Vụ tranh chấp bán phá giá cá tra, cá basa và bài học kinh nghiệm đối với hàng xuất khẩu Việt Nam - Trịnh Thị Vân Anh - Pdf 73

Khoá luận tốt nghiệp
Lời nói Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hoá, thơng mại quốc tế ngày càng
trở nên phát triển và đi cùng với nó là những mặt trái, trong đó có vấn đề cạnh
tranh không lành mạnh. Sự khốc liệt trong thơng mại đã khiến các doanh
nghiệp, các cá nhân khi tham gia thơng mại áp dụng nhiều biện pháp cạnh tranh
không lành mạnh trong đó có việc bán phá giá hàng hoá của mình ra thị trờng
nớc ngoài nhằm tiêu thụ đợc nhiều sản phẩm và đã gây ra nhiều thiệt hại cho
ngành sản xuất của những nớc nhập khẩu. Để đối phó với hoạt động cạnh tranh
không lành mạnh đó, các quốc gia đã dựa trên các quy định của GATT về vấn
đề bán phá giá và chống bán phá giá để ban hành luật chống bán phá giá của
mình. Luật chống bán phá giá đã thực sự là một biện pháp hữu hiệu tạo ra môi
trờng cạnh tranh bình đẳng. Tuy nhiên có một vấn đề là luật chống bán phá giá
khi bị lạm dụng lại trở thành một biện pháp bảo hộ đi ngợc lại những quy tắc cơ
bản của thơng mại thế giới. Có thể nói vấn đề bán phá giá và chống bán phá giá
đang là một vấn đề phức tạp, gây nhiều bàn cãi trong các chơng trình nghị sự
của Tổ chức Thơng Mại Thế Giới (WTO). Thế nhng đây lại là vấn đề hết sức
mới mẻ đối với các doanh nghiệp Việt Nam và hầu hết đều không hiểu những
tác động có thể có của nó đối với mình. Chỉ đến khi các doanh nghiệp Mỹ kiện
các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá tra và cá basa thì họ mới thấy đợc
tầm quan trọng của việc tìm hiểu về vấn đề bán phá giá và luật bán phá giá của
các quốc gia. Sự kiện này đặt ra tính cấp thiết của việc hiểu rõ về vấn đề bán
phá giá và chống bán phá giá. Chính vì vậy mà em chọn đề tài "Vụ tranh chấp
bán phá giá cá tra, cá basa và bài học kinh nghiệm đối với hàng xuất khẩu Việt
Nam" với mong muốn làm sáng tỏ thêm về vấn đề vốn rất phức tạp này.
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
1
Khoá luận tốt nghiệp
2. Mục đích của đề tài.
Giới thiệu những vấn đề cơ bản về bán phá giá, chống bán phá giá cùng với

chơng I
Những lí luận cơ bản về bán phá giá và chống bán phá giá.
I. Những lí luận cơ bản về bán phá giá.
Vấn đề bán phá giá và chống bán phá giá bát đầu đợc đa ra thảo luận tại
Hiệp Kenedy (1964-1967) và Hiệp Tokyo (1973-1979) thuộc Các vòng đàm
phán của GATT (Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch). Đây là giai đoạn
mà thơng mại quốc tế đang phát triển rất mạnh mẽ, các quốc gia phát triển tăng
cờng xuất khẩu sang các nớc đang phát triển. Họ thờng sử dụng các biện pháp
trợ cấp, trợ giá đối với các sản phẩm, nhất là những sản phẩm nông nghiệp của
mình để tăng cờng sức cạnh tranh của hàng hoá khi tham dự vào thơng mại thế
giới. Hàng hoá của những nớc này ồ ạt đổ vào nớc đang phát triển - nơi giờ đây
là thị trờng lý tởng cho các nớc phát triển cạnh tranh nhau. Để đối phó với tình
trạng nay, đến đầu thập kỷ 80, các nớc đang phát triển đã bắt đầu ban hành luật
điều chỉnh việc bán phá giá cùng những biện pháp chống lại các hoạt động này
nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nớc. Các nớc đang phát triển rất quan tâm tới
việc đánh giá đúng giá thành của sản phẩm, rằng sản phẩm đợc bán ra với giá
không thấp hơn giá thành hay giá bán trên thị trờng nội địa và tìm mọi cách để
ngăn ngừa những hành vi lẩn tránh các biện pháp chống bán phá giá. Đồng thời
họ cũng chú trọng đến việc đảm bảo rằng những biện pháp chống bán phá giá
không bị lạm dụng nhằm bảo hộ nền sản xuất trong nớc mà chỉ giới hạn ở mức
cần thiết (thuế chống bán phá giá không nhất thiết phải cao bằng mức phá giá
mà có thể chỉ ở mức đợc xác định là cần thiết).
Đến hiệp Uruguay (1986-1994), vấn đề về bán phá giá và chống bán phá
giá đã đợc thống nhất lại khi các quốc gia thành viên của GATT cùng nhau đặt
bút ký vào Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và th-
ơng mại 1994. Trong đó có nhiều quy định chi tiết và chặt chẽ từ việc xác định
vấn đề phá giá, trình tự một cuộc điều tra về bán phá giá đến các biện pháp tạm
thời và các biện pháp cuối cùng trong trờng hợp xác định có bán phá giá. Những
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
3

Theo Điều 2 Phần I Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp Định Chung Về
Thuế Quan Và Thơng Mại GATT 1994, một sản phẩm bị coi là bán phá giá
nếu nh giá xuất khẩu của sản phẩm đợc xuất khẩu từ một nớc này sang một nớc
khác thấp hơn mức giá có thể so sánh đợc của sản phẩm tơng tự đợc tiêu dùng
tại nớc xuất khẩu theo các điều kiện thơng mại thông thờng.
Hiệp Định còn quy định chi tiết rằng trong trờng hợp không có các sản phẩm
tơng tự đợc bán trong nớc theo các điều kiện thơng mại thông thờng tại nớc xuất
khẩu hoặc trong trờng hợp việc bán trong nớc đó không cho phép có sự so sánh
hợp lý do điều kiện đặc biệt của thị trờng đó hoặc do số lợng hàng bán tại thị tr-
ờng trong nớc của nớc xuất khẩu hàng hoá quá nhỏ, biên độ bán phá giá sẽ đợc
xác định thông qua so sánh với mức giá có thể so sánh đợc của sản phẩm tơng
tự đợc xuất khẩu sang một nớc thứ ba thích hợp, với điều kiện là mức giá có thể
so sánh này mang tính đại diện; hoặc đợc xác định thông qua so sánh với chi
phí sản xuất tại nớc xuất xứ hàng hoá cộng thêm một khoản hợp lý chi phí quản
trị, bán hàng, các chi phí chung và một khoản lợi nhuận; hoặc trong trờng hợp
không tồn tại mức giá xuất khẩu hoặc cơ quan có thẩm quyền hữu quan thấy
rằng mức giá xuất khẩu không đáng tin cậy vì lý do nhà xuất khẩu hoặc một
bên thứ ba nào đó có quan hệ với nhau hoặc có thoả thuận về bù trừ, giá xuất
khẩu có thể đợc diễn giải trên cơ sở mức giá khi sản phẩm nhập khẩu đợc bán ở
khâu đầu cho một ngời mua hàng độc lập hoặc nếu nh sản phẩm đó không đợc
bán lại hoặc không đợc bán lại theo các điều kiện giống với điều kiện nhập
khẩu hàng hoá thì mức giá có thể đợc xác định trên một cơ sở hợp lý do cơ quan
có thẩm quyền tự quyết định.
Từ quy định trên của GATT, Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) trong luật
mẫu về chống bán phá giá có một chút sửa đổi trong cách hiểu về bán phá giá,
theo đó sản phẩm bị điều tra sẽ bị coi là bán phá giá nếu sản phẩm đó đợc đa
vào lu thông tại thị trờng của nớc nhập khẩu với giá thấp hơn giá trị thông thờng
của sản phẩm đó. Sở dĩ có sự thay đổi nh vậy là vì việc so sánh giá xuất khẩu
với giá có thể so sánh đợc của sản phẩm tơng tự trong quy định của GATT là
quá cụ thể không bao gồm các trờng hợp đặc biệt và Hiệp định buộc phải quy

nghiên cứu thêm về giá xuất khẩu và giá trị thông thờng.
1.1. Giá xuất khẩu.
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
6
Khoá luận tốt nghiệp
Theo luật mẫu về chống bán phá giá của Tổ chức thơng mại thế giới (WTO),
giá xuất khẩu là giá thực tế phải trả hoặc có thể trả cho sản phẩm bị điều tra khi
bán ra nớc ngoài từ nớc xuất khẩu tới quốc gia điều tra. Trong trờng hợp không
có giá xuất khẩu hoặc trong trờng hợp dờng nh là đối với cơ quan điều tra, giá
xuất khẩu là không đáng tin cậy bởi vì có hiệp hội hoặc một thoả thuận bồi
hoàn giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu hoặc một bên thứ ba, thì giá xuất
khẩu có thể đợc xây dựng trên cơ sở giá ở đó sản phẩm nhập khẩu đợc bán lại
lần đầu tiên cho một bên mua độc lập; hoặc nếu sản phẩm không đợc bán lại
cho một bên mua độc lập hoặc không đợc bán lại trong điều kiện nh đợc nhập
khẩu, thì cơ quan điều tra có thể quy định giá xuất khẩu trên những cơ sở hợp
lý.
Ta có thể làm rõ hơn về giá xuất khẩu bằng cách phân tích những trờng hợp
sau:
1) Giá xuất khẩu tới những ngời nhập khẩu không liên kết:
Hàng hoá
Giá xuất khẩu đợc sử
dụng làm cơ sở để
xác định việc bán phá giá
2) Giá xuất khẩu tới nhà nhập khẩu có quan hệ với nhà xuất khẩu

GD1: 90$: giá XK không đáng tin cậy GD2: 100 $
Vì giá xuất khẩu trong giao dịch 1 là giá không đáng tin cậy, giá giao dịch 2
mới là giá đáng tin cậy do đó phải tính lại giá xuất khẩu (giả định tỷ lệ của
CFBH, CFQL trong giao dịch là 20% và của của lợi nhuận thông thờng là 10%).
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F

hiện trên hoá đơn thơng mại xuất khẩu gửi nhà nhập khẩu không liên
kết đầu tiên tại Hoa Kỳ.
Giá xuất khẩu giả định: là giá hàng hoá mà nhà nhập khẩu không liên
kết bán hàng hoá đó. Ví dụ: giá hàng hoá của một công ty con làm
chức năng phân phối cho một nhà xuất khẩu nớc ngoài bán cho ngời
mua không liên kết đầu tiên tại Hoa Kỳ. Cụ thể là hoá đơn do nhà
nhập khẩu hoặc nhà phân phối có liên kết với nhà sản xuất phát hành.
Ví dụ: nếu hoá đơn đợc phát hành dới tiêu đề của một công ty Hoa
Kỳ liên kết với một nhà xuất khẩu thì giá xuất khẩu giả định có thể sẽ
đợc áp dụng.
1.2. Giá trị thông thờng.
Sau khi đã xác định giá xuất khẩu của hàng hoá, bớc tiếp theo là phải xác
định giá trị thông thờng của hàng hoá đó. Giá trị thông thờng đợc thiết lập trên
cơ sở giá có thể so sánh đợc đã trả hoặc có thể trả, trong điều kiện thơng mại
bình thờng đối với sản phẩm tơng tự khi sản phẩm này đợc tiêu thụ tại nớc xuất
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
8
Khoá luận tốt nghiệp
xứ. Tuy nhiên, trong trờng hợp nhà xuất khẩu ở nớc xuất khẩu không sản xuất
hay không bán sản phẩm tơng tự, giá trị thông thờng có thể đợc thiết lập dựa
trên cơ sở giá của những ngời bán hàng hay những nhà sản xuất khác.
Các sản phẩm tơng tự đợc tiêu dùng trong nớc chỉ đợc sử dụng để xác định
giá trị thông thờng khi khối lợng bán hàng của chúng chiếm ít nhất 5% khối l-
ợng xuất khẩu của sản phẩm đó tại thị trờng nớc nhập khẩu. Ví dụ: Nếu mặt
hàng A đợc xuất khẩu ra thị trờng nớc ngoài với 100 đơn vị, và đợc tiêu thụ
trong nớc với 4 đơn vị = 4% lợng hàng xuất khẩu (quy định tối thiểu là 5%). Do
đó khối lợng mặt hàng A tiêu thụ ở nội địa sẽ không đợc xem xét trong việc
tính giá trị thông thờng của mặt hàng A.
Ngoài điều kiện trên thì mặt hàng tơng tự đợc tiêu dùng trong nớc còn phải
thoả mãn một điều kiện nữa là nó đợc bán trong điều kiện thông thờng, có nghĩa

Trờng hợp sản phẩm tơng tự không thoả mãn các điều kiện trên, tức là khi
không có hoặc không đủ lợng bán sản phẩm tơng tự theo tiến trình thơng mại
thông thờng, hoặc trong trờng hợp do tình hình cụ thể trên thị trờng khiến cho l-
ợng bán hàng nh vậy không cho phép việc so sánh phù hợp, giá trị thông thờng
của sản phẩm tơng tự sẽ đợc tính toán dựa trên cơ sở chi phí sản xuất ở nớc xuất
xứ cộng với một lợng hợp lý chi phí bán hàng, chi phí nói chung, chi phí hành
chính và lợi nhuận, hoặc trên cơ sở giá xuất khẩu, theo tiến trình thơng mại
thông thờng, sang một nớc thứ ba phù hợp miễn là những mức giá nh vậy mang
tính đại diện. Khi số tiền trên không thể xác định theo cách này thì số tiền đó đ-
ợc xác định trên cơ sở nh sau:
(i) Số tiền thực tế phát sinh và đợc nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất
này chi tiêu trong quá trình sản xuất và bán hàng thuộc nhóm sản
xuất giống hệt tại thị trờng của nớc xuất xứ hàng hoá;
(ii) Bình quân gia quyền của số tiền thực tế phát sinh và đợc nhà sản
xuất hoặc xuất khẩu khác chi tiêu trong quá trình sản xuất và bán
sản phẩm tơng tự tại thị trờng của nớc xuất xứ hàng hoá;
(iii) Bất kỳ biện pháp hợp lý nào khác với điều kiện là mức lợi nhuận
các nhà xuất khẩu hoặc các nhà sản xuất khác thu đợc khi bán
hàng thuộc nhóm sản phẩm giống hệt hàng hoá trên tại thị trờng
của nớc xuất xứ hàng hoá.
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
10
Khoá luận tốt nghiệp
Về vấn đề tính giá trị thông thờng, luật chống bán phá giá của các quốc gia
hoàn toàn thống nhất với những quy định của Hiệp Định Thực Điều VI của
GATT. Đặc biệt luật các quốc gia đều có quy định giống nhau trong việc tính
giá trị thông thờng ở các nớc có nền kinh tế phi thị trờng. Theo đó, trong trờng
hợp nhập khẩu từ nớc có nền kinh tế phi thị trờng, giá trị thông thờng sẽ đợc xác
định dựa trên cơ sở giá có thể so sánh phải trả hoặc có thể trả, trong quá trình
thơng mại thông thờng, với lợng mua bán sản phẩm tơng tự dự kiến đợc tiêu thụ

điều tra lại đợc đối tợng điều tra tại nớc không có nền kinh tế thị trờng mua từ
những nhà cung cấp thuộc nền kinh tế thị trờng và thanh toán bằng đồng tiền
của nớc có nền kinh tế thị trờng, thì Bộ Thơng Mại Mỹ sẽ sử dụng giá thực tế đã
trả cho các nhân tố đầu vào này, nếu có, trớc khi sử dụng giá trị của nớc thay
thế.
Giá xuất khẩu và giá trị thông thờng sau khi đợc xác định sẽ đợc so sánh một
cách công bằng, trên cơ sở đó sẽ xác định liệu hàng hoá có bị bán phá giá hay
không. Việc xác định sẽ căn cứ trên biên phá giá. Biên phá giá là lợng chênh
lệch giữa giá trị thông thờng vợt qua giá trị xuất khẩu. Nếu biên phá giá vợt qua
mức giới hạn mà các quốc gia quy định thì hàng hoá đợc coi là có bán phá giá.
Và sau khi đánh giá mức độ thiệt hại, nớc nhập khẩu có thể áp dụng các biện
pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá của nhà xuất khẩu bị coi là có hành
động bán phá giá.
2. Mục đích của việc bán phá giá.
Mục tiêu của hành động bán phá giá là nhằm loại bỏ khỏi thị trờng hoặc
ngăn cản sự thâm nhập thị trờng của một doanh nghiệp hoặc một sản phẩm của
doanh nghiệp khác. Phá giá triệt tiêu mọi cạnh tranh, giúp cho sản phẩm của
doanh nghiệp bán phá giá dễ dàng xâm nhập rồi chiếm lĩnh thị trờng. Tuy
nhiên, mục tiêu bán phá giá của các công ty lớn hay các nớc phát triển và các
công ty nhỏ hay các nớc đang phát triển cũng có sự khác biệt. Đối với các công
ty nhỏ, các nớc đang phát triển, sản phẩm của họ thờng kém sức cạnh tranh và
họ buộc phải bán phá giá sản phẩm của mình mới mong bán đợc hàng hoá. Còn
đối với các công ty lớn của các quốc gia phát triển, mục tiêu của họ là nhằm
chiếm lĩnh và thống trị thị trờng. Các sản phẩm của họ thờng có u thế vợt trội về
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
12
Khoá luận tốt nghiệp
chất lợng, kỹ thuật, kiểu dáng, mẫu mã, nếu đợc bán phá giá sẽ dễ dàng đánh
bật các sản phẩm cùng loại của các đối thủ khác. Một khi đã xâm nhập đợc vào
thị trờng nhập khẩu, nhà nhập khẩu sẽ có thể hoàn toàn khống chế và chiếm

toàn có thể dễ dàng thực hiện đợc nhất là khi có sự trợ giúp ngầm của chính
phủ. Hành vi này đang dần trở nên phổ biến trong điều kiện thơng mại quốc tế
hiện nay. Với mục đích triệt tiêu mọi sự cạnh tranh bình đẳng nhằm dễ dàng
xâm nhập thị trờng, bán phá giá đã trở thành một rào cản lớn đối với xu thế tự
do hoá thơng mại ngày nay. Chính vì vậy cần thiết phải có những biện pháp
mạnh mẽ nhằm ngăn chặn hiện tợng bán phá giá.
3. Những mặt hàng thờng đợc bán phá giá.
Nh đã phân tích, hành vi bán giá hiện nay rất dễ đợc thực hiện, và nếu nh có
sự trợ giúp thì chúng càng dễ đợc thực hiện hơn. Chính vì vậy mà hầu nh mặt
hàng nào khi xuất khẩu đều có thể bán phá giá đợc. Tuy nhiên cũng có sự phân
biệt về mặt hàng bán phá giá giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia
phát triển. Nhìn chung, các quốc gia phát triển thờng bán phá giá những mặt
hàng công nghiệp và đang có công suất sản xuất d thừa. Nh ví dụ về bán phá giá
radio trên, một nhà sản xuất có thể dễ dàng bán phá giá bằng cách tăng ca sản
xuất, do đó không cần phải tính thêm chi phí cố định vào chi phí sản xuất. Các
sản phẩm công nghiệp bán phá giá thờng đợc đa vào các nớc đang phát triển vì
nhà sản xuất không lo các nhà sản xuất của nớc nhập khẩu có thể hạ giá theo.
Còn đối với các nớc đang phát triển, họ thờng bán phá giá những mặt hàng mà
mình có u thế, mà chủ yếu là u thế về mặt nguyên vật liệu và giá nhân công rẻ,
so với các nớc phát triển. Do vậy, những mặt hàng thờng đợc bán phá giá của
những nớc này thờng là các mặt hàng nông sản, các mặt hàng gia công chế
biến. Tóm lại thì các ngành sản xuất thờng bị áp dụng các biện pháp chống bán
phá giá là các ngành kim khí mà chủ yếu là thép, ngành hoá chất, chất dẻo
Theo thống kê của WTO, trong năm 2000, trong số các mặt hàng bị áp dụng
các biện pháp chống bán phá giá thì dẫn đầu là ngành kim khí (39%), hoá chất
(13%), chất dẻo (11%), dệt may (9%), các ngành sản xuất máy móc và thiết bị
(7%), ngành sản xuất nông sản và thực phẩm (4%).
Bảng 1: Những mặt hàng thờng đợc bán phá giá
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
14

Bangladesh 0 0 0 0 0 0 1 1
Belarus 0 0 0 0 3 2 0 5
Belgium 1 2 3 3 2 0 4 15
Bosnia Herzegovina 1 0 0 0 0 0 0 1
Brazil 8 10 5 6 13 9 12 63
Bulgaria 0 3 2 1 1 1 2 10
Canada 2 1 3 3 0 1 7 17
Chile 2 2 2 2 1 6 2 17
China, P.R. 20 43 33 28 41 43 47 255
Chinese Taipei 4 9 16 10 22 16 19 96
Colombia 0 1 0 2 0 0 1 4
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
15
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Costa Rica 0 0 0 2 0 0 0 2
Croatia 1 0 0 1 1 1 0 4
Cuba 0 1 0 0 1 0 0 2
Czech Republic 1 1 0 2 7 3 2 16
Denmark 1 1 0 2 2 0 0 6
Dominican
Republic
0 0 0 0 0 0 1 1
Egypt 1 2 1 2 0 1 3 10
Estonia 0 0 1 0 0 1 1 3
European Comunity 0 1 2 4 6 9 8 30
Finland 0 0 1 1 2 0 1 5
France 0 4 4 10 8 1 3 30
Germany 7 9 13 8 13 4 9 63
Greece 0 0 3 0 0 1 1 5
Guatemala 0 1 0 0 0 0 1 2

Oman 0 0 0 0 0 0 1 1
Pakistan 0 2 1 0 1 0 1 5
Paraguay 0 0 1 0 0 0 0 1
TrÞnh ThÞ V©n Anh- A11K37F
16
Khoá luận tốt nghiệp
Peru 1 0 0 0 0 1 0 2
Philippines 2 0 0 0 0 1 1 4
Poland 2 3 3 4 3 5 1 21
Portugal 0 2 0 2 0 1 0 5
Qatar 0 0 0 0 0 0 1 1
Romania 1 2 1 4 4 4 5 21
Russia 2 7 7 12 17 10 7 62
Saudi Arabia 0 1 0 3 2 3 1 10
Singapore 2 0 4 0 5 0 11 22
Slovak Republic 0 1 1 1 3 1 2 9
Slovenia 1 0 0 1 0 0 0 2
South Africa 2 6 4 5 4 6 10 37
Spain
2 4 7 7 5 6 3 34
Sweden 1 2 5 0 1 0 2 11
Switzerland 0 2 1 0 1 0 0 4
Thailand 8 9 5 2 19 12 16 71
Trinidad and
Tobago
0 0 2 0 0 0 1 3
Turkey 2 3 1 2 6 7 5 26
Ukraine 2 3 4 9 9 6 6 39
United Arab
Emirates

nền sản xuất trong nớc khỏi sự cạnh tranh không công bằng từ các nhà xuất
khẩu do đó nó mang tính chất ngăn chặn, loại trừ hành động bán phá giá và
những thiệt hại của nó chứ không phải nhằm đối phó.
Từ mục tiêu bảo vệ nền sản xuất trong nớc, việc áp dụng các biện pháp
chống bán phá giá còn nhằm mục đích tạo ra môi trờng cạnh tranh công bằng,
một yếu tố thiết yếu trong xu thế tự do hoá thơng mại nh ngày nay. Chính vì
vậy, các biện pháp chống bán phá giá với mục tiêu ban đầu nh vậy đã đáp ứng
kịp thời nhu cầu của thơng mại thế giới, tạo một khuôn khổ pháp lý chung để
các thành viên trong đó cạnh tranh một cách bình đẳng.
2. Điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.
Nh đã biết, việc một quốc gia áp dụng các biện pháp chống bán phá giá là
nhằm ngăn ngừa việc nhà xuất khẩu bán phá giá hàng hoá sang nớc mình, nhằm
bảo vệ nền sản xuất trong nớc. Nhng để đảm bảo tự do trong thơng mại, việc áp
dụng không thể đợc tuỳ tiện mà phải đảm bảo một số điều kiện nhất định. Chỉ
khi cơ quan có thẩm quyền xác định có đủ ba yếu tố điều kiện là 1) có bán
phá giá
2) có thiệt hại đáng kể hặc nguy cơ dẫn đến thiệt hại đáng kể
3) thiệt hại là quan hệ tất yếu của việc bán phá giá
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
18
Khoá luận tốt nghiệp
thì cơ quan mới đợc phép ban hành các biện pháp chống bán phá giá đối với
hành vi bán phá giá vừa đợc sử dụng trên. Chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu ba điều
kiện để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.
2.1. Có bán phá giá.
Việc xác định bán phá giá sẽ đợc tiến hành thông qua việc so sánh giữa giá
xuất khẩu và giá trị thông thờng của hàng hoá bị điều tra. Sau đó xác định biên
phá giá và xem xét liệu biên phá giá này có vợt qua mức cho phép không. Vấn
đề là việc so sánh phải đợc thực hiện ở cùng cấp độ thơng mại, thờng là ở mức
độ giao hàng tại nhà máy, liên quan tới những vụ bán hàng đợc tiến hành ở gần

1 2 12VND 24VND
2 4 15VND 60VND
6 14 VND (TB) 84VND
Giá xuất khẩu
1. Sang Anh 2 15VND 30VND
2. Sang Mỹ 2 4VND 8VND
4 9,5VND (TB) 38VND
Các giá trên là giá xuất tại xởng. Chi phí vận chuyển từ nhà máy tới nơi
nhận hàng (theo điều kiện CIF) là 0,5 VND/đv.
Phơng pháp tính mức phá giá:
1) Phơng pháp bình quân gia quyền với bình quân gia quyền:
Giá trị thông thờng bình quân gia quyền 14VND
Giá xuất khẩu bình quân gia quyền 9,5VND
Mức phá giá = ( 14 9,5 ) x 4 đv = 18 VND
2) Do giá xuất khẩu sang hai thị trờng có sự khác biệt quá lớn nên sử dụng ph-
ơng pháp so sánh bình quân gia quyền với giá của từng giao dịch:
Giao dịch SL Đơn giá GTTT Mức phá giá/đv Tổng phá giá
1 2 15 14VND 0 0
2 2 4 14VND 10 20
38 Mức phá giá : 20
Nh vậy là do giá xuất khẩu sang các thị trờng khác nhau có mức chênh
lệch quá lớn, phơng pháp so sánh bình quân gia quyền với bình quân gia quyền
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
20
Khoá luận tốt nghiệp
không phản ánh đợc đầy đủ mức phá giá nh phơng pháp sau (18VND so với 20
VND)
Biên phá giá = Mức phá giá x 100
Tổng giá trị hh theo đk CIF
Theo phơng pháp 1 = 18 x 100 = 45%

Trở lại với vấn đề lợng hàng đợc bán phá giá, phải xem xét liệu có một sự
tăng đáng kể về số lợng hàng nhập khẩu bị bán phá giá hay không, hoặc xét về
mặt tơng đối so với lợng sản xuất hoặc tiêu dùng trong nớc nhập khẩu.
Về tác động của việc bán phá giá hàng nhập khẩu đối với giá cả, sẽ
phải xem xét liệu đã có một sự cắt giảm giá đáng kể của hàng nhập
khẩu đợc bán phá giá so với giá cuả một sản phẩm tơng tự của ngành
công nghiệp nớc nhập khẩu hay không hoặc tác động của những mặt
hàng nhập khẩu nh vậy có làm giảm giá ở một mức đáng kể hay ngăn
ngừa sự tăng giá ở một mức đáng kể hay không.
Nh vậy, để biết liệu việc bán phá giá hàng hoá có làm sụt giá hay ép giá
hàng hoá tơng tự do ngành công nghiệp trong nớc sản xuất hay không, cần phải
tiến hành so sánh giữa giá nhập khẩu và giá mặt hàng do ngành công nghiệp n-
ớc nhập khẩu sản xuất. Muốn vậy phải thực hiện việc điều chỉnh tơng tự nh
trong quá trình so sánh giữa giá trị thông thờng và giá trị xuất khẩu đã nêu ở
trên. Ví dụ nh chỉ trong vấn đề cấp độ thơng mại đã có nhiều hình thức:
Nớc xuất khẩu Nớc nhập khẩu

Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
22
Nhà xuất
khẩu

Người bán lẻ
Người
bán buôn
Ngành CN
Nhà xuất
khẩu
Khoá luận tốt nghiệp
Nếu so sánh giá giữa nhà xuất khẩu tới ngời bán buôn và giá giữa nhà sản

LN mục tiêu = 5,5
Thiệt
hại
Khoá luận tốt nghiệp
ngành công nghiệp nớc nhập khẩu là 25% và gây thiệt hại cho ngành công
nghiệp này là 85%.
Về việc xem xét tác động của việc bán phá giá hàng nhập khẩu đối
với ngành liên quan của nớc nhập khẩu sẽ bao gồm việc đánh giá
những yếu tố và chỉ số kinh tế có liên quan và ảnh hởng tới tình trạng
của ngành đó, bao gồm cả việc một ngành vẫn đang trong quá trình
hồi phục sau những tác động của việc bán phá giá hay trợ cấp trớc đó,
độ lớn của mức biên phá giá thực tế, sự suy giảm kinh tế và tiềm năng
về doanh số, lợi nhuận, số lợng, thị phần, năng suất, lãi đầu t, tận
dụng công suất, tác động tiêu cực thực tế và tiềm năng đối với dòng
tiền mặt, lợng hàng lu kho, việc làm, lơng, sự tăng trởng, khả năng
tăng vốn hoặc đầu t,...
Còn đối với việc xác định có sự đe doạ thiệt hại về vật chất hay
không, quá trình điều tra phải dựa trên các chứng cứ thực tế và không
đợc phép chỉ căn cứ vào phỏng đoán, suy diễn hoặc một khả năng mơ
hồ. Sự thay đổi trong hoàn cảnh có thể gây thiệt hại do đó việc bán
phá giá phải nằm trong phạm vi có thể dự đoán đợc một cách chắc
chắn và sẽ diễn ra trong tơng lai gần. Khi quyết định xem có tồn tại
nguy cơ gây thiệt hại vật chất hay không, cơ quan có thẩm quyền
phải xem xét các nhân tố sau:
(i) tỉ lệ gia tăng đáng kể hàng nhập khẩu đợc bán phá giá vào thị tr-
ờng trong nớc và đó là dấu hiệu cho thấy rất có khả năng nhập
khẩu sẽ gia tăng ở mức lớn;
(ii) các nhà xuất khẩu có năng lực sản xuất đủ lớn có thể dùng ngay đ-
ợc hoặc có sự gia tăng đáng kể trong tơng lai gần về năng lực sản
xuất của nhà xuất khẩu và đây là dấu hiệu cho thấy có nhiều khả

Những thiệt hại gây ra bởi những nhân tố đó sẽ không đợc tính vào ảnh hởng do
hàng bị bán phá giá gây ra. Không kể những nhân tố khác, các yếu tố có thể
dẫn đến trong trờng hợp này bao gồm: số lợng và giá của những mặt hàng nhập
khẩu không bị bán phá giá, giảm sút của nhu cầu hoặc thay đổi về hình thức
tiêu dùng, các hành động hạn chế thơng mại hoặc cạnh tranh giữa những nhà
Trịnh Thị Vân Anh- A11K37F
25

Trích đoạn Xuất khẩu cá tra và cá basa. Quan điểm của Mỹ đối với vấn đề nhập khẩu cá basa của Việt Nam. Quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xuất khẩu cá basa sang Mỹ. CFA khởi kiện các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam bán phá giá. Quyết định điều tra của Mỹ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status