BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TỐNG NGỌC LÂM
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN SỬ DỤNG NHÀ TIÊU HỢP VỆ SINH Ở NGƯỜI DÂN
TỘC THIỂU SỐ DI CƯ, XÃ LONG SƠN, HUYỆN ĐĂK MIL,
TỈNH ĐĂK NÔNG, NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
Hà Nội-2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TỐNG NGỌC LÂM
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
ĐẾN SỬ DỤNG NHÀ TIÊU HỢP VỆ SINH Ở NGƯỜI DÂN
TỘC THIỂU SỐ DI CƯ, XÃ LONG SƠN, HUYỆN ĐĂK MIL,
TỈNH ĐĂK NÔNG, NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI THỊ TÚ QUYÊN
TS. VŨ THỊ THU HẰNG
Hà Nội-2019
CHƯƠNG 2.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...............20
2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................20
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................20
2.3. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................20
2.4. Cỡ mẫu ...............................................................................................................21
2.4.1. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng ................................................................21
ii
2.4.2. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính ...................................................................21
2.5. Phương pháp chọn mẫu ......................................................................................21
2.5.1. Chọn mẫu nghiên cứu định lượng ...................................................................21
2.5.2. Chọn mẫu định tính:........................................................................................21
2.6. Phương pháp và cơng cụ thu thập số liệu nghiên cứu........................................22
2.6.1. Công cụ thu thập số liệu..................................................................................22
2.6.2. Phương pháp thu thập số liệu: ........................................................................23
2.6.3. Quy trình thu thập số liệu................................................................................24
2.7. Các biến số nghiên cứu ......................................................................................25
2.7.1. Nhóm biến đặc điểm dân số học .....................................................................25
2.7.2. Nhóm biến về việc thực trạng tiếp cận Nhà tiêu hợp vệ sinh ..........................25
2.7.3. Nhóm biến về thực trạng sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh .................................25
2.7.4. Nhóm biến về điều kiện tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh .................25
2.8. Các khái niệm, Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá ..................................................27
2.8.1. Tiêu chí đánh giá Nhà tiêu hợp vệ sinh...........................................................27
2.8.2. Tiêu chí đánh giá kiến thức chung ..................................................................28
2.8.3. Tiêu chuẩn đánh giá kinh tế hộ gia đình .........................................................29
2.9. Phương pháp phân tích số liệu ...........................................................................29
4.2.1. Chính sách của nhà nước trong việc hỗ trợ tiếp cận và sử dụng NT HVS .....53
4.3. Những hạn chế trong nghiên cứu: ......................................................................56
5. 1. Kết luận .............................................................................................................57
5.1.1. Thực trạng tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân tộc thiểu
số tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông, năm 2019 ...............................57
5.1.2. Yếu tố liên quan đến tiếp cận và sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân
tộc thiểu số tại xã Long Sơn, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông ..................................57
KHUYẾN NGHỊ......................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................60
PHỤ LỤC .................................................................................................................64
Phụ lục 1: Tổng hợp kết quả đánh giá các loại nhà tiêu hộ gia đình ........................64
Phụ lục 2: PHIẾU ĐIỀU TRA HGĐ ........................................................................69
Phụ lục 3: BẢNG KIỂM NHÀ TIÊU ......................................................................73
Phụ lục 4. HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU VÀ THẢO LUẬN NHÓM ...........77
HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU .........................................................................79
CÁN BỘ LÃNH ĐẠO/CHUYÊN TRÁCH CẤP XÃ .............................................79
HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO THÔN .......................................81
BỘ CÔNG CỤ HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHĨM ...........................................83
Phụ lục 5: PHIẾU THU THẬP THƠNG TIN THỨ CẤP ........................................85
Phụ lục 6. Biến số, định nghĩa, phân loại và thu thập thông tin biến định lượng .....88
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DTTS
Dân tộc thiểu số
ĐTNC
NS&VSMT
Nước sạch và vệ sinh mơi trường
PVS
Phỏng vấn sâu
TLN
Thảo luận nhóm
TTYT
Trung tâm Y tế
SD
Sử dụng
UBND
Ủy ban nhân dân
XD
Xây dựng
VSMT
Bảng 3.17. Điều kiện làm nương/rẫy xa nhà với sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh .......42
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa đặc điểm của chủ hộ có Nhà tiêu HVS ..................43
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa đặc điểm hộ gia đình với có Nhà tiêu hợp vệ sinh .44
Bảng 3.20. Mối liên quan đặc điểm chủ hộ có NT HVS với sử dụng NT HVS ......44
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa đặc điểm HGĐ với việc sử dụng NT HVS ............45
Bảng 3.22 Mối liên quan về năng lực chủ hộ với Nhà tiêu HVS .............................46
Bảng 3.23. Mối liên quan kiến thức về nhà tiêu và phòng bệnh với sử dụng Nhà tiêu
...................................................................................................................................47
vi
Bảng 3.24. Mối liên quan giữa đặc điểm thuận lợi của gia đình với sử dụng NT
HVS ...........................................................................................................................47
Bảng 3.25. Mơ tả ngun nhân chính người dân khơng tiếp cận NT HVS ..............48
Bảng 3.26. Nguyên nhân không sử dụng Nhà tiêu ...................................................49
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ cơ cấu các loại Nhà tiêu HVS .....................................................33
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ % hộ gia đình có Nhà tiêu hợp vệ sinh của xã Long Sơn, huyện
Đăk Mil giai đoạn 2015-2019 (theo báo cáo trạm y tế xã) .......................................34
Biểu đồ 3.3 Về số lượng nhà tiêu xây mới trong giai đoạn 2015-2019 (theo báo cáo
trạm y tế xã)...............................................................................................................38
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Khung lý thuyết .........................................................................................18
vii
Tóm tắt nghiên cứu
Tiếp cận và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là nhu cầu cơ bản của con người.
Vấn đề này không được giải quyết tốt là nguyên nhân 41% trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp
nhau giữa các vùng miền, đặt biệt là vùng có nhiều người dân tộc thiểu số (DTTS) so
với các vùng còn lại. Tỷ lệ phóng uế bừa bãi ở Miền Núi phía Bắc - Tây Ngun là
21%, nhưng riêng ở nơng thôn của vùng này tới 31%, ở khu vực nhiều DTTS là 39%
và tỷ lệ HGĐ có Nhà tiêu khơng HVS ở đây lên đến 47% [30].
Việc thiếu tiếp cận các dịch vụ vệ sinh cơ bản, hành vi vệ sinh kém làm tỷ lệ
mắc bệnh tiêu chảy, nhiễm giun sán tăng cao và được xem là nguyên nhân đứng thứ
hai phát sinh bệnh truyền nhiễm ở vùng miền núi phía Bắc của Việt Nam. Minh chứng
cho thấy chứng tiêu chảy và bệnh đường ruột mãn tính ở trẻ em có mối liên quan do
yếu tố về mơi trường với thiếu điều kiện vệ sinh, đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển
của trẻ, với 41% trẻ em DTTS dưới 5 tuổi bị thấp còi. Một trẻ em 5 tuổi sống ở vùng
mà cộng đồng ít sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh thì có chiều cao của trẻ đó thấp hơn
3,7cm so với một đứa khác trẻ sống ở cộng đồng tất cả mọi người sử dụng NT
HVS[30].
2
Đăk Mil là một huyện của tỉnh Đăk Nông và Long Sơn là xã khó khăn nhất
của huyện này, dân số khoảng 2.600 người với 375 hộ gia đình sống tại 4 thôn; 92,5%
là tộc thiểu số chủ yếu là Tày, Nùng và Dao[32], tồn xã có 25,3% hộ nghèo hộ cận
nghèo, tỷ lệ hộ gia đình (HGĐ) có NT HVS khoảng 36%, thấp nhất của huyện Đăk
Mil. Thời gian qua, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo ưu tiên cho những HGĐ nghèo,
cận nghèo vay vốn ngân hàng chính sách để xây dựng cơng trình nước sạch và Nhà
tiêu hợp vệ sinh. Tuy nhiên, vấn đề NT HVS ở đây vẫn chưa cải thiện vì số hộ vay
sử dụng cho mục đích này rất hạn chế. Cùng lúc này, từ năm 2012 đến 2017, bằng
nhiều nguồn lực từ tư nhân, nhà nước đã hỗ trợ 150 NT HVS cho người dân ở đây
nhưng theo phản ảnh của y tế thơn, bon thì số Nhà tiêu này lại rất ít được sử dụng
đúng mục đích và xuống cấp hư hỏng. Vậy những rào cản ảnh hướng việc tiếp cận và
sử dụng NT HVS ở cộng đồng dân cư ở đây là gì? Để giúp các nhà quản lý tìm được
câu trả lời và có giải pháp cải thiện phù hợp cải thiện tình trạng đi tiêu tự do ngồi
mơi trường, từng bước nâng cao sức khỏe cho người dân tộc thiểu số là nội dung cấp
diệt được các mầm bệnh có trong phân, khơng gây mùi khó chịu và làm ơ nhiễm mơi
trường xung quanh[24].
Phóng uế bừa bãi (đi tiêu tự do) là hành vi của con người đại tiện trực tiếp ra
ngồi mơi trường sống, dẫn đến ơ nhiễm đất và nguồn nước. Vì vậy sử dụng Nhà tiêu
tạm (như hố đào, cầu tiêu ao cá...) cũng được xem nhà tiêu không hợp vệ sinh là đi
tiêu tự do[26].
Tiếp cận là tiến sát gần, đến gần để tiếp xúc sự vật, đối tượng một cách từng
bước bằng những phương pháp nhất định, tìm hiểu một hiện tượng, cơng việc đang
được quan tâm[8]. Theo các khái niệm về tiếp cận và Nhà tiêu hợp vệ sinh, thì tiếp
cận NT HVS nghĩa là cách thức mà những người trong cùng một gia đình dễ dàng
tiếp xúc thường xuyên được với NT HVS, khi phát sinh nhu cầu, trong thời gian sinh
hoạt tại nhà. Hay nói cách khác đó là ln tồn tại tình trạng NT HVS ở hộ gia đình,
tính trên cộng đồng sẽ là tỷ lệ độ bao phủ NT HVS ở tại cộng đồng.
Sử dụng là lấy một vật, phương pháp hoặc cách thức nào đó làm phương tiện
để phục vụ cho nhu cầu, mục đích nào đó[8]. Trong nghiên cứu này, sử dụng Nhà
tiêu hợp vệ sinh là cách thức của một người thường xuyên dùng NT HVS của gia
5
đình hoặc NT HVS dùng chung (có trên 02 hộ gia đình sử dụng cùng 1 Nhà tiêu) khi
có nhu cầu. Việc sử dụng nhà tiêu phải đảm bảo theo đúng công năng của Nhà tiêu
và hướng dẫn của nhà chuyên môn, nhà sản xuất khuyến cáo.
Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên
phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vùng dân tộc thiểu số
là địa bàn có đơng các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên
lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mỗi dân tộc có tên gọi riêng,
xác định theo tiêu chí được pháp luật cơng nhận, phù hợp với nguyện vọng của đồng
bào dân tộc. Thành phần dân tộc do cơ quan có thẩm quyền quyết định và cơng bố
theo quy định của pháp luật[15]. Tại địa bàn nghiên cứu này có các dân tộc thiểu số
từ các tỉnh phía Bắc vào sinh sống gồm: Tày, Nùng, Dao.
1.1.2.1. Nhà tiêu khơ chìm
Là loại Nhà tiêu khơ, hố chứa phân chìm dưới đất, có u cầu về vệ sinh
trong sử dụng (SD) và bảo quản gồm: Sàn Nhà tiêu phải đảm bảo khơ, sạch, khơng
có mùi hơi, thối, khơng có ruồi, nhặng, gián bên trong, khơng để vật ni có cơ hội
tiếp xúc trực tiếp với phân, khơng làm phát sinh bọ gậy. Giấy vệ sinh sau khi sử dụng
phải bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp
đậy; Phân phải được ủ kỹ trên 6 tháng mới đưa ra sử dụng làm phân bón cho cây
trồng.
1.1.2.2. Nhà tiêu khơ nổi
Là loại Nhà tiêu khơ, có bể chứa phân xây dựng nổi trên mặt đất, yêu cầu về
vệ sinh trong sử dụng và bảo quản, gồm: Sàn Nhà tiêu phải đảm bảo khơ, sạch, khơng
có mùi hơi, thối, khơng có ruồi, nhặng, gián trong, khơng để vật ni có cơ hội tiếp
xúc trực tiếp với phân, không làm phát sinh bọ gậy. Giấy vệ sinh sau khi sử dụng phải
bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy;
Phân phải được ủ kỹ trên 6 tháng mới đưa ra sử dụng làm phân bón cho cây trồng.
Đối với có từ hai ngăn trở lên, lỗ tiêu ngăn đang sử dụng ln được đậy kín, các ngăn
ủ được trát kín.
1.1.2.3. Nhà tiêu tự hoại
Là loại dùng nước để dội sau mỗi lần sử dụng, bể chứa và xử lý phân kín,
nước thải khơng thấm ra bên ngồi, phân và nước tiểu được lưu giữ trong bể chứa và
được xử lý trong mơi trường nước. Có u cầu về vệ sinh trong sử dụng và bảo quản
gồm: Sàn Nhà tiêu, bệ xí sạch, khơng dính đọng phân, nước tiểu; Khơng có mùi hôi,
7
thối, khơng có ruồi, nhặng, gián trong Nhà tiêu. Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước
dội không phát sinh bọ gậy, giấy vệ sinh sau khi sử dụng bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy
tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy; Phân bùn phải được lấy khi
đầy (nếu tiếp tục sử dụng), bảo đảm vệ sinh trong quá trình lấy, vận chuyển phân bùn,
nếu khơng sử dụng phải được lấp kín.
72%[47]. Trung Quốc và Ấn Độ là quốc gia có dân số đơng của thế giới tuy nhiên tỷ
lệ người dân chưa tiếp cận với Nhà tiêu hợp vệ sinh chiếm rất cao, lần lượt là 36% và
58% (tỷ lệ đi tiêu tự do là 56%). Lào quốc gia láng giềng với Việt Nam có tỷ lệ tiếp
cận Nhà tiêu hợp vệ sinh là 60% và vẫn còn 35% dân số đi tiêu tự do[47].
Trong các thống kê cho thấy, ở nhóm các nước đang phát triển có tỷ lệ tiếp
cận Nhà tiêu là 68% và cao hơn những nước kém phát triển 32% và người ta ước tính
trung bình cứ 10 người đi tiêu tự do, trong đó có 9 người sống ở khu vực nơng
thơn[47].
1.2.2. Tại Việt Nam
Tính đến năm 2015, tồn quốc có khoảng 89,4% hộ gia đình nơng thơn đã
tiếp cận với Nhà tiêu, tuy nhiên tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận với NT HVS chỉ mới đạt
65%. Như vậy, toàn quốc vẫn cịn hơn 10% hộ gia đình (HGĐ) nơng thơn chưa tiếp
cận Nhà tiêu, 35% chưa tiếp cận được với Nhà tiêu hợp vệ sinh và còn khoảng 20
triệu người đi tiêu tự do[28]. Trong đó: vùng Đơng Nam Bộ cao nhất, tiếp đến Bắc
Trung bộ, đồng bằng Sông Hồng, Duyên hải Miền Trung lần lượt là (86,0%, 85,0%,
79,0, 72,0%); ba vùng có độ bao phủ thấp là Tây Nguyên, Miền Núi phía Bắc, Đồng
Bằng Sơng Cửa Long lần lượt là (61,0%, 58,0%, 57,0%)[28].
Tỷ lệ hộ gia đình tiếp cận NT HVS ở vùng nông thôn giai đoạn 2012 - 2015
năm tăng từ 2-3% (năm 2012 là 57%, 2013 là 60%, năm 2014 là 62% và năm 2015
là 65%)[27], tốc độ tăng tiếp cận của hộ gia đình nơng thơn chậm so tiến độ mục tiêu
đề ra tới năm 2025 chấm dứt đi tiêu tự do.
Tính tổng chung tồn quốc, hiện nay cịn trên 10% hộ gia đình chưa tiếp cận
với Nhà tiêu, nhưng ở khu vực nông thôn là 26% và khu vực miền núi phía Bắc – Tây
Nguyên con số này tăng lên đến 39% và đặc biệt nhóm hộ gia đình người dân tộc
thiểu số chưa tiếp cận Nhà tiêu là 47%[44], cho thấy để tăng tỷ lệ độ bao phủ Nhà
tiêu và Nhà tiêu hợp vệ sinh cần quan tâm và thúc đẩy việc tiếp cận Nhà tiêu với
người dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số là cần thiết. Ở các tỉnh Điện Biên, Lào
Cai, ở nhóm dân tộc thiểu số thì người Nùng có tiếp cận Nhà tiêu cao nhất 83,1%,
khơng biết về chương trình[36]. Sau đó 1 năm (2015), Chủ tịch Trung Quốc, ông Tập
10
Cận Bình đã đề xuất cuộc cách mạng Nhà tiêu ở khu vực nơng thơn đã địi hỏi sự
phối hợp của nhiều cơ quan của chính phủ với quyết tâm phấn đấu đạt 85% NT HVS
đến năm 2020 và xóa bỏ đi tiêu tự do vào năm 2030[42].
Trong thời gian qua, một số quốc gia đang phát triển, các khoản đầu tư tài
chính cho vệ sinh rất khiêm tốn nhưng đã giảm tới 60% tỷ lệ dân số thiếu tiếp cận NT
HVS đó là nhờ vào sự áp dụng khéo léo của đường lối chính trị, để thay đổi hành vi
và các chuẩn mực xã hội. Tạo kích cầu xây dựng NT HVS cho cộng đồng nói chung
và đặc biệt là trong những người đang thực hiện đi tiêu tự do tự đầu tư xây dựng NT
HVS[38].
Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ là một cấu phần quan trọng thúc đẩy tăng
đầu tư về tài chính và kỹ thuật để phát triển cải thiện vệ sinh cơ bản. Vào năm 2011,
Quỹ Bill và Melinda Gates (BMGF) đã khởi động một chương trình nghiên cứu có
tên là Reb Rebvent the toilet Challenge (RTTC), nhằm xây dựng các dịch vụ vệ sinh
bền vững và có lợi nhuận tài chính hoạt động trong môi trường đô thị nghèo nàn ở cả
hai khu vực phát triển[48].
1.3.1.2. Tại Việt Nam
Chính phủ Việt Nam ln nổ lực để cải thiện cơ hội tiếp cận và sử dụng NT
HVS, đặc biệt quan tâm đến khu vực nông thôn và vùng dân tộc thiểu số, điều này
thể hiện từ các chính sách.
Cách đây 21 năm vào năm 1998, Chính phủ đã ban hành Chương trình mục
tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 1998-2005 là giai
đoạn đầu tiên của Chương trình, giai đoạn thứ 2 là từ năm 2006-2010. Chương trình
nước sạch – Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn thứ 3 từ năm 2012-2015 được
cụ thể hóa bằng Quyết định 366/2012/QĐ-TTg ngày 31/3/2012 của Thủ tướng Chính
phủ[16]. Chương trình trong giai đoạn này đã nâng cao vai trò của chính quyền địa
phương các cấp về vấn đề vệ sinh nông thôn, tăng nguồn lực cho vệ sinh. Điểm mới
hành bộ tiêu chí quốc gia về nơng thôn mới.
Ngày 8 tháng 4 năm 2014, trong Hội nghị cấp cao lần thứ 3 về Nước và Vệ
sinh cho mọi người được tổ chức tại Washington DC, Hoa Kỳ. Tại Hội nghị này, đại
diện Chính phủ Việt Nam đã cam kết chấm dứt tình trạng đi tiêu tự do quy mơ tồn
quốc vào năm 2025. Qua đó, cho thấy các văn bản chính sách về vệ sinh mơi trường
đã khá đầy đủ và toàn diện[30].
12
Từ việc phân cơng trách nhiệm rõ ràng của Chính phủ, Bộ Y tế đã tích cực
triển khai hướng dẫn chỉ đạo các địa phương triển khai xây dựng 51.226 NT HVS
cho hộ gia đình trên tồn quốc chủ yếu ở khu vực nông thôn, vùng dân tộc thiểu số,
đồng thời hiệu quả của các hoạt động truyền thông cũng đã khuyến khích hộ gia đình
tự đầu tư xây dựng 1.904.408 NT HVS các loại[27].
Luôn đồng hành với các Chương trình do chính phủ phê duyệt, sự tham gia
tích cực của các tổ chức quốc tế đã phối hợp cùng Bộ Y tế triển khai nhiều dự án
nhằm tăng tiếp cận vệ sinh cơ bản, NT HVS ở những vùng khó khăn. Đáng kể nhất
là Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (Unicef) triển khai dự án “Vì sự sống cịn của trẻ em”
theo mơ hình vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ, thành công của dự án là đã tiến
hành công nhận 170 cộng đồng/làng, bản chấm dứt tình trạng đi tiêu tự do tại 7 tỉnh
dự án. Trong giai đoạn 2013-2017, Ngân hàng thế giới triển khai Chương trình nước
sạch và vệ sinh nơng thơn dựa trên kết quả tại 8 tỉnh đồng bằng sông Hồng, đã xây
mới 59.265 Nhà tiêu hợp vệ sinh. Tổ chức Đông Tây Hội Ngộ triển khai dự án Cải
thiện cộng đồng dựa vào kết quả -WASHOBA tại Bến Tre, Bình Định, Thái Nguyên
và Bắc Giang đã vận động 14.948 hộ gia đình nghèo làm Nhà tiêu hợp vệ sinh, tăng
tỷ lệ tiếp cận với Nhà tiêu hợp vệ sinh tại mỗi tỉnh từ 8,7 đến 15,6%[27], ngồi ra cịn
một số tổ chức khác đang triển khai tại nhiều khu vực khác trên tồn quốc.
Một nghiên cứu cho thấy nhóm đối tượng đích được hỗ trợ được hỗ trợ xây
dựng Nhà tiêu hợp vệ sinh thì có điều kiện tiếp cận cao hơn 3,1 lần so với nhóm
khơng được hỗ trợ (p
cơng của một can thiệp[43].
Trình độ học vấn: Có mối liên quan giữa trình độ học vấn của người chủ hộ
với tỷ lệ bao phủ NT HVS. Những người có trình độ học vấn từ trung học phổ thơng
trở lên thường có NT cao gấp 2,1 lần so với nhóm người có trình độ từ tiểu học trở
xuống (p
2004, ở khu vực Nam Tây Nguyên, diện tích tự nhiên khoảng 6.514 km2, dân số hiện
nay khoảng 650 nghìn người; có 40 dân tộc cùng sinh sống, trong đó, dân tộc thiểu
số khoảng 164 nghìn người, chiếm tỷ lệ 31,37% so với tổng dân số toàn tỉnh. Dân tộc
thiểu số tại chỗ là M’Nông, Mạ, Ê đê chiếm 10,33% dân số tồn tỉnh. Tỉnh có 1 thị
xã, 7 huyện và 71 đơn vị hành chính cấp xã[14]. Trong giai đoạn từ năm 2012 đến
năm 2015, thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch – VSMT nông
thôn nhưng tất cả các chỉ số đánh giá đều không đạt mục tiêu chương trình[13]. Từ
năm 2016, đến nay, tỉnh Đăk Nơng đang thực hiện Chương trình mở rộng quy mô vệ
sinh và nước sạch nông thôn dựa trên kết quả vay vốn Ngân hàng thế giới giai đoạn
2016-2020[30]. Tính đến năm 2018, tỷ lệ bao phủ NT HVS toàn tỉnh là 65,7%, nhưng
không đồng đều ở các huyện, sắp xếp từ cao đến thấp lần lượt là Thị xã Gia Nghĩa
(tỉnh lỵ), Đăk Mil, Đăk Song, Krông Nô (80,2%; 78,4%; 69,3%; 69,2%) và có hai địa
phương có tỷ lệ đạt thấp dưới 50% là Tuy Đức 44,6 và Đăk G’Long 44,3%[12].
Đăk Mil là huyện biên giới nằm cách Thị xã Gia nghĩa khoảng 60km về
hướng Tây Bắc, có 1 thị trấn và 9 xã, dân số khoảng 106 nghìn dân gồm 19 dân tộc
sinh
16
sống chủ yếu là người kinh, êđê, Tày, Nùng[3]. Long Sơn là một xã được tách ra từ
4 thôn của xã Đăk Săk cũ vào năm 2006[32]. Đến nay, có 375 hộ khoảng 2.680 người,
trong đó dân tộc thiểu số chiếm 92,5%, cư ngụ tại 4 thôn, chiếm đa số là dân tộc Tày,
đến Nùng, Dao và H’Mông[21];
Qua những tài liệu đã tìm thấy, các nhà khoa học trên thế giới đã những
nghiên cứu sự tiếp cận cũng như sử dụng Nhà tiêu hợp vệ sinh ở các nước như Ấn
Độ, Zambia, Ethiopia[33, 35, 41]. Ở Việt Nam, chúng tôi có rất nhiều những nghiên
cứu liên quan đến vấn đề nhà tiêu hợp vệ sinh về các mơ hình, về kiến thức, thái độ
thực hành về ảnh hưởng của tỷ lệ NT HVS đến sức khỏe trẻ em…nhưng các nghiên
cứu về sự tiếp cận và sử dụng NT HVS chưa phong phú. Gần đây có nghiên cứu về
tình trạng sử dụng NT HVS và các yếu tố liên quan tại huyện Đăk Hà tỉnh Hịa