Những lí luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và nghiệp vụ kế toán cho vay Trong hệ thống ngân hàng - Pdf 73

Những lí luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và nghiệp vụ kế
toán cho vay Trong hệ thống ngân hàng
I. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng Ngân
hàng trong nền kinh tế thị trờng.
1. Sự ra đời của tín dụng ngân hàng:
Tín dụng là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền kinh tế hàng hoá, sự ra
đời và vận động của tín dụng đợc bắt nguồn từ đặc điểm của sự chu chuyển vốn
tiền tệ và sự cần thiết sinh lợi của vốn tạm thời nhàn rỗi cũng nh nhu cầu về vốn
nhng cha tích luỹ đợc, trong cùng một thời điểm đã hình thành một quan hệ cung
cầu về tiền tệ giữa một bên là ngời thiêú vốn (đi vay) và một bên là ngời thừa vốn
(cho vay)
Tín dụng có nghĩa là sự vay mợn, sự chuyển ngợng tạm thời một lợng giá
trị từ ngời sở hữu sang ngời sử dụng và sau một thời gian nhất định đợc quay trở
lại với ngời sở hữu với một lợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu (số giá trị dôi ra đó
chính là lãi trong cho vay) với những điều kiện mà hại bên đã thoả thuận với nhau.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, hoạt động tín dụng không
ngừng phát triển và hoàn thiện trở thành hình thức tín dụng ngân hàng. Trong nền
kinh tế thị trờng, Ngân hàng là trung gian tín dụng giữa tiết kiệm và đầu t, giữa
ngời đi vay và ngời cho vay. Vì vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng
tiền giữa một bên là ngân hàng-tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một
bên là ngời đi vay, vừa là ngời cho vay.
Sự ra đời của tín dụng Ngân hàng có tác động quyết định đến sự phát triển
của quá trình tái sản xuất xã hội, thúc đẩy lực lợng sản xuất góp phần quan trọng
trọng việc phục hồi và phát triển kinh tế của các nớc trên thế giới.
2. Vai trò tín dụng của Ngân hàng
Sản xuất phát triển mạnh sẽ thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển ở mỗi
quốc gia trên thế giới. Song để cho quá trình sản xuất đợc mở rộng và ngày càng
hoàn thiện phải nói đến vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng.
a. Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là ngời
trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế, hoạt động tín
dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn.

rộng từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triênr nhanh chóng.
c. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng
cố chế độ hoạch toán kinh tế.
Đặc trng cơ bản của tín dụng là cho vay có hoàn trả và có lợi tức Ngân
hàng huy động vốn của doanh nghiệp khi họ có vốn nhàn rỗi và cho vay khi họ
cần vốn để bổ xung cho sản xuất kinh doanh. Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng,
doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện ghi trong hợp đồng tín dụng, trả nợ vay
đúng hạn cả gốc và lãi. Do đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp
tăng hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí, tăng vòng quay vốn... để tạo điều kiện
nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp. Muốn vậy các doanh nghiệp phải tự vơn lên
thông qua các hoạt động của mình, một trong những hoạt động khá quan trọng là
hạch toán kinh tế.
Quá trình hạch toán kinh tế là quá trình quản lí đồng vốn sao cho có hiệu
quả. Để quản lí đồng vốn có hiệu quả thì hạch toán tinh tế phải giám sát chặt chẽ
quá trình sử dụng vốn để nó đợc sử dụng đúng mục đích, tạo ra doanh lợi cho
doanh nghiệp. Điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện hơn
quá trình hạch toán của đơn vị mình.
d. Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ
kinh tế đối ngoại.
Ngày nay sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn luôn gắn quan hệ
kinh tế với thị trờng thế giới, nền kinh tế đóng tự cung tự cấp trớc đây nay đã
nhờng chỗ cho nền kinh tế mở phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế với các nớc
trên thế giới.
Một quốc gia đợc gọi là phát triển thì trớc hết phải có một nền kinh tế
chính trị ổn định, có vị thế trên thị trờng quốc tế, có một lợng vốn lớn trong đó
vốn dự trữ ngoại tệ là rất quan trọng. Tín dụng ngân hàng trở thành một trong
những phơng tiện nối liền kinh tế các nớc với nhau bằng các hoạt động tín dụng
quốc tế nh các hình thức tín dụng giữa các chính phủ, giữa các tổ chức cá nhân với
chính phủ, giữa các cá nhân với cá nhân...Sự phát triển ngày càng tăng trong hoạt
động ngoại thơng và số thành viên tham dự hoạt động ngaỳ càng lớn làm cho nhu

nhuận. Nhng thành phần này mang tính chất tự thân vận động. Do vậy mục đích
của nó là cạnh tranh có hiệu quả để đạt đợc lợi nhuận cao bằng mọi thủ đoạn
trong sản xuất kinh doanh.
Thứ năm : Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có tính sở hữu, t hữu
hiệu quả sản xuất kinh doanh gắn liền với ngời sản xuất, bộ máy gọn nhẹ, năng
động.
Qua các đặc điểm của nền kinh tế ngoài quốc doanh ta thấy nó rất phù hợp
với sự phát triển kinh tế của nớc ta hiện nay. Nếu nhà nớc có một chính sách và
một môi trờng thuận lợi cho khu vực kinh tế này phát triển thì họ đóng góp một tỷ
trọng đáng kể cho tăng trởng GDP trong cả nớc, tạo công ăn việc làm cho ngời lao
động góp phần giảm tệ nạn xã hội trong nền kinh tế.
2. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh:
Ngày nay, dới sự lãnh đạo của Đảng với các đờng lối đổi mới đúng đắn kịp
thời các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã có chỗ đứng bình đẳng so với
kinh tế quốc doanh. Do vậy nó đã và đang phát huy thế mạnh sẵn có để góp phần
phát triển nền kinh tế đất nớc. Vị trí quan trọng của nó đã đợc khẳng định trong
cơ cấu phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nóc ta hiện nay. Vai trò của nó đợc
thể hiện ở các mặt cụ thể sau:
a. Kinh tế ngoài quốc doanh đã và đang đóng góp cho nền kinh tế một khối l-
ợng sản phẩm hàng hoá lớn, đa dạng phong phú, chất lợng cao, tạo quỹ tiêu dùng
và xuất khẩu. Chuyển sang nền kinh tế thị trờng, kinh tế ngoài quốc doanh đã và
đang có nhiều đóng góp đáng kể cho nền kinh tế đất nớc, góp phần tạo thế cân đối
quỹ hàng hoá cho các địa phơng trong cả nớc mà đồng thời còn là nguồn lực
chính tạo ra sản phẩm xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nớc.
b. Kinh tế ngoài quốc doanh giải phóng mọi năng lực sản xuất và đối thủ cạnh
tranh với thành phần kinh tế quốc doanh, giúp cho sự phát triển của nền kinh tế
ngày càng sôi động.
Kinh tế ngoài quốc doanh có những đặc điểm về tính sở hữu cao, bộ máy sản
xuất kinh doanh rất năng động, nhạy bén, hiệu quả sản xuất kinh doanh gắn liền
với ngời sản xuất, hộ đều có mục đích vì quyền lợi của chính cá nhân mình, của

kinh tế ngoài quốc doanh theo mục tiêu phát triển của đất nớc.
Bất kì một đơn vị nào để tiến hành sản xuất kinh doanh đợc thì cũng cần
phải có vốn, và cũng vậy đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ra đời
và phát triển thực hiện quá tình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng cũng cần có
một nguồn vốn đủ để mua sắm tài sản cố định, tài sản lu động và các chi phí khác.
Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn tự có thì quá ít ỏi, không đủ sức để cạnh tranh và phát
triển trong nền kinh tế thị trờng và để phân tán những rủi ro trong kinh doanh. Các
thành phần kinh tế này phải huy động thêm từ bên ngoài, nguồn vốn quan trọng
nhất để bổ xung vốn cố định và vốn lu động cho các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh đó là nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thơng mại.
b. Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế
nói chung và kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng thực hiện quá trình tái sản xuất
mở rộng, ứng dụng khoa học kỹ thuật .. thông qua các khoản tín dụng ngân hàng
thơng mại.
Nh vậy tín dụng trở thành ngời trợ thủ đắc lực cho các đơn vị này trong việc
thoả mãn cơ hội kinh doanh. Khi có có hội kinh doanh, các đơn vị này cần phải
mở rộng sản xuất, gia tăng lợng sản phẩm để chiếm lĩnh thị trờng, khi cơ hội sản
xuất không còn vốn thì ngân hàng sẽ cho vay. Nguồn này ngân hàng huy động từ
nhiều nơi khác nhau nh huy động từ dân c, các tổ chức kinh tế trong nớc, nớc
ngoài...
c. Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo việc làm, tăng
thu nhập, thực hiện mục tiêu của chính phủ là phát triển kinh tế đa thành phần
phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng để đạt đợc mục tiêu đổi mới cơ cấu kinh
tế, phát triển kinh tế ngoài quốc doanh góp phần đa nền kinh tế nớc ta lên một vị
trí mới. Đặc biệt là nguồn vốn tín dụng để giúp đỡ các đơn vị có điều kiện thuận
lợi mở rộng sản xuất kinh doanh để theo kịp hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.
III. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán cho vay.
1. Vai trò nhiệm vụ của kế toán ngân hàng.
1.1 Vai trò của kế toán ngân hàng.
Kế toán ngân hàng là hệ thống thông tin phản ánh hoạt động của ngân hàng.

quốc dân.
Kế toán ngân hàng còn tổ chức giao dịch phục vụ khách hàng một cách
khoa học, văn minh, giúp đỡ khách hàng nắm đợc những nội dung cơ bản của kỹ
thuật nghiệp vụ ngân hàng nói chung và kỹ thuật nghiệp vụ kế toán nói riêng
nhằm góp phần thực hiện chiến lợc khách hàng của ngân hàng, Vì khách hàng
trong ngân hàng vừa là ngời cung cấp vốn, vừa là ngời mua vốn mà chức năng
trung gian quan trọng nhất của ngân hàng là biến nguồn vốn lẻ tẻ thành một
nguồn vốn lớn, biến kỳ gửi không kỳ hạn thành có kỳ hạn, họ tìm mọi cách tranh
thủ nguồn vốn để kéo thêm khách hàng và đồng thời giữ đợc khách hàng.
2. Vai trò nhiệm vụ của kế toán cho vay.
2.1 Vai trò của kế toán cho vay.
Kế toán cho vay giữ một vị trí quan trọng trong toàn bộ nghiệp vụ kế toán
của ngân hàng, nó đợc xác định là nghiệp vụ kế toán phức tạp bởi lẽ trong bảng
cân đối cho thấy hoạt động cho vay chiếm phần lớn trong tổng tài sản có của ngân
hàng nghĩa là kế toán cho vay tham gia vào quá trình sử dụng vốn- hoạt động cơ
bản của ngân hàng.
Có thể nói rằng nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng và là
nghiệp vụ hàng đầu của các ngân hàng thơng mại. Để cho nghiệp vụ này có hiệu
quả, năng suất và chất lợng thì công tác kế toán cho vay góp phần không nhỏ qua
việc phản ánh một cách rõ ràng, chính xác các nghiệp vụ cho vay, đối tợng khách
hàng vay, thời hạn cho vay và phản ánh rõ ràng chất lợng tín dụng để bảo vệ tốt
hơn nguồn vốn của ngân hàng.
Kế toán cho vay phục vụ đắc lực trong công việc chỉ đạo chấp hành chính
sách tín dụng tiền tệ của Đảng và Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng, với cơ chế
tín dụng nh hiện nay Ngân hàng là cơ quan chuyên môn đợc giao nhiệm vụ tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status