

ở đơn vị trước đơn vị j và có cùng tổ đội thi công với đơn vị j

Sai

Sai

K E Á T T H U ÙC

Hình 4.7 : Sơ đồ khối tính tốn theo bước 1

-17-


Báo cáo nghiên cứu đề tài NCKH cấp trường

4.7.

Mã số: T-KTXD-2010-17

Sơ đồ khối tính tốn ESij và EFij theo bước 2

BẮT ĐẦU

l=Q

i =2

l=l-1
Đúng

l>0
Sai
k= k + 1

Đúng

k < C i+ 1
Sai

Đúng

j=j+1

Max=EFil
Đúng

j
k=namecrew(j,Ci). Nếu đúng thì gán EFij=Max-D và ESij=EFij-Dij, sau đó ta chạy lại tồn
bộ bước 1, đây là bước quan trọng vì khi ta dịch chuyển thời gian của cơng tác theo tổ đội
thì có thể phá vỡ ràng buộc kỹ thuật của công tác. Tiếp theo ta tính D=D+Dij. Sau đó kiểm
tra điều kiện kết thúc của vòng lặp, cứ như vậy cho đến khi thực hiện hết tất cả các vòng
lặp.
Trong sơ đồ khối này ta có 3 vịng lặp chính là vịng lặp về cơng tác, vịng lặp về đơn
vị của dự án và vòng lặp về tổ đội và trong 3 vòng lặp chính này vịng lặp về đơn vị của dự
án được lặp lại 2 lần.
Xét ví dụ minh họa ta thấy thời gian thực hiện tăng lên từ 124.09 đến 143.64 và các
cơng tác 1, 4, 5 khơng cịn gián đoạn nữa. Như vậy khi các công tác liên tục thì thời gian
thực hiện dự án sẽ tăng lên.

Hình 4.9 : Ví dụ sau khi xử lý xong bước 1

-19-


Báo cáo nghiên cứu đề tài NCKH cấp trường

Mã số: T-KTXD-2010-17

Hình 4.10:Ví dụ sau khi xử lý xong bước 2

Hình 4.11 : Sau khi thực hiện bước 3 (bước cuối cùng)

-20-



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status