Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời Mở Đầu
Kể từ sau đại hội Đảng VI, 1986 nền kinh tế nớc ta chuyển từ cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà
nớc dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Sự mở cửa nền kinh tế đã thổi một
luồng sinh khí mới làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của nớc ta vốn đang bế tắc, trì
trệ kém phát triển. Thực tế là sau đổi mới mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội đã
thay đổi và khởi sắc,nền kinh tế nh đợc cởi trói phát triển nhanh chóng và liên tục đặc
biệt là hoạt động giao lu kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu. Hiện nay nớc ta
có hơn 7000 doanh nghiệp đợc xuất nhập khẩu trực tiếp. Một trong những khâu quan
trọng của hoạt động xuất nhập khẩu là vận tải và giao nhận.
Ngành giao nhận Việt Nam mới ra đời và vẫn còn non trẻ nhng hứa hẹn một tơng
lai phát triển mạnh mẽ. Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, việc xây dựng và củng
cố các mối quan hệ vừa là mục tiêu vừa là điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp tồn
tại và phát triển. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển dợc trong cơ chế thị trờng
khắc nghiệt này không còn cách nào khác là phải thiết lập đợc một hệ thống các mối
quan hệ với tất cả các lực lợng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty.
Với hệ thống các mối quan hệ đó, công ty mới có đợc một nền tảng, một chỗ dựa
vững chắc để chống chải đợc với cạnh tranh, để thoả mãn tốt nhu cầu và ớc muốn của
khách hàng. Hơn bao giờ hết, giờ đây quan hệ đã trở thành mục tiêu tối thợng của
hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng đặc biệt là các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu.
Chính vì lẽ đó em đã chọn đề tài Giải pháp Marketing hớng tới các mối quan
hệ trong kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại chi nhánh
Hà Nội công ty TNHH dịch vụ hàng hoá TOP.
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là: tất cả các mối quan hệ vốn có trong hoạt động
kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu mà công ty TOP Hà Nội thiết
lập với các lực lợng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty từ khách
hàng, nhà cung ứng, nhà phân phối tới quan hệ nội bộ bên trong công ty. Tuy nhiên,
những quan hệ này sẽ đợc xem xét dới góc độ Marketing và bằng những biện pháp
Bản thân con ngời khi sinh ra đã ẩn chứa trong mình một tập hợp những nhu cầu,
mong muốn hết sức đa dạng và phong phú. Trong tập hợp đó, có những nhu cầu có
thể đợc thoả mãn bằng những sản phẩm vật chất nh kem đánh răng, ô tô, thép và thiết
bị nhng có những nhu cầu không thể đợc thoả mãn bằng những sản phẩm vật chất đó,
đó là nhu cầu dịch vụ. Dịch vụ ra đời ngay khi nền sản xuất hàng hóa xuất hiện và
cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của ngành dịch vụ cũng
ngày càng đợc mở rộng không ngừng. Thời gian đầu khi nền kinh tế còn cha phát
triển, ngành dịch vụ chỉ đóng góp khoảng 10% 15% trong tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) về sau ngành dịch vụ có sự tăng trởng phi thờng và ngày càng đóng góp một
phần đáng kể vào GDP, GNP của các quốc gia. Ngày nay ở Hoa Kỳ các công việc
kinh doanh dịch vụ chiếm 77% tổng số việc làm và 70% GNP và dự kiến sẽ sẽ tạo
90% tổng số việc làm mới trong thời gian tới. Cũng nh vậy, ở các nớc công nghiệp
phát triển nh Anh, Pháp, Đức, Nhật ngành dịch vụ hết sức phát triển và đóng góp
vào GDP một tỷ trọng tuyệt đối từ 60% - 90%.
Các ngành dịch vụ hoàn toàn khác nhau. Khu vực nhà nớc với toà án, cơ quan giới
thiệu việc làm, bệnh viện quỹ tín dụng, các cơ quan hậu cần quân đội, cảnh sát và đội
cứu hoả, bu điện các cơ quan hoà giải và trờng học, đều thuộc lĩnh vực dịch vụ. Khu
vực phi lợi nhuận t nhân với các viện bảo tàng, các tổ chức từ thiện, nhà thờ, các tr-
ờng cao đẳng và đại học, các quỹ tài trợ và bệnh viện đều thuộc lĩnh vực dịch vụ. Một
phần không nhỏ trong lĩnh vực kinh doanh với các công ty hàng không, ngân hàng,
văn phòng dịch vụ máy tính, khách sạn các công ty bảo hiểm, công ty t vấn pháp luật,
công ty t vấn quản lý, các phòng mạch, các hãng điện ảnh, công ty sửa chữa hệ thống
cấp nớc và các công ty buôn bán bất động sản cũng thuộc lĩnh vực dịch vụ.
Nhiều công nhân trong khu vực sản suất cũng làm dịch vụ, nh thao tác viên máy
tính, nhân viên kế toán và những ngời làm công tác pháp lý. Trên thực tế họ đã hợp
thành phân xởng dịch vụ đảm bảo dịch vụ cho phân xởng hàng hóa.
Không chỉ có những ngành dịch vụ truyền thống mà luôn xuất hiện những ngành
dịch vụ mới: với một khoản chi phí nhất định, giờ đây đã có những công ty giúp bạn
cân đối ngân sách của mình, chăm sóc cây cảnh của bạn vào những buổi sáng, chở
bạn đi làm hay giúp bạn tìm một căn nhà mới, một việc làm, một chiếc xe, một ngời
Những thông tin trên đây đã cho thấy dấu hiệu khả quan trong tăng trởng phát triển
nền kinh tế nói chung và ngành dịch vụ nói riêng tại Việt Nam. Chắc chắn rằng
ngành dịch vụ trong tơng lai sẽ phát triển mạnh mẽ không chỉ ở các quốc gia phát
triển trên thế giới mà còn mạnh mẽ hơn ở các quốc gia đang phát triển nh Việt Nam.
I.2. Khái niệm chung về dịch vụ.
1. Định nghĩa dịch vụ
- 4 -
Ngành
Năm
Công nghiệp và
xây dựng
Dịch vụ Nông lâm ng
nghiệp
2002 38.5% 38.5% 23%
2003 39.9% 37.8% 22.3%
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Từ trớc đến nay có rất nhiều khái niệm về dịch vụ, đây là vấn đề đã đợc quan tâm từ
rất sớm, tuy ngành kinh doanh này ra đời muộn hơn so với các ngành kinh doanh
khác nhng hoạt động dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trong lớn hơn trong tổng thu nhập
quốc dân.
Các Mác cho rằng: Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà
kinh tế hàng hóa phát triển mạnh đòi hỏi một sự lu thông hàng hóa trôi chảy, thông
suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con ngời thì dịch vụ phát
triển.
Theo kinh tế học: Dịch vụ là một khu vực kinh tế, bao gồm một tổ hợp rộng rãi
các ngành nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của sản xuất, của đời
sống vật chất và tinh thần của dân c, đảm bảo sự hoạt động bình thờng, liên tục,
đều đặn và có hiệu quả của nền kinh tế.
Theo nghĩa rộng dịch vụ đợc coi là ngành kinh tế thứ 3. Nh vậy ngành kinh tế nh
mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung gian giữa dịch vụ
và hàng hóa hiện hữu.
Tính không hiện hữu của dịch vụ gây rất nhiều khó khăn cho quản lý hoạt động sản
xuất cung cấp dịch vụ, khó khăn cho Marketing dịch vụ và cho việc nhận biết dịch
vụ.
Để nhận biết dịch vụ thông thờng phải tìm hiểu qua những đầu mối vật chất trong
môi trờng hoạt động dịch vụ, chẳng hạn các trang thiết bị, dụng cụ, trang trí nội thất,
ánh sáng, màu sắc, con ngời có quan hệ trực tiếp tới hoạt động cung cấp dịch vụ
của doanh nghiệp.
- Dịch vụ có tính không đồng nhất:
Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hoá đợc, lý do trớc hết là do hoạt động cung
ứng. Các nhân viên cung ứng không thể tạo đợc những dịch vụ nh nhau trong những
thời gian làm việc khác nhau. Hơn nữa khách hàng tiêu dùng dịch vụ là ngời tham gia
quyết định chất lợng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ. Trong những thời gian khác
nhau sự cảm nhận cũng khác nhau, những khách hàng khác nhau cũng có sự cảm
nhận khác nhau. Do vậy trong cung cấp dịch vụ thờng thực hiện cá nhân hoá, thoát ly
khỏi quy chế. Điều đó càng làm cho dịch vụ tăng thêm mức độ khác biệt giữa chúng.
Dịch vụ vô hình ở đầu ra nên không thể đo lờng và quy chuẩn hoá đợc. Vì những
nguyên nhân trên mà dịch vụ luôn luôn không đồng nhất, không giống nhau giữa một
dịch vụ này với một dịch vụ khác nhng những dịch vụ cùng loại chúng chỉ khác về l-
ợng trong sự đồng nhất để phân biệt với loại dịch vụ khác.
- Dịch vụ có tính không tách rời:
Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ. Các sản phẩm cụ thể là
không đồng nhất nhng đều mang tính hệ thống đều từ cấu trúc dịch vụ cơ bản phát
triển thành. Một sản phẩm dịch vụ cụ thể gắn liền với cấu trúc của nó và là kết quả
của quá trình hoạt động của hệ thống cấu trúc đó. Quá trình sản xuất gắn liền với việc
tiêu dùng dịch vụ. Ngời tiêu dùng cũng tham gia vào hoạt động sản xuất cung ứng
dịch vụ cho chính mình.
Từ đặc điểm trên ta thấy việc sản xuất cung ứng dịch vụ không đợc tuỳ tiện, trái lại
phải rất thận trọng. Phải có nhu cầu, có khách hàng thì quá trình sản xuất mới có thể
đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân là hết sức lớn 80%-90% và ngời ta gọi các
quốc gia này là những quốc gia ở trong thời đại hậu công nghiệp, điều này một phần
đã khẳng định vai trò kinh tế lớn lao của ngành dịch vụ.
3.2. Vai trò cụ thể.
- Dịch vụ là cầu nối giữa đầu ra và đầu vào trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Dịch vụ phát triển thúc đẩy phân công lao động xã hội, thúc đẩy quá trình chuyên
môn hoá, tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất tăng năng suất lao động, đồng thời đáp
ứng đợc nhu cầu ngày càng đa dạng của đời sống xã hội, nâng cao chất lợng cuộc
sống cho cộng đồng.
- Phát triển dịch vụ tạo ra nhiều ngành kinh doanh mới, tạo nhiều việc làm.
- Dịch vụ phát triển làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hớng tối u, đảm bảo sự tăng tr-
ởng của tổng sản phẩm trong nớc.
- Dịch vụ đóng vai trò to lớn trong việc giải phóng phụ nữ, một lực lợng quan trọng
mà các nớc văn minh hiện đang có xu hớng tiến tới bình đẳng giữa nam và nữ, khai
thác tiềm năng lao động lớn lao này.
- Dịch vụ đóng vai trò thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, nâng
cao dân chí và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
- Phát triển dịch vụ quốc tế trong hoạt động thơng mại có vai trò là cầu nối giữa nền
kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho quá trình hợp tác hội nhập.
I.3. Dịch vụ quốc tế.
1. Sự mở rộng giới hạn địa lý trong kinh doanh dịch vụ.
- 7 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hoạt động giao lu kinh tế quốc tế, buôn bán ngoại thơng đã xuất hiện từ rất lâu trên
thế giới. Từ thời kỳ con đờng tơ lụa với hoạt động buôn bán giao lu giữa Trung
Quốc và ấn Độ cho đến thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ t bản chủ nghĩa, rồi thời kỳ
khai thác các nớc thuộc địa á, Phi, Mỹ La Tinh của đế quốc thực dân Anh, Pháp và
cho đến ngày nay hoạt động buôn bán quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
3. Vai trò của dịch vụ quốc tế.
Nó mang đầy đủ vai trò của ngành dịch vụ nói chung nh vai trò phục vụ xã hội, vai
trò kinh tế bên cạnh đó nó dịch vụ quốc tế còn một số vai trò đặc trng nh:
- 8 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Thúc đẩy quá trình hội nhập hợp tác kinh tế giữa các quốc gia, các khu vực trên
thế giới.
- Là chất xúc tác thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, buôn bán ngoại thơng phát
triển.
- Giúp các quốc gia triệt để tận dụng những lợi thế của mình so với các quốc gia
khác đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn thế giới.
-Rút ngắn sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia đã phát triển
với các quốc gia kém phát triển.
- Đẩy nhanh sự phân công lao động quốc tế, tạo nhiều việc làm với thu nhập cao
góp phần nâng cao mức sống của dân c.
- Tăng cờng các hoạt động giao lu văn hoá giữa các quốc gia có nền văn hoá khác
nhau trên thế giới.
- Thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các hiệp hội hợp tác kinh tế trong khu vực và
trên thế giới.
II. Cơ sở lý luận về dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập
khẩu.
II.1. Khái niệm chung về dịch vụ vận tải quốc tế.
1. Định nghĩa phân loại vận tải.
1.1. Định nghĩa.
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con ngời nhằm đáp ứng nhu cầu
di chuyển vị trí của đối tợng vận chuyển. Đối tợng vận chuyển gồm con ngời và vật
phẩm (hàng hóa). Sự di chuyển vị trí của con ngời và vật phẩm trong không gian rất
đa dạng phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải. Vận tải chỉ bao gồm
những di chuyển do con ngời tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng
trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng trải qua sự thay đổi vật chất nhất
định.Vì vậy, C. Mác nói: Ngoài ngành khai khoáng, ngành nông nghiệp và công
nghiệp chế biến ra, còn có một ngành sản xuất vật chất thứ t nữa, ngành đó cũng trải
qua ba giai đoạn sản xuất khác nhau là thủ công nghiệp, công trờng thủ công và cơ
khí. Đó là ngành vận tải không vận tải ngời hay vận tải hàng hóa
Là ngành sản xuất vật chất nên vận tải cũng có sản phẩm của riêng mình đó là sự di
chuyển của con ngời và vật phẩm trong không gian. Sản phẩm vận tải cũng là hàng
hóa, cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hóa là lợng lao động xã hội
cần thiết kết tinh trong hàng hóa đó. Giá trị sử dụng của sản phẩm vận tải là khả năng
đáp ứng nhu cầu di chuyển. Tuy nhiên so với các ngành sản xuất vật chất khác,
ngành vận tải có những điểm khác biệt về quá trình sản xuất, về sản phẩm và tiêu thụ
sản phẩm, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Môi trờng sản xuất của vận tải là không gian, luôn di động chứ không cố định nh
các ngành khác;
- Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tợng lao
động chứ không phải là sự tác động về mặt kỹ thuật, do đó không làm thay đổi hình
dáng kích thớc của đối tợng.
- Sản phẩm của vận tải mang tính vô hình.
- Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ
làm thay đổi vị trí của hàng hóa và qua đó cũng làm tăng giá trị của hàng hóa.
Từ những đặc điểm trên C. Mác cho rằng vận tải là một ngành sản xuất đặc biệt.
3. Vai trò tác dụng của vận tải trong nền kinh tế quốc dân.
Vận tải giữ vai trò rất quan trọng và có tác dụng to lớn đối với nền kinh tế quốc dân
của mỗi nớc. Hệ thống vận tải đợc ví nh mạch máu của cơ thể con ngời, nó phản ánh
trình độ phát triển của một nớc. Vận tải phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội: sản xuất, lu thông, tiêu dùng, quốc phòng. Trong sản xuất ngành vận tải vận
chuyển nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, lao động để phục vụ quá
- 10 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quốc tế đợc coi là lĩnh vực xuất nhập khẩu vô hình, nó có thể góp phần cải thiện hoặc
làm trầm trọng thêm cán cân thanh toán quốc tế của một nớc.
II.2. Dịch vụ giao nhận ra đời từ sự chuyên môn hoá trong cung ứng dịch vụ
vận tải quốc tế
Đặc điểm nổi bật của buôn bán quốc tế là ngời mua và ngời bán ở những nớc khác
nhau. Sau khi hợp đồng mua bán đợc ký kết, ngời bán thực hiện việc giao hàng, tức
hàng hóa đợc vận chuyển tứ ngời bán sang ngời mua. Để quá trình vận chuyển đó bắt
đầu đợc, tiếp tục và kết thúc đợc, tức hàng hóa đến tay ngời mua đợc, cần phải thực
hiện hàng loạt các công việc khác liên quan đến quá trình chuyên chở, nh bao gói,
- 11 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đóng gói, lu kho, đa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải
hàng hóa dọc đờng, dỡ hàng hóa ra khỏi tàu và giao cho ngời nhận.
Lúc đầu khi hoạt động buôn bán ngoại thơng cha phát triển, những công việc trên
đợc các hãng cung ứng dịch vụ vận tải quốc tế đảm nhận. Đến khi thơng mại quốc tế
phát triển mạnh mẽ, lợng hàng xuất nhập khẩu lớn, các hãng cung ứng dịch vụ vận tải
quốc tế nhận thấy rằng: nếu chỉ chuyên môn hoá vào việc vận tải hàng hóa thôi thì
hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn bởi vì hai lý do, thứ nhất là: thơng mại quốc tế phát triển,
lợng hàng hóa xuất nhập khẩu nhiều đòi hỏi hãng vận tải phải mở rộng quy mô, quy
mô lớn lên dẫn đến chi phí cố định phân bổ giảm dần và đạt tới điểm tối u. Thứ hai
là: theo hiệu ứng đờng cong kinh nghiệm, nếu chỉ chuyên vào việc vận tải hàng hóa
sẽ làm giảm tiếp cả chi phí biến đổi dẫn đến việc đạt đợc hiệu quả cao trong kinh
doanh. Chính vì vậy những công việc giao nhận trên đã tách ra và phát triển thành
một ngành kinh doanh riêng và do ngời giao nhận đảm nhiệm. Từ đó, trong vận tải
hàng hóa quốc tế xuất hiện sự chuyên môn hoá gồm hai ngành kinh doanh, ngành
vận tải quốc tế và ngành giao nhận.
II.3. Định nghĩa giao nhận và ngời giao nhận.
1. Định nghĩa về giao nhận.
Dịch vụ giao nhận, theo Quy tắc mẫu của FIATA (Liên đoàn quốc tế các hiệp hội
mỗi hàng hóa lại có đặc điểm riêng và đợc giao nhận theo nhng phơng thức cụ thể.
Tuy vậy tất cả đều có yêu cầu chung khi giao nhận đó là giao nhận hàng hóa phải
nhanh gọn, giao nhận phải bảo đảm tính chính xác và an toàn, phải đảm bảo chi phí
giao nhận thấp.
2. Phạm vi của dịch vụ giao nhận.
Phạm vi của dịch vụ giao nhận là nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận. Trừ khi
bản thân ngời gửi hàng muốn trực tiếp tự mình thực hiện dịch vụ giao nhận, thông th-
ờng ngời giao nhận thay mặt ngời gửi hàng (hoặc ngời nhận hàng) lo liệu quá trình
vận chuyển hàng hóa qua các công đoạn cho đến tay ngời nhận cuối cùng. Ngời giao
nhận có thể làm dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của
ngời thứ ba khác. Phạm vi của dịch vụ giao nhận đợc thể hiện ở các công việc sau:
tính cớc, gom hàng, bảo hiểm vận tải, giám định chất lợng, lên kế hoạch xếp hàng
theo lịch tàu, lu kho, dịch vụ vận chuyển bằng ô tô, cấp chứng từ xuất, đóng gói (đối
với lô hàng xuất); thuê tàu lu khoang, thông báo cho ngời nhận, dỡ hàng và xử lý
hàng nhập, khai báo hải quan hay chuyển tiếp hàng quá cảnh, lu kho và phân phối
hàng, giao hàng tại địa phơng, gián nhãn hiệu, khảo sát đơn hàng (đối với lô hàng
nhập).
Tiếp sau đây sẽ trình bày về những dịch vụ mà ngời giao nhận tiến hành:
- Chuẩn bị hàng để chở
- Tổ chức chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga cảng
- Tổ chức xếp dỡ hàng hóa
- Làm t vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hóa
- Ký kết hợp đồng vận tải với ngời chuyên chở, thuê tàu, lu cớc
- Làm các thủ tục gửi hàng, nhận hàng
- Làm thủ tục hải quan kiểm nghiệm kiểm dịch
- Mua bảo hiểm cho hàng hóa
- Lập chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng, thanh toán
- Thanh toán, thu đổi ngoại tệ
- Nhận hàng từ chủ hàng giao cho ngời chuyên chở và giao cho ngời nhận
- Thu xếp chuyển tải hàng hóa
2.Vai trò.
Ngày nay do sự phát triển container, vận tải đa phơng thức, ngời giao nhận không
chỉ làm đại lý, ngời nhận uỷ thác mà còn cung cấp dịch vụ vận tải và đóng vai trò nh
một bên chính (principal) ngời chuyên chở (carrier).
Ngời giao nhận đã làm chức năng và công việc của những ngời sau đây:
- Môi giới hải quan
Thuở ban đầu ngời giao nhận chỉ hoạt động ở trong nớc. Nhiệm vụ của ngời giao
nhận lúc bấy giờ là làm thủ tục hải quan đối với hàng nhập khẩu. Sau đó anh ta mở
rộng hoạt động phục vụ cả hàng xuất khẩu và dành chỗ chở hàng trong vận tải quốc
tế hoặc lu cớc với các hãng tàu theo uỷ thác của ngời xuất khẩu hoặc ngời nhập khẩu
tuỳ thuộc vào quy định của hợp đồng mua bán. trên cơ sở đợc Nhà nớc cho phép, ng-
ời giao nhận thay mặt ngời xuất khẩu, nhập khẩu để khai báo, làm thủ tục hải quan
nh một môi giới hải quan.
- Đại lý (Agent)
- 14 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trớc đây ngời giao nhận không đảm nhận trách nhiệm của ngời chuyên chở. Anh ta
chỉ hoạt động nh một cầu nối giữa ngời gửi hàng và ngời chuyên chở nh là một đại lý
của ngời chuyên chở hoặc của ngời gửi hàng. Ngời giao nhận nhận uỷ thác từ chủ
hàng hoặc từ ngời chuyên chở để thực hiện các công việc khác nhau nh nhận hàng,
giao hàng, làm thủ tục hải quan, lu kho trên cơ sở hợp đồng uỷ thác.
- Ngời gom hàng (Consolidator).
ở châu âu, ngời giao nhận từ lâu đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho
vận tải đờng sắt. Đặc biệt trong vận tải hàng hóa bằng container dịch vụ gom hàng là
không thể thiếu đợc nhằm biến hàng lẻ thành hàng nguyên để tận dụng sức chở của
container và giảm cớc phí vận tải. Khi là ngời gom hàng ngời giao nhận có thể đóng
vai trò là ngời chuyên chở hoặc chỉ làm đại lý.
- Ngời chuyên chở (Carrier).
Ngày nay trong nhiều trờng hợp ngời giao nhận đóng vai trò là ngời chuyên chở,
- Đóng gói hàng (trừ khi việc này do ngời gửi hàng thực hiện trớc khi giao hàng cho
ngời giao nhận) có tính đến tuyến đờng, phơng thức vận tải, bản chất hàng hoá và các
luật lệ áp dụng nếu có ở nớc xuất khẩu, các nớc chuyển tải và nớc đến.
- Sắp xếp việc lu khoang hàng hoá nếu cần.
- Cân, đo hàng.
- Lu ý ngời gửi hàng về nhu cầu mua bảo hiểm và nếu ngời gửi hàng yêu cầu, sẽ lo
liệu mua bảo hiểm hàng.
- Vận chuyển hàng vào cảng, sắp xếp việc khai hải quan, lo các thủ tục chứng từ
liên hệ và giao hàng cho ngời vận tải.
- Lo việc giao dịch hối đoái nếu có.
- Thanh toán chi phí và các phí tổn khác, bao gồm cớc phí.
- Nhận vận đơn có ký tên của hãng tàu và giao cho ngời nhận hàng.
- Thu xếp việc chuyển tải trên đờng đi nếu cần.
- Giám sát việc dịch chuyển hàng trên đờng tới ngời nhận hàng thông qua các cuộc
tiếp xúc với hãng tàu và đại lý của ngời giao nhận ở nớc ngoài đối với hàng.
- Ghi nhận các tổn thất hoặc mất mát h hỏng đối với hàng hoá(nếu có).
- Giúp đỡ ngời gửi hàng tiến hành việc khiếu nại với ngời vận chuyển về tổn thất
hàng(nếu có).
2. Thay mặt ngời nhận hàng hay ngời nhập khẩu.
- Thay mặt ngời nhận hàng giám sát việc chuyển dịch hàng khi ngời nhận hàng lo
việc vận tải hàng nh nhập khẩu theo FOB chẳng hạn.
- Nhận và kiểm soát mọi chứng từ thích hợp liên quan đến việc chuyển dịch hàng.
- Nhận hàng từ ngời vận tải và nếu cần, trả cớc phí.
- Sắp xếp việc khai hải quan và trả thuế, lệ phí và các chi phí khác cho hải quan và
các cơ quan công quyền khác.
- Sắp xếp việc lu kho quá cảnh nếu cần.
- Giao hàng đã làm thủ tục hải quan cho ngời nhận.
- Giúp đỡ ngời nhận hàng tiến hành khiếu nại đối với hãng tàu về mất mát hàng hay
bất cứ h hại nào đối với hàng.
- Giúp ngời nhận hàng trong việc lu kho và phân phối hàng nếu cần.
nhập khẩu do đó ảnh hởng tới cầu và cơ cấu cầu của thị trờng giao nhận.
Tổng số dân và cơ cấu dân c của các nớc có mối quan hệ ngoại thơng với Việt Nam
ảnh hởng tới kim ngạch xuất khẩu và cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu do đó nó ảnh h-
ởng mạnh tới hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.
Khi xem xét các yếu tố thuộc môi trờng nhân khẩu với vai trò là ngời kinh doanh
trên thị trờng công nghiệp không thể bỏ qua những yếu tố nhân khẩu của tổ chức
khách hàng.
Những Thông tin về tổng số lợng cán bộ công nhân viên, cơ cấu tuổi, giới tính của
tổ chức khách hàng có ảnh hởng và chi phối mạnh mẽ tới quyết định mua của tổ chức
đó. Chính vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về tổ chức khách hàng theo các chỉ tiêu
của nhân khẩu học là hết sức cần thiết và hữu ích.
2. Môi trờng tự nhiên
Những yếu tố thuộc môi trờng tự nhiên nh: địa hình, khí hậu, thời tiết, tình trạng ô
nhiễm môi trờng, khan hiếm nhiên liệu năng lợng ... có sự ảnh hởng mạnh mẽ tới
ngành kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.
- 17 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sự ảnh hởng đầu tiên thể hiện ở chỗ: yếu tố tự nhiên ảnh hởng tới lợi thế so sánh về
các sản phẩm xuất nhập khẩu do đó nó ảnh hởng đến ngành dịch vụ giao nhận.
Điều kiện tự nhiên có ảnh hởng quyết định tới các hình thức vận tải có thể đợc sử
dụng.Việt Nam có bờ biển dài thuận lợi phát triển phơng thức vận tải hàng hoá xuất
nhập khẩu bằng đờng biển, có mật độ sông ngòi lớn phát triển vận tải thuỷ nội địa, có
đờng biên giới kế cận nhiều nớc và với địa hình dài, hẹp thuận lợi phát triển vận tải đ-
ờng sắt Bắc Nam, đờng sắt xuyên Việt.
Kinh doanh dịch vụ giao nhận chịu ảnh hởng trực tiếp của sự phát triển ngành vận
tải, ngành vận tải tới lợt mình chịu sự tác động mạnh mẽ bởi giá xăng dầu, nhiên liệu,
năng lợng.
Ngày nay, sự thiếu hụt tài nguyên, nhiên liệu năng lợng đang là một vấn đề bức xúc
trên toàn thế giới, giá nhiên liệu năng lợng liên tục gia tăng ảnh hởng mạnh mẽ tới
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tóm lại, một quốc gia có nền chính trị và pháp luật ổn định, trật tự xã hội dợc duy
trì thì đây chính là một môi trờng thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, các
doanh nghiệp trong và ngoài nớc yên tâm mạnh dạn đầu t, phát triển hoạt động sản
xuất kinh doanh mà không lo gặp những rủi ro bất khả kháng xuất phát từ sự mất ổn
định về chính trị và pháp luật.
5. Môi trờng công nghệ.
Môi trờng công nghệ tác động tới vận tải biển, vận tải đờng không, vận tải ô tô, vận
tải đờng sắt, tới việc xếp dỡ hàng hóa, tới bảo quản hàng hóa do đó ảnh h ởng nhiều
mặt tới hoạt động giao nhận.
Sự ra đời của những tàu biển công suất lớn, những máy bay chuyên dụng chở những
hàng hóa đặc biệt, hệ thống giao thông phát triển thúc đẩy vận tải ô tô, sự ra đời của
đờng sắt cao tốc rút ngắn thời gian vận chuyển bằng đờng sắt tất cả những tiến bộ
công nghệ đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển ngành dịch vụ giao nhận.
Một cuộc cách mạng công nghệ có ý nghĩa hết sức to lớn đối với ngành giao nhận
đó là cuộc cách mạng container trong những năm 60, sự ra đời của tàu chuyên dụng
chở container kiểu tổ ong( cellular container vessels), tàu Ro- Ro, cần cẩu giàn
(gantry cranes ) đã tạo ra năng suất lao động cao trong ngành vận tải biển, giải
quyết đợc tình trạng ùn tắc tại các cảng.
6. Môi trờng văn hoá.
Văn hoá là một trong hai lực lợng quyết định tới mong muốn của khách hàng. Xã
hội mà con ngời lớn lên trong đó đã định hình niềm tin cơ bản, giá trị và các chuẩn
mực đạo đức của họ. Con ngời hấp thụ, hầu nh một cách không có ý thức, một thế
giới quan xác định mối quan hệ của họ với chính bản thân mình, với ngời khác, với tự
nhiên và với vũ trụ.
Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, các đối tác có liên quan đến hoạt động của
công ty có thể ở những quốc gia khác nhau với nền văn hoá không giống nhau. Chính
vì lẽ đó, để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, công ty nhất thiết trong từng mối
quan hệ phải tìm hiểu văn hoá của đối tác có nh vậy mới biết đợc đâu là những giá trị
tiêu riêng nhng luôn luôn sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu chung của toàn công ty có nh
vậy công ty mới trở thành một thể thống nhất, một khối đoàn kết phấn đấu đa công ty
phát triển ngày càng cao xa hơn.
2. Nhà cung ứng.
Bản thân công ty TOP cung ứng dịch vụ cho khách hàng thông qua việc thuê các
nhà cung ứng khác nh: các hãng tàu, hãng hàng không cung cấp dịch vụ vận tải từ
cảng tới cảng, hãng vận tải ô tô, hãng đờng sắt, vận tải thuỷ nội địa để vận chuyển
hàng hóa từ kho tới cảng và ngợc lại từ cảng về kho. Ngoài ra, trong quá trình đó tuỳ
theo yêu cầu của khách hàng, công ty có thể sẽ sử dụng thêm các dịch vụ kho bãi
kiểm dịch, đóng gói hàng hóa của các hãng cung ứng để đáp ứng nhu cầu của
khách hàng.
Nh vậy là hoạt động kinh doanh của công ty gần nh phụ thuộc hoàn toàn vào các
nhà cung ứng, công ty có rất ít quyền chủ động do đó chịu sự chi phối mạnh mẽ của
các nhà cung ứng. Những hoạt động làm thiệt hại cho nhà cung ứng đối với công ty
nh một thảm hoạ, nếu nhà cung ứng quyết định tẩy chay công ty thì không khác gì
một án tử hình với công ty.
ảnh hởng của nhà cung ứng, có thể nói là vừa mang tính trực tiếp, liên tục vừa
mang tính quyết định tới hoạt động kinh doanh của công ty giao nhận.
3. Đối thủ cạnh tranh.
Trong kinh doanh, không có một ngành nào là không phải đối mặt với cạnh tranh
chính cạnh tranh sẽ thúc đẩy ngành ngày càng phát triển và cạnh tranh giống nh một
chiếc máy chọn lọc tự nhiên, ai thắng trong cạnh tranh thì tồn tại, bại thì tất yếu sẽ bị
đào thải và kết quả là những doanh nghiệp còn tồn tại trên thị trờng là những doanh
- 20 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp có đầy đủ năng lực, có khả năng thoả mãn tốt nhu cầu và mong muốn của
khách hàng.
Trong kinh doanh dịch vụ giao nhận, bên cạnh việc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp giao nhận với nhau còn có sự cạnh tranh giữa ngành giao nhận và ngành vận
đó mới có đợc uy tín và sẽ thu hút đợc nhiều khách hàng mới.
Tóm lại, khách hàng có ảnh hởng quyết định tới hoạt động kinh doanh của công ty,
công ty cần phải hớng mọi hoạt động của mình tới khách hàng, vì khách hàng và sự
thoả mãn của họ.
IV. Các tổ chức giao nhận trên thế giới và ở Việt Nam.
IV.1. Trên thế giới.
- 21 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1. Tổ chức các cơ quan giao nhận trên thế giới.
Ngay từ năm 1522, hãng giao nhận đầu tiên trên thế gới đã xuất hiện ở Badiley,
Thuỵ Sỹ, với tên gọi E. Vansai. Hãng này kinh doanh cả vận tải giao nhận và thu phí
giao nhận rất cao, khoảng 1/3 giá trị hàng hóa.
Cùng với sự phát triển của vận tải và buôn bán quốc tế, giao nhận đợc tách khỏi vận
tải và buôn bán, dần dần trở thành một ngành kinh doanh độc lập. Đặc điểm chính
của các tổ chức giao nhận thời kỳ này là: hầu hết là các tổ chức t nhân, đa số các
hãng kinh doanh giao nhận tổng hợp, các hãng thờng kết hợp giữa giao nhận nội địa
và quốc tế, các sự chuyên môn hoá về giao nhận theo khu vực đại lý hay mặt hàng,
cạnh tranh gay gắt lẫn nhau.
Sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty giao nhận dẫn đến sự ra đời các hiệp hội
giao nhận trong phạm vi một cảng, một khu vực hay một nớc. Trên phạm vi quốc tế
hình thành các liên đoàn giao nhận, ví dụ: liên đoàn những ngời giao nhận nhận Bỉ,
Hà Lan, Mỹ đặc biệt là Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận gọi tắt là
FIATA.
2. Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận.
Liên đoàn quốc tế các hiệp hội giao nhận ( FIATA), thành lập năm 1926 là một tổ
chức giao nhận vận tải lớn nhất thế giới. FIATA là một tổ chức phi chính trị, tự
nguyện, là đại diện của 35.000 công ty giao nhận ở 130 nớc trên thế giới. Thành viên
của FIATA là các hội viên chính thức và các hội viên hợp tác. Hội viên chính thức là
liên đoàn giao nhận của các nớc còn hội viên hợp tác là các công ty giao nhận riêng
Điều kiện tự nhiên:
Việt Nam với trên 3600 km bờ biển, cùng với khoảng 80 cảng biển lớn nhỏ trong
đó có một số cảng lớn nh cảng Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Cam
Ranh Mặt khác Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của vùng Đông Nam á - Một
vùng đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về mọi mặt nh: kinh tế, văn hoá, xã hội -, là
đầu mối giao lu kinh tế quốc tế với hầu khắp các nớc trên thế giới. Đây là yếu tố thu
hút các đội tàu lớn trên thế giới neo đậu tại các bến cảng của Việt Nam tạo diều kiện
thuận lợi cho sự ra đời của ngành giao nhận Việt Nam.
Điều kiện kinh tế:
Sau đại hội Đảng VI, năm 1986, dới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng và Nhà Nớc nền
kinh tế nớc ta chuyển hớng từ một nền kinh tế hoat động theo cơ chế kế hoạch hoá
tập trung quan liêu bao cấp sang một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa dới sự quản lý của nhà nớc và sự lãnh đạo của Đảng.
Đại hội VI nh một chiếc chìa khoá vàng đã mở cánh cửa kinh tế nớc ta vốn vẫn
khép chặt từ lâu. Từ đây, quan hệ kinh tế quốc tế nớc ta nh nắng hạn gặp ma, bắt đầu
phát triển mạnh mẽ. Hoạt động giao lu, buôn bán với nớc ngoài vì thế mà phát triển,
cụ thể là hoạt động xuất nhập khẩu.
Trong quan hệ kinh tế ngoại thơng, trong hoạt động xuất nhập khẩu, hàng hoá đợc
sản xuất ở nớc này lại đợc tiêu thụ bên ngoài biên giới nớc đó. Do vậy hàng hoá cần
đợc vận chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác qua mạng lới dịch vụ vận tải
quốc tế.
Lúc đầu các nhà xuất nhập khẩu có thể tự mình tổ chức ra những bộ phận chuyên
trách để thực hiện các công việc liên quan đến vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu nh:
thuê tàu, đóng gói hàng hoá, làm thủ tục hải quan, thuê kho bãi
Về sau, cùng với quá trình chuyên môn hoá sâu rộng, các nhà xuất nhập khẩu của
Việt Nam muốn tập trung nguồn lực của mình vào quá trình sản xuất do họ nhận thấy
việc đầu t cho quá trình phân phối không đem lại hiệu quả cao. Từ đây, nhu cầu về sự
ra đời của những chuyên gia giao nhận kho vận xuất hiện.
- 23 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mình một hệ thống những mối liên kết riêng. Những liên kết đó là điều kiện tồn tại
của mỗi cá thể.
Có thể đa ra một ví dụ đơn giản nh sau: một cây xanh không thể tồn tại và phát
triển một cách biệt lập, nó, một cách tự nhiên, phải thiết lập cho mình một hệ thống
các mối liên kết làm điều kiện cho sự tồn tại và phát triển.
Những mối liên kết cơ bản trong hệ thống đó là: quan hệ giữa cây và đất, cây với n-
ớc, với không khí, với ánh sáng mặt trời cây cần đ ợc trồng xuống đất để trao đổi
chất với đất, cây cần nớc, không khí và ánh sáng để quang hợp. Cây chỉ có thể sống
đợc khi có đầy đủ những mối liên kết cơ bản đó.
- 24 -
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mở rộng ra, trong xã hội loài ngời, không có một cá nhân nào cá thể tồn tại một
cách biệt lập mà trái lại mỗi cá nhân luôn tự xây dựng, thiết lập cho mình một hệ
thống các mối quan hệ riêng có tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của chính
mình.
Vậy quan hệ là gì?
Ta có thể hiểu: Quan hệ là khái niệm chỉ sự liên quan, sự ràng buộc, phụ thuộc và
tác động qua lại lẫn nhau, có ảnh hởng tới sự tồn tại và phát triển của nhau giữa hai
hoặc nhiều chủ thể quan hệ.
2. Vai trò của các mối quan hệ trong kinh doanh.
Hơn bất kỳ một lĩnh vực nào, trong kinh doanh, quan hệ có vai trò vô cùng quan
trọng. Một chủ thể sản xuất kinh doanh, muốn tồn tại và phát triển, không thể không
thiết lập cho mình một hệ thống các mối quan hệ. Với hệ thống các mối quan hệ đó,
doanh nghiệp tác động qua lại với các đối tác kinh doanh phục vụ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp mình và cả những đối tác đó. Quan hệ là
điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một chủ thể kinh tế nào.
Khi mà các chủ thể nhận thấy tầm quan trọng và sự cần thiết phải thiết lập mối
quan hệ với nhau họ sẽ cố gắng cùng nhau xây dựng, duy trì và củng cố mối quan hệ
đó.