Đề tài Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tạicông ty Lâm Nghiệp Quang Tín - Pdf 73

Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, chính sách đổi mới và mở cửa, chủ động hội nhập kinh tế
của Đảng và Nhà nước đã mang lại những thành tựu to lớn trong sự phát triển kinh tế –
xã hội nước ta, làm thay đổi căn bản hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Toàn cầu
hoá kinh tế là một xu hướng khách quan tạo nhiều cơ hội phát triển cho quốc gia, cho
nhiều doanh nghiệp tuy nhiên sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt
hơn. Trong bối cảnh đó mỗi công ty đều muốn tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc
trên thị trường. Chính vì vậy tiềm lực trong nội bộ công ty quyết định đến sự sống còn
của mỗi công ty trên thị trường, và tiềm lực đó là đội ngũ công nhân viên có tay nghề và
kĩ năng xử lý công việc hiệu quả. Và bên cạnh đó là sự hài lòng của nhân viên về công ty
tạo nên chính tiềm lực cho công ty để đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Để tạo được
tiềm lực đó thì công ty phải có chính sách thu hút và đãi ngộ với nhân viên trong chính
công ty của mình để nhân viên an tâm công hiến hết khả năng và trình độ của mình cho
công việc.
Bên cạnh đó việc hoạt động xã hội của doanh nghiệp cũng là một trong những
trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội và là việc làm cần thiết khi xã hội cần sự
cam kết thực hiện phát triển bền vững nhằm cam kết với người lao động để nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân viên trong xã hội và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Vì vậy các doanh nghiệp ở nước ta đang xây dựng và từng bước áp dụng bộ tiêu
chuẩn SA 8000 vào việc ứng xử giữa doanh nghiệp và xã hội. Và bộ tiêu chuẩn SA 8000
đang dần trở thành một chuẩn mực cho các doanh nghiệp tại Việt Nam và nhất là trong
các doanh nghiệp nhà nước. Và để minh chứng rõ cho điều này là Công ty Lâm nghiệp
Quảng Tín là một ví dụ minh chứng cho việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại Công ty
ngoài việc tuân thủ hiến pháp và pháp luật của nhà nước về lao động để khuyến khích
cán bộ công nhân viên trong công ty nhằm góp phần cải thiện đời sống với người lao
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
1
Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
động và góp phần đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội. Đó là lý do em chọn đề

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) được hiểu là sự cam kết của doanh
nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua những việc làm nâng
cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, theo
cách đó có lợi cho doanh nghiệp, cũng như sự phát triển chung của xã hội. Các doanh
nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi
trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng
đồng,… và thực hiện trách nhiệm xã hội của mình thông qua việc áp dụng các bộ Quy
tắc ứng xử (CoC) và các tiêu chuẩn như SA8000, ISO 14000,… Điều quan trọng là ý
thức về trách nhiệm xã hội phải là kim chỉ nam trong hoạt động kinh doanh của từng
doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực, bất kể họ tuân thủ bộ quy tắc ứng xử nào, hay thậm chí
thực hiện trách nhiệm xã hội theo các quy tắc đạo đức mà họ cho là phù hợp với yêu cầu
của xã hội và được xã hội chấp nhận.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Mỗi tổ chức, công ty, chính phủ nhìn
nhận CSR dưới những góc độ và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và
trình độ phát trển của mình. Keith Davis (1973) đưa ra một khái niệm khá rộng “CSR là
sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn
những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”. Trong khi đó, Carroll (1999) cho rằng CSR
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
3
Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức, và những lĩnh
vực khác mà xã hội trông
đợi


doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định.” Theo
Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác
như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền
vững và trách nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách
trong từng bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù.” Như vậy, bản chất của CSR là

Tổng thư
ký Liên hợp quốc (LHQ) Kofi Annan đề xuất tại Diễn đàn kinh tế thế giới và tháng
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
4
Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
7/2000 đã chính thức ra mắt như một Bộ quy tắc ứng xử của LHQ về trách nhiệm xã
hội các công ty đa quốc gia (gọi tắt là UNGC).

Bộ quy tắc này, bao gồm 10 quy tắc
đảm bảo tôn trọng nhân quyền, dân sinh, chống lạm dụng trẻ em, lao động cưỡng
bức, bảo vệ môi trường, chống tham nhũng… tuy không phải là văn bản có tính bắt
buộc nhưng được thừa nhận như một khung khổ thảo luận chính thức tại các diễn
đàn của LHQ. Đối với các thiết chế khu vực, CSR cũng đã được Ủy ban châu Âu
chính thức công nhận từ rất sớm: “là việc các doanh nghiệp đưa mối quan tâm về xã
hội và môi trường vào các hoạt động kinh doanh và mối quan hệ của họ với các cổ
đông của mình, trên cơ sở tự
nguyện.”
Mô hình “kim tụ tháp” của Carroll:
CSR đã trở nên phổ biến. Nhưng vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về
khái niệm, nội dung và phạm vi của CSR. Trong số đó, mô hình “kim tự tháp”
của A. Carroll (1999) có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất:
TỪ TH
I

N
ĐẠO ĐỨC
PHÁP LÝ
KINH T

Theo đó, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện:

phụ thuộc vào trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp.
(iv) Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài
sự trông đợi của xã hội, như quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng,
đóng góp cho các dự án cộng đồng… Điểm
khác

biệt
giữa trách nhiệm từ thiện và đạo
đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu họ không thực hiện CSR đến mức độ
này, họ vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi.
Mô hình trên có tính toàn diện và khả thi cao, có thể được sử dụng làm
khung khổ cho tư duy chính sách của nhà nước về CSR:
Thứ nhất, việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng không những thỏa mãn
cả nhu cầu về lý thuyết “đại diện” trong quản trị công ty, mà còn giải quyết được
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
6
Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
những hoài nghi về tính trung thực trong các chương trình CSR của doanh nghiệp. Từ
đó, vấn đề “vì mình” hay “vì người” không còn được đặt ra nữa, bởi hai mục đích đó
là không thể tách rời.
Thứ hai, ranh giới giữa các tầng trong “kim tự tháp” là luôn chồng lấn, tác
động bành trướng lẫn nhau. Việc tuân thủ quy định pháp luật chắc chắn đưa đến các
chi phí kinh tế cho doanh nghiệp. Và quy tắc đạo đức xã hội ngoài luật luôn mở
rộng (theo trình độ phát triển của xã hội), tạo áp lực lên hệ thống pháp luật,
bắt

buộc
các nhà làm luật phải luôn bám sát thực tiễn xã hội.
Hệ quả của chi phí tuân thủ PL đối với thị
tr

nghiệp mới. Trong môi trường tính cạnh tranh còn thấp, doanh nghiệp nắm thế độc
quyền sẽ chuyển toàn bộ chi phí sản xuất tăng thêm vào giá thành. Do đó, có thể nói
chính khách hàng là người trả tiền cho các chi phí tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp,
để bảo vệ lợi ích xã hội của chính mình. Giá tăng lên sẽ làm giảm lượng tiêu dùng.
Trong một môi trường mà doanh số bị thu hẹp, doanh nghiệp độc quyền sẽ càng cố níu
giữ trạng thái của thị trường bằng nhiều cách để ngăn cản các doanh nghiệp mới
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
7
Thực trạng việc áp dụng bộ tiêu chuẩn SA 8000 tại công ty Lâm nghiệp Quảng Tín
Thứ ba, mối quan hệ giữa từ thiện và trách nhiệm xã hội được làm rõ. Trách
nhiệm từ thiện chỉ là “bề nổi của tảng băng chìm” CSR.
Thứ tư, cân bằng lợi ích của các bên có liên quan được đặt ra như một nội dung
then chốt trong quản trị doanh nghiệp. Người quản lý doanh nghiệp phải điều hòa lợi ích
của các bên liên quan như người lao động, cổ đông, khách hàng, chính quyền, cộng
đồng, chủ nợ, nhà phân phối, nhà cung cấp, báo chí, nhóm lợi ích, hiệp hội ngành
nghề… Mỗi bên liên quan có lợi ích đặc thù ở các mức độ khác nhau đối với các
trách
nhiệm
kinh tế, pháp lý, đạo đức, từ thiện của doanh nghiệp.
Cân bằng lợi ích của các bên liên quan:
GVHD: Nguyễn Ngọc Tuấn SVTH: Nguyễn Đức Hoàng
8
C
ổ
đ
ô
n
g
Chính quyền
Cộng đồng dân cư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status