CÁC LÝ THUYẾT QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VỊ THẾ XÃ HỘI - Pdf 73

CÁC LÝ THUYẾT QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VỊ THẾ XÃ HỘI
1.1. Lý thuyết vị thế - vai trò:
Lý thuyết vị thế - vai trò cho phép nghiên cứu hành vi của cá nhân trong hệ
thống những cấp độ cá nhân - nhóm xã hội.
Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và quyền lợi
kèm theo. Nói cách khác, vị thế xã hội chính là một khái niệm tổng hợp nhằm
chỉ vị trí xã hội cùng với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng với các vị trí
đó. Mỗi một cá nhân trong xã hội đều có những vị trí nhất định ngay từ khi sinh
ra và hình thành những chức năng cụ thể với quyền và nghĩa vụ phù hợp. Chính
những quyền và nghĩa vụ cao, thấp khác nhau của các vị trí xã hội sẽ tạo ra thứ
bậc của chúng. Nếu xem xét vị trí xã hội một cách độc lập với những quyền và
nghĩa vụ tương ứng thì chúng ta không thể xác định được hay so sánh được thứ
bậc cao thấp giữa các vị trí xã hội của các cá nhân bởi khi tách ra như vậy thì
các cá nhân lại ở những vị trí xã hội tương đồng. Mỗi một xã hội, mỗi một nền
văn hoá lại có những cách nhìn nhận của riêng mình về các vị trí xã hội của cá
nhân. Những cách nhìn nhận đó sẽ xác định các quyền lợi và trách nhiệm nhất
định được thực hiện song song với nhau ở mỗi một vị thế xã hội. Mỗi một cá
nhân có nhiều vị trí xã hội do vậy cũng có nhiều vị thế xã hội.
Cá nhân có thể có vị thế đơn lẻ nếu xuất phát từ một vị trí xã hội bất
kì trong cơ cấu xã hội và quyền hạn, trách nhiệm tương ứng với vị trí xã hội đó.
Cá nhân có thể có vị thế tổng quát bao gồm các vị thế cơ bản mà cá nhân có.
Các vị thế xã hội còn được chia thành 2 loại: Vị thế gán cho và vị thế
đạt được. Trong đó, vị thế gán cho liên quan đến những gì mà xã hội thừa nhận
đối với cá nhân đó ngay từ khi nó tham gia vào cấu trúc xã hội và không phụ
thuộc vào việc cá nhân đó có chấp nhận hay không. Đó là những yếu tố tự nhiên
bẩm sinh như: tuổi, giới tính, chủng tộc, dòng họ, thành phần xuất thân. Ví dụ:
người già có vị thế cao hơn người trẻ tuổi, người phụ nữ được coi là có vị thế xã
hội thấp hơn người nam giới, người da đen có vị thế thấp hơn người da trắng . . .
Vị thế xã hội của những người già, người trẻ, phụ nữ, nam giới, người da đen
hay da trắng ngay từ khi sinh ra đã được xã hội quy gán tuỳ thuộc vào quan
niệm hay cách nhìn nhận về vị trí xã hội của họ.

Cơ cấu xã hội hay cấu trúc xã hội bao gồm nhiều thành phần khác nhau
trong một hệ thống xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Xã hội mà chúng ta
đang sống cũng được xem như một hệ thống có cấu trúc nhất định bao gồm nhiều
nhóm xã hội vi mô khác nhau có mối liên hệ tác động, ảnh hưởng, chi phối lẫn
nhau. Mỗi một nhóm xã hội vi mô lại có một cơ cấu riêng của nó, thực hiện những
chức năng riêng biệt trong sự thống nhất chức năng chung của cả xã hội tổng thể.
Cơ cấu xã hội được phân chia ở hai cấp độ khác nhau. Nếu tiến hành phân chia ở
cấp độ vĩ mô nghĩa là ta đang phân chia xã hội tổng thể ra thành nhiều nhóm xã hội
khác nhau.
Còn ở cấp độ vi mô ta lại tiếp tục phân tích từng nhóm xã hội, từng bộ
phận, thành phần của xã hội tổng thể mà ta vừa chia được thành những cơ cấu xã
hội nhỏ hơn. Với cách tiếp cận này ta có thể áp dụng để phân tích cơ cấu gia đình
bởi gia đình cũng được coi là một nhóm xã hội trong cơ cấu xã hội tổng thể, cũng
có một cấu trúc nhất định và thực hiện những chức năng riêng trong sự thống nhất
chức năng chung của toàn xã hội.
Giữa cấu trúc và chức năng có mối liên hệ tác động qua lại với nhau một
cách chặt chẽ bởi chức năng là phương thức thực hiện hoạt động sống của cả cấu
trúc. Chức năng được thực hiện để thoả mãn nhu cầu, để bảo đảm cho cơ cấu ổn
định và phát triển. Có thể nói chức năng chính là mặt động của cấu trúc, thực hiện
tốt chức năng sẽ duy trì được cấu trúc. Ngược lại, cấu trúc cũng có những ảnh
hưởng nhất định đến việc thực hiện chức năng. Những biến đổi của cấu trúc có thể
thúc đẩy hoặc cản trở việc thực hiện chức năng. Nói tóm lại, sự biến đổi nào của
cấu trúc cũng dẫn đến sự biến đổi của chức năng và sự biến đổi nào của chức năng
cũng dẫn đến sự biến đổi của cấu trúc.
Cấu trúc và chức năng không phải là một phạm trù bất biến mà nó biến đổi
hay duy trì phụ thuộc vào nhiều yếu tố xã hội. Chức năng phụ thuộc vào chính
những yếu tố quyết định nhu cầu, đó là: khả năng của các cá nhân, bối cảnh Kinh
tế - Xã hội - Văn hoá hay các giá trị, chuẩn mực bởi chức năng được thực hiện
nhằm để thoả mãn nhu cầu.
Cấu trúc xã hội muốn duy trì trước hết phụ thuộc vào sự biến đổi xã hội. Sự biến

không có cái nhìn thiên lệch về giới nào. Từ đó, ta có thể đưa ra các giải pháp,
khuyến nghị hữu hiệu nhằm thiết lập sự bình đẳng giới trên mọi mặt, phát huy
năng lực, khả năng sáng tạo của cả hai giới đóng góp vào sự phát triển chung của
đất nước.
II. HỆ THỐNG KHÁI NIỆM CƠ SỞ:
2.1.Khái niệm gia đình:
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về gia đình trong đó có một định nghĩa
được nhiều nhà Xã Hội Học thừa nhận, đó là:
“Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân,
quan hệ huyết thống hoặc được nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ. Các
thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về quyền lợi và trách nhiệm, giữa họ có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status