Cơ sở lý luận về kiểm toán các ước tính kế toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các đơn vị kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ - Pdf 73

Cơ sở lý luận về kiểm toán các ớc tính kế toán
trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các đơn vị
kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
I. Bảo hiểm và đặc điểm của các đơn vị kinh doanh bảo hiểm
1. Khái niệm
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng nh hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhng con ngời vẫn có nguy cơ gặp
phải những rủi ro bất ngờ xảy ra. Các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân ví dụ nh các
rủi ro do môi trờng thiên nhiên, các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của
khoa học và kỹ thuật, các rủi ro do môi trờng xã hội. Bất kể do nguyên nhân gì,
khi rủi ro xảy ra thờng đem lại cho con ngời những khó khăn trong cuộc sống nh
mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngng trệ sản xuất và kinh
doanh của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân v.v.. làm ảnh hởng đến đời sống
kinh tế- xã hội nói chung.
Để đối phó với các rủi ro, con ngời đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm
kiểm soát cũng nh khắc phục hậu quả do rủi ro gây ra. Và bảo hiểm là một trong
những biện pháp đấy.
Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là sự chuyển giao rủi
ro trên cơ sở hợp đồng. Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ là chuyển
giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho
phép có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra. Bảo hiểm là công cụ đối
phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra có hiệu quả nhất. Nh vậy, bảo hiểm ra
đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Có nhiều định nghĩa về bảo hiểm nhng định nghĩa sau mang tính chung
nhất của bảo hiểm:
"Bảo hiểm là hoạt động thể hiện ngời bảo hiểm cam kết bồi thờng (theo
quy luật thống kê) cho ngời tham gia bảo hiểm trong trờng hợp xảy ra rủi ro
thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện ngời tham gia nộp một khoản phí cho
chính anh ta hoặc cho ngời thứ ba". Điều này có nghĩa là ngời tham gia chuyển
giao rủi ro cho ngời bảo hiểm bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ.
Khi ngời tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, ngời bảo hiểm lấy quỹ dự trữ trợ

nhằm đảm bảo đời sống cho ngời lao động và gia đình họ góp phần bảo đảm an
toàn xã hội.
ở nớc ta, bảo hiểm xã hội là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo
đảm xã hội bên cạnh cứu trợ xã hội và u đãi xã hội. Tổ chức bảo hiểm xã hội Việt
Nam có sự kết hợp hài hòa giữa quản lý Nhà nớc và hoạt động nghiệp vụ. Quản lý
Nhà nớc do Bộ Lao động thơng binh và xã hội đảm nhiệm; hoạt động nghiệp vụ
do Bảo hiểm xã hội Việt Nam đảm nhiệm với trách nhiệm thu chi và quản lý quỹ
bảo hiểm xã hội.
Hệ thống bảo hiểm xã hội đợc tổ chức theo ngành dọc là bảo hiểm xã hội
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng, bảo hiểm xã hội quận, huyện và đại diện bảo
hiểm xã hội ở cơ sở..
3.2. Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là hoạt động thu phí bảo hiểm và đảm bảo thanh toán chi phí
y tế cho ngời tham gia bảo hiểm. Vì vậy, tuy mọi ngời dân trong xã hội đều có
quyền tham gia bảo hiểm y tế nhng thực tế bảo hiểm y tế không chấp nhận bảo
hiểm thông thờng cho những ngời mắc bệnh nan y nếu không có thỏa thuận gì
thêm.
Những ngời đã tham gia bảo hiểm y tế khi gặp rủi ro về sức khỏe đều đợc
thanh toán chi phí khám chữa bệnh với nhiều mức độ khác nhau tại các cơ quan y
tế. Tuy nhiên, nếu khám chữa bệnh trong các trờng hợp cố tình tự hủy hoại bản
thân trong tình trạng say, vi phạm pháp luật.. thì không đợc cơ quan bảo hiểm y tế
chịu trách nhiệm.
Bảo hiểm y tế Việt Nam đợc thành lập trên cơ sở thống nhất hệ thống cơ
quan bảo hiểm y tế từ trung ơng đến địa phơng và bảo hiểm y tế ngành để quản lý
và triển khai hoạt động theo điều lệ bảo hiểm y tế.
3.3. Bảo hiểm th ơng mại
Bảo hiểm thơng mại- còn đợc gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo hiểm kinh
doanh- đợc hiểu là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh với việc quản lý các rủi
ro. Manh nha của hoạt động này có từ rất lâu trong lịch sử văn minh nhân loại, từ
thuở con ngời biết săn bắn tìm kiếm thức ăn, đồ mặc, rồi tích trữ phòng khi không

các đơn vị kinh doanh bảo hiểm, phạm vi nghiên cứu của chúng ta sẽ chỉ giới hạn
trong lĩnh vực bảo hiểm thơng mại.
Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm thì kinh doanh bảo hiểm là: "hoạt động
của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo
hiểm chấp nhận rủi ro của ngời đợc bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng
phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngời thụ hởng hoặc
bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm".
Nh vậy, về cơ bản, đơn vị kinh doanh bảo hiểm cũng giống nh các đơn vị
hoạt động trong các lĩnh vực khác của ngành kinh tế: đều hoạt động vì mục tiêu
lợi nhuận. Trên cơ sở doanh thu từ tiền thu phí bảo hiểm gốc, thu phí nhận tái bảo
hiểm và các khoản thu từ hoạt động tài chính, hoạt động khác để trang trải các
khoản chi phí phát sinh nh chi bồi thờng bảo hiểm gốc, chi bồi thờng nhận tái bảo
hiểm, trích lập dự phòng nghiệp vụ, tiền lơng, tiền công, tiền thởng, chi hoạt động
tài chính và các khoản chi hoạt động khác. Phần chênh lệch giữa doanh thu và chi
phí chính là lợi nhuận của doanh nghiệp, sau khi thực hiện nghĩa vụ với Ngân
sách Nhà nớc, phần còn lại sẽ đợc dùng để trích lập các quỹ, bổ sung nguồn vốn
và phân phối tùy theo mục đích của doanh nghiệp.
Trong kinh doanh bảo hiểm đợc chia thành: bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm
phi nhân thọ.
Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trờng hợp ngời đợc bảo
hiểm sống hoặc chết. Bảo hiểm nhân thọ bao gồm các loại nghiệp vụ sau: bảo
hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả
tiền định kỳ và các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định.
Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân
sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ. Bảo hiểm phi
nhân thọ bao gồm các loại nghiệp vụ: bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con
ngời; bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đờng
bộ, đờng biển, đờng sông, đờng sắt và đờng không; bảo hiểm hàng không; bảo
hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy, nổ; bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của
chủ tàu; bảo hiểm trách nhiệm chung; bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; bảo

giản hơn là ớc tính dự phòng giảm giá hàng tồn kho vì ớc tính dự phòng giảm giá
hàng tồn kho phải phân tích dữ liệu hiện tại và dự tính bán hàng trong tơng lai.
Đối với các ớc tính phức tạp, cần nhiều kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn và
đòi hỏi khả năng xét đoán cao.
Các ớc tính kế toán có thể đợc thực hiện một cách thờng xuyên trong kỳ kế
toán hoặc có thể đợc thực hiện vào cuối kỳ kế toán. Trong nhiều trờng hợp, các ớc
tính kế toán đợc lập dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tế. Ví dụ: sử dụng tỷ lệ định
mức trên doanh thu bán hàng để ớc tính chi phí bảo hành. Trờng hợp này, đơn vị
phải thờng xuyên soát xét lại các dữ liệu và phải so sánh kết quả thực tế với số
liệu đã ớc tính để điều chỉnh các ớc tính kỳ sau.
Trờng hợp do chủ quan, do thiếu các dữ liệu khách quan hoặc do mức độ
không chắc chắn của một yếu tố nào đó nên các ớc tính kế toán đã không thể lập
đợc một cách hợp lý thì kiểm toán viên phải cân nhắc khi đa ra ý kiến trên Báo
cáo kiểm toán theo đúng quy định tại Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700-
Báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính.
3. Hạch toán các ớc tính kế toán trong đơn vị kinh doanh bảo hiểm phi nhân
thọ
Trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp kinh doanh
bảo hiểm nói riêng thì số lợng các ớc tính kế toán rất nhiều. Trong phạm vi
chuyên đề này, chúng ta sẽ nghiên cứu các ớc tính kế toán sau:
+ Khấu hao tài sản cố định (TSCĐ).
+ Chi phí trả trớc dài hạn.
+ Dự phòng nghiệp vụ.
3.1. Khấu hao tài sản cố định
Theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 12 tháng 12
năm 2003 thì khấu hao TSCĐ đợc định nghĩa "là việc tính toán và phân bổ một
cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh
trong thời gian sử dụng của tài sản cố định".
Theo quy định, mọi TSCĐ liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp đều phải trích khấu hao. Các TSCĐ không tham gia vào hoạt động sản

thời gian đã sử dụng) của TSCĐ.
Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ đợc
xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến
năm trớc năm cuối cùng của TSCĐ đó.
Khi trích khấu hao TSCĐ sử dụng tài khoản 214- Hao mòn TSCĐ. Một số
nghiệp vụ liên quan đến hạch toán khấu hao TSCĐ:
- Trích khấu hao của các TSCĐ tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh
trong kỳ:
Nợ TK 627, 641, 642- Chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
Có TK 214- Hao mòn TSCĐ
(Đồng thời ghi Nợ TK 009- Nguồn vốn khấu hao cơ bản)
- Ghi giảm khấu hao TSCĐ khi trao đổi hai TSCĐ tơng tự đa ngay vào hoạt
động sản xuất kinh doanh:
Nợ TK 211, 213- Nguyên giá TSCĐ nhận về
Nợ TK 214- Hao mòn TSCĐ
Có TK 211, 213- Nguyên giá TSCĐ đa đi trao đổi
- Ghi giảm khấu hao TSCĐ khi trao đổi hai TSCĐ không tơng tự:
Nợ TK 811- Giá trị còn lại của TSCĐ đa đi trao đổi
Nợ TK 214- Hao mòn TSCĐ
Có TK 211, 213- Nguyên giá TSCĐ
3.2. Chi phí trả tr ớc dài hạn
Chi phí trả trớc dài hạn là chi phí đã phát sinh nhng cha trích hết vào chi
phí sản xuất kinh doanh trong kỳ mà tính vào hai hay nhiều kỳ sau đó. Đây là chi
phí đã phát sinh một lần nhng khá lớn hoặc do bản thân chi phí có tác động tới kết
quả kinh doanh của nhiều kỳ. Thuộc loại chi phí trả trớc dài hạn, gồm:
+ Chi phí trả trớc về thuê hoạt động TSCĐ (quyền sử dụng đất, nhà xởng,
kho tàng..) phục vụ cho hoạt động kinh doanh nhiều năm tài chính.
+ Tiền thuê cơ sở hạ tầng đã trả trớc cho nhiều năm và phục vụ cho kinh
doanh nhiều kỳ.
+ Chi phí trả trớc phục vụ cho hoạt động kinh doanh của nhiều năm tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status