Những giải pháp nâng cao hiệu quả Marketing Xuất khẩu mặt hàng Gạo tại công ty lương thực Miền Bắc - Pdf 74

Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNGI:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU Ở CÔNG TY KINH
DOANH QUỐC TẾ.
I. VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG.
1. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
a. Khái niệm xuất khẩu hàng hoá
Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho quốc gia khác trên cơ
sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với
một quốc gia hay cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác
được lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Theo cách khác chúng ta có thể định nghĩa xuất khẩu hàng hoá là : việc đưa hàng
hoá ra thị trường nước ngoài để tiêu thụ nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn của
khách hàng nước ngoài.
b. Bản chất của xuất khẩu hàng hoá
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất
hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển. Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện
kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho tới hàng hoá tư liệu sản xuất, từ máy móc
thiết bị cho tới công nghệ kỹ thuật cao. Tất cả các hoạt động đó đều nhằm mục tiêu
đem lại lợi nhuận cho các quốc gia tham gia.
Xuất khẩu là một trong những hình thức kinh doanh quan trọng nhất trong hoạt
động thương mại quốc tế. Nó có thể diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài hàng
năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia khác
nhau.
Xuất khẩu hàng hoá là nguồn chính của thu nhập và chi tiêu quốc tế ở hầu hết
các quốc gia .Trong số các công ty tham dự vào một số dạng hoạt động thương mại
quốc tế, ngày càng có nhiều công ty hơn xâm nhập vào các hoạt động xuất khẩu hơn
bất kỳ loại giao dịch nào khác.
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đầu tiên của một công ty quốc tế vì nó đòi hỏi
sự ràng buộc và sự rủi ro tối thiểu về những nguồn lực của công ty.

đăng ký trong giấy phép kinh doanh xuất khẩu thì Bộ thương mại có trách nhiệm xem
xét và giải quyết cụ thể từng hợp đồng xuất khẩu nhưng mặt hàng đó.
Đặc biệt trong văn kiện đại hội VIII Đảng ta đã xác định rõ: Công nghiệp hoá
nông nghiệp và nông thôn trước hết phải nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đa
dạng của nông, lâm, ngư nghiệp, bảo đảm vững chắc yêu cầu an toàn lương thực cho
xã hội, tạo nguồn nguyên liệu và liên kết với công nghiệp ở đô thị, phát triển các
nghành nghề , làng nghề truyền thống và các nghành nghề mới bao gồm cả tiểu thủ
công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp khai
thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phi nông nghiệp.
b. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá
Đối với nền kinh tế quốc dân:
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yêu cho nhập khẩu, phụ vụ công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước.
2 2
Luận văn tốt nghiệp
Tại các nước kém phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự phát triển
và tăng trưởng là thiếu tiềm lực về vốn trong quá trình phát triển. Nguồn vốn huy
động từ nước ngoài được coi là cơ sở chính như mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ
nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người cho vay
thấy được khả năng xuất khẩu của đất nước đó, vì đây là nguồn chính đảm bảo nước
này có thể trả nợ được.
Xuất khẩu góp phần chuyển dịnh cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng ngoại.
Thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất, đó là thành quả của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Sự chuyển cơ cấu kinh tế trong quá
trình công nghiệp hoá ở nước ta hoàn toàn phù hợp với su thế phát triển của kinh tế
thế giơí.
Sự tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu có thể được
nhìn nhận theo các bước sau:
− Xuất khẩu những sản phẩm của ta cho nước ngoài.
− Xuất phát từ nhu cầu thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu những

− Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan
hệ kinh doanh với bạn hàng trong và ngoài nước, trên cơ sở hai bên cùng có lợi,
tăng doanh số và lợi nhuận đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro, mất mát trong
hoạt động kinh doanh, tăng uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.
− Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của doanh
nghiệp. Chẳng hạn như việc đầu tư, nghiên cứu và phát triển các hoạt động sản
xuất, marketing…, cũng như sự phân phối và mở rộng trong việc cấp giấy phép.
II. QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU.
3. KHÁI NIỆM VÀ CÁC LOẠI CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU.
a. Khái niệm:
Một cách đơn giản nhất, chiến lược được hiểu là những kế hoạch được thiết lập hoặc
những hành động được thực hiện trong nỗ lực nhằm đạt tới các mục đích của tổ chức.
Như vậy, chiến lược được xem là những kế hoạch cho tương lai, tức là những
chiến lược được dự định và những hạn động được thực hiện, tức là những chiến lược
được thực hiện. Song, cho dù đó là chiến lược được dự định hay được thực hiện thì
nó đều phải hướng tới việc đạt được các mục tiêu, mục đích của tổ chức.
Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các mục tiêu hiện tại cũng như
tương lai, hoạch địch các mục tiêu của tổ chức. Đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực
hiện các quyết định nhằm đạt được mục tiêu đó trong môi trường hiện tại hoặc tương
lai. Như vậy, quản trị chiến lược là một quá trình.
Chiến lược Marketing xuất khẩu là logic Marketing xuất khẩu mà nhờ đó, đơn vị
kinh doanh hy vọng đạt được các mục tiêu Marketing xuất khẩu của mình. Về nội
dung chiến lược Marketing xuất khẩu bao gồm: các chiến lược xác định đối với thị
trường mục tiêu, phối thức Marketing xuất khẩu và mức chi phí Marketing xuất khẩu.
Quản trị chiến lược Marketing xuất khẩu là toàn bộ việc hoạch định các hoạt
động Marketing xuất khẩu của doanh nghiệp từ việc đưa ra các mục tiêu cho tới việc
tổ chức thực hiện thành công các mục tiêu đó. Có thể xem Quản trị chiến lược
Marketing xuất khẩu như một nghệ thuật thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết
định Marketing xuất khẩu giúp cho chủ thể ra quyết định đạt được mục tiêu nhất
định.

Chiến lược không được thực hiện
Chiến lược nổi lên
5 5
Luận văn tốt nghiệp
Nguồn: H. Mintzberg and A. Water. “of Strategies. Delibery and Emergent”
Strategic Management Journal, 6, 1985.
Chiến lược dự định:
Với những mục đích và mục tiêu đã xác định, các nhà kinh doanh phải phát triển
các kế hoạch hành động của tổ chức, qua đó đạt tới các mục tiêu và mục đích đã đề
ra.Các chiến lược dự định là bộ tài liệu chứa đựng những thông tin mà tổ chức muốn
thực hiện để đạt tới mục tiêu đã đề ra. Những thông tin này cũng như các chỉ dẫn cho
những phương tiện và công cụ mà tổ chức sẽ sử dụng.
Thông thường các chiến lược dự định bao gồm các kế hoạch và các chính sách. Các
kế hoach liên quan tới những hành động sẽ được thực hiện như tốc độ tăng trưởng, mở
rộng thị phần, gia tăng cạnh tranh hoặc phát triển công nghệ và nguồn lực…
Như vậy, chiến lược dự định của một tổ chức bao gồm những hoạt động mà tổ
chức dự định theo đuổi, thực hiện và những chính sách thể hiện những quy định,
những chỉ dẫn cho việc thực hiện những công việc do kế hoạch đặt ra.
Chiến lược thực hiện:
Trên thực tế, rất nhiều các chiến lược được ra nhưng không thực hiện. Điều này
có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân.
Trước hết, các chiến lược dù có tính toán và cân nhắc kỹ thì nó vẫn là sản phẩm
của con người, một khi không tính toán hết các nhân tố ảnh hưởng thì chiến lược dự
định sẽ không thể tồn tại được dưới thử thách khắc nghiệt của mội trường cạnh tranh
khốc liệt.
Thứ hai, thực tiễn quản trị chỉ ra rất nhiều các tổ chức quan tâm tới hoạch định
chiến lược, họ đề ra các chiến lược rất hay, tốn rất nhiều công sức, thời gian và tiền
bạc song lại không quan tâm tới tổ chức thực hiện nó.
Thứ ba, do không có kế hoạch thực hiện một cách có hiệu quả nên có nhiều
chiến lược dự định rất tốt đẹp cũng sẽ không được triển khai trong thực tiễn, hoặc thất

7 7
Luận văn tốt nghiệp
a. Phân tích môi trường
Môi trường của một tổ chức được phân định thành môi trường bên ngoài và môi
trường bên trong. Phân tích môi trường hay còn gọi là phân tích SWOT là nhằm tìm
ra những cơ hội, đe dọa, điểm mạnh và điểm yếu của tổ chức. Quản trị chiến lược là
việc tận dụng và phát huy các điểm mạnh, khắc phục và hạn chế các điểm yếu trong
việc khai thác các cơ hội và né tránh các đe doạ của môi trường. Vì vậy, gắn việc
phân tích môi trường nội bộ với môi trường bên ngoài sẽ tạo ra những gợi ý chiến
lược cho sự phát triển của công ty.
Phân tích môi trường bên ngoài
Nghiên cứu môi trường bên ngoài là một quá trình phải tiến hành thường xuyên,
liên tục không bao giờ dừng lại, vì nó chính là điều kiện đảm bảo sự thành công của
chiến lược. Mục đích của nghiên cứu môi trường bên ngoài là nhằm nhận dạng
những mối đe dọa cũng như những cơ hội có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh
nghiệp.
Phân tích môi trường bên trong
Thực chất của quản trị chiến lược là việc tìm ra và phát triển các lợi thế cạnh
tranh, do đó việc hiểu biết môi trường nội bộ có một ý nghĩa to lớn. Phân tích môi
trường nộibộ là nhằm tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu của công ty, qua đó xác
định các năng lực phân biệt và những lợi thế cạnh tranh của công ty. Bối cảnh để hiểu
rõ các điểm mạnh và điểm yếu của công ty là dây chuyền giá trị của công ty, tình hình
tài chính, văn hoá, tổ chức và lãnh đạo của công ty. Bàn về năng lực phân biệt và lợi
thế cạnh tranh hay những điểm mạnh và những điểm yếu của công ty tức là nói đến
sự so sánh các mặt, các hoạt động của công ty so với các nhà cạnh tranh. Sẽ là vô
nghĩa khi các phân tích nội bộ không gắn với việc so sánh một cách có ý nghĩa.
b. Xác định sứ mạng và mục tiêu
Xác định sứ mạng và mục tiêu là một trong những nội dung đầu tiên hết sức quan
trọng trong quản trị chiến lược, nó tạo cơ sở khoa học cho quá trình phân tích và lựa
chọn chiến lược công ty. Việc xác định bản tuyên bố về sứ mạng cho công ty được đặt

tranh chỉ có thể được phát huy và phát triển khi các chức năng tạo ra sự cộng hưởng
và mỗi chức năng là một nhân tố quan trọng để tạo ra giá trị cho khách hàng.
Chiến lược cạnh tranh được hỗ trợ và bảo đảm bởi các chiến lược cấp chức năng.
Việc hình thành và phát triển các chiến lược chức năng phải tạo ra sự cộng hưởng các
chức năng nhằm phát huy và phát triển các lợi thế cạnh tranh của công ty. Các chiến
lược về Marketing, tài chính, vận hành, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực phải
được thiết kế phù hợp với chiến lược cạnh tranh đã chọn, nhằm đạt tới các mục tiêu
của chiến lược cạnh tranh và công ty.
Chiến lược kinh doanh quốc tế
Đối với các công ty, trong điều kiện toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn
thế giới hiện nay, việc thực hiện quốc tế hóa không còn là một lựa chọn nữa mà là tất
yếu. Thực hiện chiến lược quốc tế hóa chính là nhằm để khai thác và phát triển lợi thế
cạnh tranh của công ty. Việc tiến hành quốc tế hóa mang lại nhiều lợi ích to lớn cho
9 9
Luận văn tốt nghiệp
công ty, song nó cũng có rất nhiều điểm phức tạp do quy mô, địa lý và những khác
biệt về văn hóa, xã hội và chính trị.
Việc tiến hành quốc tế hóa các hoạt động đòi hỏi công ty phải xử lý các vấn đề về
chọn quốc gia và chọn chiến lược cạnh tranh trên cơ sở tính toán và cân nhắc để hoàn
thiện dây chuyền giá trị và phát triển lợi thế cạnh tranh. Các nguồn của lợi thế cạnh
tranh phải được xem xét cân nhắc trong một bối cảnh toàn cầu rộng lớn và đặc biệt
phải quan tâm tới yếu tố chính quyền và văn hóa.
d. Thực hiện chiến lược
Biến chiến lược thành hành động và đạt tới sự hội nhập
Một chiến lược được vạch ra tốn kém rất nhiều thời gian và tiền của song nếu nó
không được thực hiện tốt thì cũng trở thành vô nghĩa. Có được một chiến lược tốt đã
là rất khó, biến nó thành hiện thực còn khó hơn rất nhiều. Một chiến lược thành công
luôn là một quá trình trong đó các kế hoạch thực hiện chiến lược phải được chú trọng
ngay trong quá trình hình thành chiến lược. Sứ mạng được tuyên bố phải biến thành
những hành động cụ thể. Các nhà quản trị phải bảo đảm rằng những hoạt động khác

một chiến lược là phi thực tế và không có khả năng thực hiện. Vì thế, khi hoạch định
chiến lược các nhà quản trị cần thấy rằng: không chỉ hoạch định những gì cần thực
hiện mà còn phải xem xét nó có khả năng thực hiện hay không.
e. Cấu trúc tổ chức và kiểm soát chiến lược
Một trong những nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển tổ chức là
con người, vì thế cách thức trong đó nguồn lực này được tổ chức là rất quan trọng đối
với việc thực hiện thành công các chiến lược đã định. Quan điểm truyền thống cho
rằng chiến lược là một quá trình trên xuống, vì thế việc thiết kế hệ thống tổ chức là
một phương tiện để thực hiện và kiểm soát.
III. QUÁ TRÌNH HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU
Hoạch định hay lập kế hoạch là một hoạt động thiết yếu để đảm bảo xây dựng và
thực thi được các chính sách và chiến lược Marketing thích hợp. Trong quá trình
hoạch định chiến lược này tất cả các yếu tố quan trọng của quản trị như : tài chính,
nhân sự, thông tin… đều được xem xét trong mối quan hệ tương tác qua lại tại mọi
cấp độ quản trị của công ty, nhằm giúp công ty nói chung và chức năng quản trị nói
riêng đạt được các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn.
Hoạch định chiến lược Marketing xuất khẩu bao gồm các hoạt động có tính hệ
thống nhằm giúp công ty nhìn thấy những chương trình và hành động cụ thể để thực
thi các chiến lược Marketing xuất khẩu của nó.
Hoạch định chiến lược có thể mang tính ngắn hạn hay dài hạn. Thông thường
một công ty kinh doanh quốc tế thường lập kế hoạch cho 3 năm hay 5 năm tới và kế
hoạch này sẽ được xem xét lại hàng năm. Sau đó, từ các kế hoạch dài hạn, tuỳ từng
mục tiêu và tình hình cụ thể mà công ty xây dựng các kế hoạch ngắn hạn.
Trên thực tế, việc hoạch định chiến lược Marketing thường được thực hiện dựa
trên kinh nhiệm của hoạt động hoạch định trên thị trường nội địa, kết hợp với kinh
nghiệm mà công ty đã đúc kết trong quá trình hoạt động kinh doanh quốc tế của mình.
Nói cách khác, nội dung các bước của quá trình hoạch định chiến lược Marketing xuất
khẩu cũng tương tự như trong Marketing nội địa, bao gồm các bước sau:
5. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC
Các công ty kinh doanh quốc tế hoạt động trong một môi trường phức tạp có thể

lực lượng thị trường, qua hệ thống giá, điều khiển sử dụng nguồn lực vào sản xuất và
phân phối hàng hoá, dịch vụ. Cung cấp nhiên liệu cho hệ thống này là các ý tưởng
như cạnh tranh hoàn hảo, quyền tự do của doanh nghiệp và chủ quyền của người tiêu
dùng. Các Chính phủ có vai trò không quan trọng trong một nền kinh tế như vậy.
Trong nền kinh tế tập trung, tác động của các lực lượng thị trường bị giới hạn.
Các nguồn lực được sử dụng như thế nào và các sản phẩm được phân phối như thế
nào được Chính phủ chỉ định. Để hệ thống này có thể hoạt động các phương pháp kế
hoạch hoá phức tạp và quyền sở hữu công cộng là cần thiết. Các kế hoạch được chi
tiết hoá cao, chúng chỉ rõ các mức của sản xuất , giá và mô hình phân phối.
- Cấu trúc kinh tế
Có hai cách phân loại các khu vực kinh tế. Cách thứ nhất, một giản đồ phân loại
thông thường phân định giữa ba khu vực trong một nền kinh tế. Ba khu vực này là: 1-
12 12
Luận văn tốt nghiệp
Khu vực nông nghiệp gồm: nông, lâm nghiệp, săn bắn và thuỷ sản; 2-Khu vực công
nghiệp gồm: khai mỏ, sản xuất, xây dựng, điện lực, thuỷ lợi và khí đốt; 3-Khu vực
dịch vụ gồm tất cả các hình thái khác của hoạt động kinh tế. Cách thứ hai, theo cách
này thì cấu trúc của một nền kinh tế được phân định ra làm bốn khu vực kinh tế :
1- Khu vực cơ bản: gồm các hoạt động dựa trên nguồn lực tài nguyên thiên nhiên;
2- Khu vực sản xuất;
3- Khu vực tiêu dùng gồm: năng lượng và nước;
4- Khu vực dịch vụ.
Thông thường ở các nước kém phát triển phụ thuộc vào nông nghiệp nhiều hơn
so với các nước giàu có các hoạt động sản xuất và dịch vụ có tỷ lệ tương đối lớn hơn
rất nhiều.Thậm chí trong một khu vực công nghiệp nhất định, bản chất hoạt động
kinh tế trong một quốc gia khác biệt rất lớn với các quốc gia khác.
- Mức độ phát triển kinh tế
Mức độ phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới trải dài từ tỷ lệ rất thấp
đến rât cao. Phát triển kinh tế được đo lường bằng toàn bộ GDP và thu nhập theo đầu
người là mục tiêu hàng đầu của hầu hết các quốc gia.

trường qua việc có nhiều hay khan hiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đồng
thời xác định nền kinh tế sẽ phát triển đến đâu. Bên cạnh đó, các đặc điểm địa lý còn
tác động đến chi phí và mức dễ dàng của phân phối hàng hoá.
- Thông tin nhân khẩu học
Các thông tin nhân khẩu học có tầm quan trọng đặc biệt vì nó giúp chúng ta
đánh giá được mức độ và mô hình nhu cầu ở một thị trường nhất định và bản chất của
lực lượng lao động ở địa phương. Trước hết, quy mô của thị trường tiềm năng là một
yếu tố sống còn của thị trường. Tuy nhiên nếu chỉ đề cập đến quy mô mà không đề
cập đến sức mua thì sẽ trở nên vô nghĩa. Đôi khi tăng trưởng dân số nhanh hơn là
tăng trưởng kinh tế, điều này đáng lo ngại ở các nước phát triển Châu Phi.
Tỷ lệ phát triển dân số và quy mô của dân số sẽ ảnh hưởng khả năng tiến triển về
kinh tế của xã hội và đặt nền móng cho tương lai. Nó đồng thời cũng ảnh hưởng đến
sự phân bổ của thu nhập hiện tại cũng như tương lai.
Độ tuổi cấu thành của dân số cũng là mối quan tâm của các nhà quản trị
Marketing. Những gia tăng và suy giảm dân số của một nhóm tuổi nhất định cũng
liên quan chặt chẽ đến nhu cầu của những hàng hoá và dịch vụ nhất định.
- Kết quả kinh tế
Dữ liệu tổng thu nhập quốc dân và tổng thu nhập quốc gia trên đầu người là
những chỉ tiêu kết quả kinh tế đã được đề cập tới. Đặc biệt tỷ lệ tăng trưởng có tác
động rất lớn đến mức sống tương đối giữa các quốc gia.
Ngoài ra, các chỉ tiêu sau đây cũng được sử dụng để đánh giá kết quả kinh tế:
− Các số liệu quá khứ và hiện tại về số liệu thất nghiệp và năng suất lao động.
− Lạm phát.
− Cán cân thanh toán và dự trữ ngoại tệ.
− Đầu tư và tiết kiệm.
− Nguồn cung ứng tiền tệ và tỷ lệ lãi suất.
− Chỉ số hàng tiêu dùng và thương mại ngoài nước.
− Tỷ giá hối đoái của tiền địa phương và thuế.
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là mạng lưới các phương tiện và dịch vụ cần thiết cho việc hoạt

làm được điều này các chính phủ thường sử dụng các hàng rào thương mại. Có ba
hình thức hàng rào thương mại chính: thuế quan, hạn ngạch và các hàng rào phi thuế.
 Thuế quan:
Thuế quan là các mức thuế mà được đặt ra đối với các hàng xuất hoặc nhập
khẩu. Có một số loại thuế quan như sau:
Thứ nhất, các thuế quan theo giá hàng được thu như một tỷ lệ phần trăm nhất
định của trị giá hàng hoá sẽ bị đánh thuế. Thứ hai, thuế theo số lượng là mức độ cố
định được thu dựa trên mỗi đơn vị địa lý được nhập hay xuất khẩu. Thứ ba, thuế phức
hợp kết hợp hai loại thuế quan theo giá hàng và theo số lượng thông qua thiết lập một
đơn vị thuế cố định và thêm một lượng biến đổi vào các tỷ lệ cơ sở này có liên quan
đến trị giá hàng hoá.
15 15
Luận văn tốt nghiệp
Thuế không những là nguồn thu mà quan trọng hơn nó còn là biện pháp bảo hộ
đối với hàng hoá nhập khẩu. Thuế quan đồng thời tác động trực tiếp( làm gia tăng )
đối với giá cả hàng hoá.
 Hạn ngạch:
Khác với thuế không giới hạn danh mục hàng hoá kinh doanh, hạn ngạch hạn chế
trực tiếp khối lượng vật lý hoặc ( ít thông thường hơn ) giá trị của hàng nhập khẩu hoặc
xuất khẩu. Hạn ngạch thường được dùng để bảo hộ sản xuất trong nước đối với cạnh
tranh quốc tế, nhưng nó không tạo ra lợi nhuận cho chính phủ đặt ra hạn ngạch đó.
 Hàng rào phi thuế:
Các hàng rào phi thuế quan ( NTB )gồm tất cả các biện pháp hạn chế mậu dịch
nhân tạo khác. Các hình thức quan trọng nhất của NTB là:
− Trợ giúp các nhà sản xuất trong nước.
− Các hạn chế xuất khẩu tự nguyện.
− Các luật lệ và thủ tục điều tra chống phá giá có thành kiến.
− Việc mua sắm của Chính phủ ưu đãi các nhà sản xuất địa phương.
− Kiểm soát ngoại hối.
− Các quy tắc và kiểm soát tiêu chuẩn sản phẩm được thiết lập nhằm hạn chế nhập khẩu.

Khi tiến hành nghiên cứu môi trường chính trị các công ty kinh doanh quốc tế
cần phải quan tâm đến các khía cạnh sau:
− Môi trường ý thức hệ và các quá trình chính trị.
− Chủ nghĩa quốc gia.
− Sự can thiệp của Chính phủ .
− Sự ổn định về chính trị.
Thông qua công tác nghiên cứu các khía cạnh của môi trường chính trị là cơ sở để
các công ty KDQT tiến hành hoạt động đo lường và phản ứng với các rủi ro chính trị.
Thực tế luôn tồn tại rủi ro chính trị ở các quốc gia nhưng mức độ của chúng là
không giống nhau. Nhìn chung rủi ro chính trị sẽ thấp nhất ở các quốc gia có một lịch
sử phát triển ổn định và nhất quán.
Khi tiến hành đánh giá hiệ`u quả rủi ro chính trị của một công ty KDQT ở cả
trong và ngoài nước cần đánh giá theo hai bước riêng biệt:
Bước 1: bao gồm dự báo mội trường chính trị trong quốc gia đang quan tâm ở
mức vĩ mô - tổng quát.
Bước 2: đây là bước quan trọng hơn và khó khăn hơn, là việc tiến hành phân tích
ở mức vi mô về các vận dụng rủi ro chính trị của dự báo chung được đánh giá cho một
công ty KDQT riêng biệt. Công việc này đòi hỏi phải quan tâm đến các đặc điểm, hành
động và lịch sử riêng có của công ty trong một thị trường nhất định. Việc phân tích
phải tập trung vào nhận biết các cơ hội cũng như các nguy cơ có thể xảy ra.
Công tác đo lường rủi ro chính trị được tiến hành theo hai khía cạnh khác nhau
là rủi ro vi mô và rủi ro vĩ mô. Đối với mỗi loại rủi ro các công ty cần phải có những
phương pháp đo lường thích hợp từ đó thu được kết quả chính xác và có các biện
pháp khắc phục đúng đắn.
Môi trường luật pháp
Một công ty KDQT hoạt động đồng thời phải đối mặt với một môi trường luật
pháp. Môi trường luật pháp tác động đến hoạt động của công ty kinh doanh quốc tế
bao gồm ba khía cạnh khác biệt: 1-luật pháp nước nhà; 2-các luật pháp ở thị trường
nước ngoài; 3-luật pháp quốc tế.
17 17

quốc tế .
Trước hết, điều cơ bản là phải nhận thức rõ bản chất cốt lõi của hệ thống luật
pháp trong các thị trường mà họ quan tâm.Sự phân định quan trọng là giữa hệ thống
bộ luật và luật chung. Mặc dù cần phải chú ý phân định giữa hai hệ thông luật này
nhưng cần đặc biệt chú ý là những nét tương đồng bề ngoài trong hệ thống luật pháp
có thể che dấu những khác biệt quan trọng. Do vậy các chi tiết cụ thể của luật pháp
nước chủ nhà là mối quan tâm hàng đầu của ban quản trị. Cụ thể là các công ty
thường quan tâm đến lĩnh vực sau của hệ thống luật pháp. Thứ nhất, luật lệ có tác
động đến phương thức xâm nhập thị trường được chú ý đến- nhập khẩu, bản quyền,
18 18
Luận văn tốt nghiệp
đầu tư nước ngoài trực tiếp, và liên doanh –là quan trọng nhất.Trong một số quốc gia,
có vô số các luật lệ có hiệu lực mà công ty nước ngoài phải tính đến.
Ngoài ra, nhưng sự khác biệt trong hoàn cảnh luật pháp quốc gia, các nhu cầu và
những ưu thế khác.Đôi khi chúng là kết quả của một chiến lược khác có ý thức. Các
khung luật pháp không quen thuộc và những đặc điểm khác thường có liên quan đến
tiêu chuẩn sản phẩm sẽ gia tăng tính không ổn định và nâng cao chi phí xâm nhập thị
trường. Cuối cùng, điều quan trọng là việc diễn giải môi trường luật pháp của nước
chủ nhà không được giao cho những người không chuyên. Ý kiến và lời khuyên của
các chuyên gia là cần thiết; nhưng nguồn phân tích quan trọng và tốt nhất là các luật
sư quen thuộc với sự vận hành của hệ thống luật pháp địa phương và việc vận dụng
các luật lệ có liên quan.
b. Môi trường kinh tế quốc tế
Các công ty hoạt động trên thị trường quốc tế không những chịu những tác động
của các xu thế phát triển trọng thương mại quốc tế mà còn bị ảnh hưởng bởi xu thế
hội nhập kinh tế vùng và thế giới.
Đặc điểm hội nhập kinh tế vùng có ảnh hưởng quan trọng đối với các công ty
đang hoạt động trong các thị trường . Hội nhập kinh tế diễn ra trong nhiều hình thức
khác nhau, nhưng đặc biệt bao hàm hợp tác kinh tế, được thiết lập để mang lại sự phụ
thuộc lẫn nhau nhiều hơn giữa các quốc gia. Các kế hoạch thông thường nhất được

và ra của vốn. Thứ hai, rủi ro về tỷ giá hối đoái là một rào cản quan trọng đối với tính
linh hoạt của vốn. Thứ ba, rủi ro về chủ quyền, là khả năng Chính phủ nước ngoài sẽ
trả không đúng hạn các khoản vay từ các nhà băng hoặc tổ chức nước ngoài hoặc đề
ra các ngăn cấm đối với những khoản nợ tư nhân.
d. Môi trường thương mại quốc tế
Tình hình giao lưu buôn bán giữa các nước trên thế giới có ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động của công ty. Cho dù có những lập luận ủng hộ mậu dịch tự do, nhưng
các chính sách thương mại của nhiều quốc gia trong chiều dài lịch sử bị ảnh hưởng
nhiều bởi mong muốn bảo vệ ngành hàng nội địa đối với cạnh tranh ngoài nước.
Những chính sách này rất phổ biến trong những năm 30 của thế kỷ này, và khi sự tấn
công của khủng hoảng toàn cầu và các mưc thuế cao được đặt ra ở nước Mỹ đã khởi
sự ra một vòng luẩn quẩn các biện pháp bảo vệ trả đũa khắp nơi trên thế giới. Những
biện pháp này cùng với sự suy giảm mức thu nhập chung đã làm cho quy mô thương
mại quốc tế giảm mạnh.
Hiệp định chung về thuế quan thương mại( GATT )
Hiệp định GATT định ra các nguyên tắc chỉ đạo chung để tiến hành thương mại
quốc tế. GATT cũng cung cấp các diễn đàn căn bản để thương lượng về việc hạ bớt
đa phương về thuế quan và các hàng rào khác của thương mại quốc tế.
Mục tiêu cơ bản của GATT là nhằm phá bỏ các hàng rào đối với thương mại
quốc tế theo một các thức dần dần, gia tăng dựa trên các cuộc thương lượng đa
phương. Những thay đổi gần đây nhất của GATT là khuyến khích gia tăng thương
mại thế giới. Theo hiệp định mới thì nó được thay thế bởi Tổ chức thương mại thế
giới ( WTO ) được thành lập vào ngày 1/1/1995. WTO mới được thành lập sẽ có
nhiều quyền lực hơn để thi hành các quy tắc về tranh chấp thương mại và tạo ra một
hệ thống hưu hiệu hơn để theo dõi các chính sách thương mại.
Các hiệp định sản phẩm chủ yếu:
Các hàng hoá chủ yếu là những nguyên liệu thô hoặc thực phẩm chưa được chế
biến, thường được sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm khác và bao gồm các sản
phẩm như các kim loại, đồ ăn, thuốc lá và da sống. Hầu hết cả thế giới buôn bán trao
20 20

hợp.
Lý do thông thường nhất thúc đẩy sự thoả thuận các hiệp định của nhà sản xuất
là các điều khoản quốc tế về thương mại có tác động tiêu cực đối với các nhà xuất
khẩu hàng hoá đang đương đầu với giá cả không ổn định, mà trong tương lai xa, sẽ
gia tăng chậm chạp hơn nhiều so với mức trung bình của các sản phẩm sản xuất. Theo
cách nhìn nhận của các nước kém phát triển, các quốc gia tiêu thụ giàu có không thực
sự quan tâm làm cho các hiệp định hàng hoá có hiệu lực do đó hợp tác với các nhà
xuất khẩu khác là cần thiết.
e. Môi trường chính trị và luật pháp quốc tế
21 21
Luận văn tốt nghiệp
Các nhân tố về chính trị quốc tế :
Người ta cho rằng tổ chức chính trị quan trọng nhất là Nhà nướcchủ quyền do nó
có khả năng phát hành tiền tệ, đánh thuế và định ra luật lệ trong một quốc gia. Do vậy
hoàn cảnh chính trị quốc tế ít quan trọng hơn nhiều so với môi trường chính trị quốc
gia. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có một số khía cạnh chính trị quan trọng vượt ra ngoài
biên giới quốc gia và có những vận dụng quan trọng trong Marketing quốc tế.
Tác động của chính trị đối với Marketing quốc tế được xác định bởi cả mối quan
hệ song phương giữa quốc gia nước nhà và quốc gia nước chủ nhà và các hiệp định
đa phương điều chỉnh mối quan hệ giữa các nhóm quốc gia.
Mối quan hệ giữa Chính phủ với Chính phủ có thể có những ảnh hưởng sâu
rộng, đặc biệt khi mối quan hệ này trở nên thù địch.Ngoài ra mối quan hệ chính trị
song phương cũng có thể chặt chẽ cũng có thể dẫn tới thúc đẩy thương mại. Do đó
mối quan hệ chính trị quốc tế không phải lúc nào cũng có tác động tiêu cực đối với
các nhà làm Marketing quốc tế. Nếu mối quan hệ chính trị song phương được cải
thiện thì hoạt động kinh doanh quốc tế của công ty có thể được hưởng lợi.
Các nhà quản trị công ty KDQT cần phải nhận thức được sự thay đổi và sự vận
động về chính trị trên thế giới và cố gắng dự đoán những thay đổi trong môi trường
chính trị quốc tế để từ đó có kế hoạch đối phó.
Thêm vào đó thì các tổ chức kinh tế như: Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại

định đa phương điều chỉnh lĩnh vực này bao gồm Công ước quốc tế về bảo hộ sở hữu
công nghiệp và hiệp định Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu thương mại.
Trong kinh doanh quốc tế, sự vận động dẫn tới phát triển các tiêu chuẩn sản
phẩm và các luật chống độc quyền đặc biệt được quan tâm. Nó đồng thời là thời cơ
và thách thức cho các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế.
 Giải quyết tranh chấp:
Môi trường pháp luật quốc tế cũng tác động đến các nhà làm Marketing tới mức độ
mà công ty phải quan tâm đến việc phân sử các xung đột. Do không có một thể chế thi
hành luật nào tồn tại, nên các công ty thường giới hạn trong các luật pháp của nước nhà.
Nếu có xung đột giữa hai bên ký kết hợp đồng ở hai quốc gia khác nhau, thì vấn đề đặt
ra là giải quyết các bất đồng luật pháp của các bên từ các quốc gia khác nhau như thế
nào. Thường các công ty kinh doanh quốc tế sẽ lựa chọn để định rõ loại luật và toà án
trong nước của họ sẽ được sử dụng để giải quyết tranh chấp. Các bên tham dự ngoại
quốc sẽ thường nài ép để có được phạm vi và quyền hạn của luật và toà án địa phương
của họ. Vì các lý do trên nên khi các công ty kinh doanh quốc tế tham gia vào hoạt động
thương mại cần phải thoả thuận rõ ràng các điều khoản sử lý các tranh chấp khi thực
hiện hợp đồng.
Nói tóm lại, môi trường Marketing quốc gia và quốc tế đóng một vai trò quan
trọng trong các hoạt động Marketing quốc tế của các công ty. Thậm chí những kế
hoạch kinh doanh tốt nhất cũng có thể bị huỷ hoạt do những ảnh hưởng bất ngờ của
môi trường Marketing, và nếu các nhà làm Marketing quốc tế bị thất bại trong việc
dự báo các nhân tố này có thể không thực hiện được dự án kinh doanh trên thị trường
quốc tế.
Các nhóm môi trường Marketing đều tác động nên các hoạt động Marketing
quốc tế của một công ty theo nhiều phương cách khác nhau.
Các công ty kinh doanh quốc tế thành công sẽ hiểu thấu đáo môi trường
Marketing quốc gia mà công ty đang có hoạt động kinh doanh và do đó có hoạt động
kinh doanh trong giới hạn hiện tại và có thể dự đoán và kế hoạch hoá hoạt động nhằm
có những ứng sử phù hợp với những thay đổi của môi trường.
23 23

động viên người lao động trong tổ chức đạt đến điều tốt nhất mà họ có thể đạt tới.
Thứ tư , các mục tiêu chiến lược liên quan tới hoạt động và kết hợp các chức
năng khác nhau của tổ chức. Sự chuyên môn hoá trong hoạt động của tổ chức có thể
tạo ra bệnh cục bộ và sùng bái chức năng, mỗi phòng ban, bộ phận chỉ biết có mình
và thực hiện các mục tiêu ngắn hạn của mình mà không quan tâm đến các mục tiêu
chiến lược của toàn tổ chức. Việc hình thành và làm cho những người trong tổ chức
hiểu rõ những mục tiêu chiến lược của tổ chức sẽ hướng hoạt động của họ vào việc
đạt tới các mục tiêu chiến lược, tạo ra sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau và tạo ra sự cộng
hưởng sức mạnh và nguồn lực của các phòng ban, bộ phận trong việc đạt tới mục tiêu
chiến lược của toàn bộ tổ chức.
24 24
Luận văn tốt nghiệp
Các mục tiêu ngắn hạn:
Việc phát triển các mục tiêu ngắn hạn đúng đắn sẽ xác định sự thành công hay
thất bại của một chiến lược. Các mục tiêu ngắn hạn có thể được xem như nền tảng từ
đó các mục tiêu chiến lược được thực hiện.
Các mục tiêu ngắn hạn thường có các đặc tính sau: Cụ thể; có thể đo lường
được; có thể giao cho mọi người; có tính hiện thực; giới hạn cụ thể về thời gian.
Các mục tiêu ngắn hạn phải đưa ra các chỉ dẫn phù hợp, song nó phải tạo điều
kiện cho công ty đủ năng động trong việc thích ứng với những thay đổi của môi
trường bên ngoài và bên trong. Mỗi một sự thay đổi xảy ra từ bất kỳ môi trường nào
cũng đòi hỏi công ty phải thay đổi, điều chỉnh các mục tiêu ngắn hạn của mình.
Các mục tiêu ngắn hạn phải đảm bảo nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn của
chiến lược tổng thể và hội nhập có hiệu quả vào chiến lược chung.
7. XÁC ĐỊNH CÁC LOẠI CHIẾN LƯỢC
Trong hoạt động kinh doanh trên thị trường toàn cầu, các công ty thường có một
số chiến lược khác nhau để tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế. Sau khi chiến
lược được xác định, nó trở thành nền tảng để công ty phát triển các chương trình
Marketing địa phương và toàn cầu.
Có ba chiến lược hạt nhân do Porter đưa ra gồm: 1 - Dẫn đạo về chi phí; 2 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status