CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ - Pdf 73

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
Mục tiêu:
Phần I của Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về kiểm toán tài chính các
DNVVN, với mục tiêu làm tiền đề cho công tác tổ chức kiểm toán trong thực tế:
Nội dung:
Phần thứ nhất của đề tài bao gồm 2 nội dung chính:
- Một số khái niệm chung về kiểm toán tài chính, mục tiêu, phương pháp và
quy trình kiểm toán tài chính
- Phân tích các đặc thù của các doanh nghiệp vừa và nhỏ và những ảnh
hưởng tới công tác tổ chức kiểm toán
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG:
1. Kiểm toán tài chính:
1.1. Khái niệm:
Hoạt động kiểm toán có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế,
nó góp phần quan trọng vào việc xây dựng và củng cố nền nếp tài chính kế toán
trong các khu vực kinh tế. Với ý nghĩa đó, hoạt động kiểm toán đã và đang phát
triển đa dạng, rộng khắp và ngày càng đi vào quy mô. Theo chức năng cụ thể
của kiểm toán, hoạt động kiểm toán được chia thành ba loại cơ bản là:
 Kiểm toán tài chính.
 Kiểm toán tuân thủ.
 Kiểm toán hoạt động.
Mỗi loại hình kiểm toán mang những đặc trưng riêng, trong giới hạn luận văn
này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về hoạt động kiểm toán tài chính trong hệ
thống kiểm toán nói chung: “Kiểm toán tài chính là sự xác minh và bày tỏ ý kiến
về những bảng khai tài chính do kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện
những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”( tài
liệu tham khảo số 1)
Trong hệ thống kiểm toán, kiểm toán tài chính được xem như hoạt động đặc
trưng nhất mà chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến được thể hiện rõ nét nhất.
Tính chất đặc trưng của kiểm toán tài chính bắt nguồn từ đối tượng kiểm toán và

chính, việc xác định mục tiêu kiểm toán khoa học sẽ giúp kiểm toán viên thực hiện
đúng hướng và có hiệu quả công tác kiểm toán. Hệ thống mục tiêu kiểm toán tài
chính được phân thành hai loại:
1.2.1.Mục Tiêu Kiểm toán Chung:
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200: “Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài
chính là giúp kiểm toán viên và công ty đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài
chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc đựơc
chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình
hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu khác ?’’
Như vậy, thông qua việc xác định mục tiêu kiểm toán, một mặt công ty kiểm toán
đưa ra được những kết luận kiểm toán một cách chính xác khoa học, mặt khác mục
tiêu kiểm toán tài chính sẽ giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại,
sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị.

Để đạt được tính trung trực, hợp lý của việc xác minh và bày tỏ ý kiến về toàn bộ
báo cáo tài chính, cần phải hướng tới các mục tiêu cụ thể gắn với các phương pháp
kế toán trong quan hệ trực tiếp với việc hình thành các báo cáo này. Theo đó, hệ
thống mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính hướng tới là:
 Tính có thực của thông tin với ý nghĩa các thông tin phản ánh tài sản hoặc
vốn phải được đảm bảo bằn sự tồn tại của tài sản, vốn hoặc tính thực tế xẩy ra của
nguồn.
 Tính toàn vẹn ( đầy đủ ) của thông tin với ý nghĩa thông tin phản ánh trên
bảng khai tài chính không bị bỏ sót của quá trình xử lý.
 Tính đúng đắn của việc tính giá với ý nghĩa gía tài sản cũng như giá phí
đều đựoc tính theo phương pháp kế toán là giá thực tế đơn vị phải chi ra để mua
hoặc thực hiện các hoạt động.
 Tính cơ học của các phép tính số học cộng dồn cũng như chuyển sổ sang
trang trong công nghệ kế toán.
 Mục tiêu phân loại và trình bày với ý nghĩa tuân thủ các quy định cụ thể
của phân loại tài sản và vốn cũng như các quá trình kinh doanh, qua hệ thống tài

Đối tượng cụ thể của mỗi phần hành kiểm toán có những điểm khác nhau và công
nghệ kế toán áp dụng cho mỗi phần hành này cũng khác nhau nên cách thức cụ thể
hoá các mục tiêu chung vào từng phần hành cụ thể cũng khác nhau. Như vậy, việc
định ra các mục tiêu kiểm toán đặc thù trước hết phải dựa vào bản chất của từng
khoản mục, chu trình. Bên cạnh đó, cần kết hợp xem xét cả về hình thức biểu hiện
của tài sản, vốn. Ngoài ra, việc lựa chọn mục tiêu kiểm toán đặc thù còn phải quan
tâm đến từng mặt thuộc tính của từng đối tượng cụ thể.
Cùng với việc xem xét tới bản chất, hình thức và đặc tính của đối tượng kiểm toán,
việc xác định mục tiêu kiểm toán đặc thù cần đặc biệt chú ý tới các đặc điểm về tổ
chức kế toán và kiểm soát các phần hành hay khoản mục cần xác minh như số
lượng, cơ cấu sổ sách, trình tự ghi sổ, tổ chức kế toán của từng phần hành….Với
nội dung, hình thức và trình tự kế toán như vậy, các mục tiêu kiểm toán chung
được cụ thể hoá thành các mục tiêu kiểm toán đặc thù khác nhau.
Như vậy, vấn đề đặt ra không phải là số lượng mục tiêu kiểm toán chung và số
lượng các mục tiêu đặc thù tương ứng mà điều quan trọng nhất là phải tính đúng
phương hướng và bước đi cho cả cuộc kiểm toán cũng như cho từng phần hành
kiểm toán cụ thể. Tuy nhiên, việc xác định các mục tiêu kiểm toán không thể tuỳ
tiện vì mỗi mục tiêu này quyết định các thủ tục (phương pháp) kiểm toán khác
nhau.
2. Phương Pháp Kiểm Toán Trong Kiểm Toán Tài Chính:
2.1. Phương pháp kiểm toán chung:
Đặc điểm của hệ
thống kế toán và
kiểm soát nội bộ
Phương pháp kiểm toán là cách thức xác minh tương ứng với nội dung kiểm toán
cụ thể, nói cách khác, phương pháp kiểm toán là cách thức mà kiểm toán viên áp
dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp, làm cơ sở cho các ý

Trong kiểm toán tài chính, cách thức xác định trong việc vận dụng các phương
pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ vào việc xác minh các
nghiệp vụ, các số dư tài khoản hoặc các khoản mục cấu thành những bảng khai tài
chính gọi là các trắc nghiệm.
2.2. Các trắc nghiệm của kiểm toán tài chính:
Trong kiểm toán tài chính, tuỳ theo yêu cầu và đối tượng cụ thể cần xác minh mà
hình thành ba loại trắc nghiệm cơ bản:
 Trắc nghiệm công việc: là trình tự rà soát các nghiệp vụ hay hoạt động cụ
thể trong quan hệ với sự tồn tại và hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ, trước
hết là hệ thống kiểm toán. Trắc nghệm công việc được phân thành hai loại:
 Trắc nghiệm đạt yêu cầu: Là trình tự rà soát các thủ tục kế toán hay thủ tục quản
lý có liên quan đến đối tượng kiểm toán.
 Trắc nghiệm độ vững chãi: Là trình tự rà soát các thông tin về giá trị trong kế
toán.
 Trắc nghiệm trực tiếp số dư: Là cách thức kết hợp các phương pháp cân
đối, phân tích đối chiếu trực tiếp với kiểm kê và điều tra thực tế để xác định độ tin
cậy của các số dư trên sổ sách.
 Trắc nghiệm phân tích: Là cách thức xem xét các mối quan hệ kinh tế và
xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết hợp giữa đối chiếu
trực tiếp, đối chiếu lo gíc, cân đối… giữa các trị số của các chỉ tiêu hoặc các bộ
phận cấu thành chỉ tiêu.
Có thể thấy, giữa trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích, trắc nghiệm trực
tiếp số dư có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và được kết hợp chặt chẽ trong quy
trình kiểm toán báo cáo tài chính.
II. LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH:
Kiểm toán tài chính là một hoạt động đặc trưng và nằm trong hệ thống kiểm toán
chung, vì vậy, trình tự kiểm toán tài chính cũng được chia thành ba giai đoạn:
 Lập kế hoạch kiểm toán.
 Thực hành kiểm toán.
 Kết thúc kiểm toán.

II.2. Trắc nghiệm phân tích v trà ực tiếp số dư
Thấp Vừa Cao
Thủ tục phân tích
Xác minh khoản then chốt
Xác minh chi tiết bổ sung
Bằng chứng
kiểm toán
Bước III
Kết thúc công
việc kiểm toán
Thẩm tra sự kiện bất ngờ
Thẩm tra sự kiện tiếp theo
Đánh gía kết quả và lập báo cáo
Báo cáo kiểm toán
Bằng
chứng kiểm toán
Bước II
Thực hiện công việc kiểm toán
1. Lập kế hoạch kiểm toán:
1.1. Khái niệm:
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà kiểm toán viên cần thực hiện
trong mỗi cuộc kiểm toán, nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như những điều
kiện cần thiết khác cho cuộc kiểm toán. Hiệu quả của việc lập kế hoạch sẽ chi phối
tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán.
Nguyên tắc kiểm toán quốc tế thứ ba- các nguyên tắc cơ bản xuyên suốt cuộc kiểm
toán- do IAPC (uỷ ban thực hành kiểm toán quốc tế) ban hành quy định: “Kiểm
toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán để trợ giúp cho công việc kiểm toán tiến hành
có hiệu quả, đúng thời gian. Kế hoạch kiểm toán phải dựa trên cơ sở các hiểu biết
về đặc điểm kinh doanh của khách hàng.”
Qua đó có thể thấy, giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán mang ý nghĩa rất quan trọng

nhận biết để tránh sai sót và hoàn tất công việc được nhanh chóng.
“Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết
các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm
ẩn và cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng hạn”.
( Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 )
Để đạt được những mục tiêu đó, việc lập kế hoạch kiểm toán thường được triển
khai qua các bước công việc chi tiết sau:
1.3.1.Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán:
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi công ty kiểm toán thu nhận khách hàng. Các công
ty kiểm toán độc lập phải chủ động liên lạc với các khách hàng tiềm năng có nhu
cầu được kiểm toán ( thể hiện qua thư mời và thư hẹn kiểm toán ). Sau khi nhận
được yêu cầu kiểm toán của khách hàng, kiểm toán viên phải thận trọng trong việc
ra quyết định chấp nhận kiểm toán.
 Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán:
Trong sự cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, việc các công ty kiểm toán độc lập
có và giữ được khách hàng cho mình là rất khó khăn, nhưng trách nhiệm pháp lý
và trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên là rất lớn. Vì vậy, công ty kiểm
toán độc lập phải thận trọng xem xét khả năng chấp nhận khách hàng.
“ Việc quyết định chấp nhận hoặc duy trì mọi khách hàng, công ty kiểm toán phải
xem xét lại năng lực, tính độc lập của mình để phục vụ khách hàng một cách tốt
nhất cũng như phải lưu tâm tới tính chính trực của các nhà quản lý doanh nghiệp
khách hàng” ( ISA - số 200 ).
 Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng:
Yếu tố ảnh hưởng quan trọng tới quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán là việc
nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng.
Thực chất đây là việc xác định đối tượng sử dụng cũng như mục đích sử dụng các
báo cáo kiểm toán. Mục đích kiểm toán của các khách hàng rất đa dạng, việc xác
định đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán là yếu tố chính ảnh hưởng đến số lượng
bằng chứng cần thu thập, cũng như đòi hỏi về mức độ chính xác của ý kiến mà
kiểm toán viên đưa ra.

1.3.2. Thu thập thông tin cơ sở:
Sau khi kí kết hợp đồng, kiểm toán viên tiến hành thu thập hiểu biết về nghành
nghề kinh doanh, hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ …của công ty khách hàng để
đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán, quá trình thu thập thông tin cơ sở về
khách hàng thường bao gồm các bước:
 Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng :
 Xem xét kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung.
 Tham quan nhà xưởng.
 Nhận diện các bên hữu quan.
 Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài.
1.3.3. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Việc thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp kiểm toán viên
nắm bắt được những quy trình pháp lý có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của
khách hàng, những thông tin này thừơng thu thập được của quá trình trao đổi với
ban giám đốc công ty khách hàng.
1.3.4. Thực hiện các thủ tục phân tích
“Thủ tục phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng
qua đó tìm ra những xu hướng biến động và các mối quan hệ có mâu thuẫn với các
thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệnh lớn so với giá trị đã dự kiến”.
(Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520)
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thực hiện các thủ tục phân
tích đối với các thông tin đã thu thập để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch kiểm toán chi
tiết. Các thủ tục phân tích sử dụng cho việc lập kế hoạch kiểm toán nhằm hướng
tới các mục tiêu:
 Thu thập hiểu biết chung về nội dung các báo cáo tài chính và những biến
đổi quan trọng về kế toán và hoạt động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra
kể từ lần kiểm toán trước
 Tăng cường sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của
khách hàng và giúp kiểm toán viên xác định những vấn đề nghi vấn về khả năng
hoạt động liên tục của công ty khách hàng.

1.3.6. Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm
soát:
Đây là một công việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải tiến hành trong
mỗi cuộc kiểm toán.“Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán, xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có
hiệu quả”. (Chuẩn mực kiểm toán việt nam số 400)
Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện theo một trình tự nhất định
và có thể được mô tả theo Sơ đồ 3.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải tìm hiểu về thiết kế
và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng nhằm mục tiêu:
 Đánh giá xem liệu các báo cáo tài chính có thể kiểm toán được hay không.
 Nhận diện và đánh giá các sai phạm tiềm tàng.
 Quyết định về mức độ đánh giá thích hợp của rủ ro kiểm soát ảnh hưởng
đến rủ ro phát hiện và từ đó ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng kiểm toán phải
thu thập
 Có kế hoạch thiết kế các cuộc kiểm soát thích hợp.
Các phương pháp kiểm toán viên thường ứng dụng khi tìm hiểu hệ thống kiểm
toán toán nội bộ là:
 Dựa vào kinh nghiệm trước đây của kiểm toán viên với khách hàng
 Thẩm vấn nhân viên của công ty khách hàng
 Xem xét các thủ, chế độ của công ty khách hàng
 Kiểm tra các chứng từ sổ sách đã hoàn tất
 Quan sát các hoạt động và quá trình hoạt động của công ty khách hàng
Sơ đồ 3:
Khái quát về nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và
quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát trong kiểm toán báo cáo tài chính:
Đạt được hiểu biết về HTKSNB của khách hàng đủ để lập kế hoạch kiểm toán
Đánh giá xem liệu các BCTC có thể kiểm toán được hay không
Quá trình đánh giá rủi ro KS
ý kiến “ từ chối” hoặc rút khỏi HĐ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status