MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ - Pdf 74



4
ch−¬ng 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

1.1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1.1.
Cơ cấu
Cơ cấu hay còn gọi là cấu trúc, có nguồn gốc chữ La tinh “Structure”
có nghóa là xây dựng, là kiến trúc. Xét về mặt triết học, cơ cấu là một phạm
trù phản ánh cấu trúc bên trong của một số đối tượng, là tập hợp những mối
liên hệ cơ bản tương đối ổn đònh giữa các yếu tố cấu thành đối tượng đó,
trong một thời gian, không gian nhất đònh.
Trong khi phân tích quá trình phân công lao động chung, Kark Marx đã
nói: “Cơ cấu là sự phân chia về chất lượng theo một tỷ lệ về số lượng của quá
trình sản xuất xã hội”.
Là một phạm trù triết học, khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thò cấu
trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của một hệ
thống. Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ,
các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất đònh. Cơ cấu là thuộc tính của một
hệ thống. Do đó, khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống.
1.1.2.
Cơ cấu kinh tế
Trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm
cơ cấu kinh tế.
“Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lónh vực, bộ phận kinh tế có quan
hệ hữu cơ tương đối ổn đònh hợp thành. Có các loại cơ cấu kinh tế khác nhau: cơ

kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua
lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế cụ
thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất đònh. Theo quan điểm này,
cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ
xã hội.
Một cách tiếp cận khác thì cho rằng: cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ
là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với
nhau, tác động qua lại với nhau trong những không gian và thời gian nhất đònh,
trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất đònh, được thể hiện cả về mặt đònh
tính lẫn đònh lượng, cả về số lượng và chất lượng, phù hợp với mục tiêu được xác
đònh của nền kinh tế.
[14]

Nhìn chung, các cách tiếp cận trên đã phản ánh được mặt bản chất chủ
yếu của cơ cấu kinh tế. Đó là các vấn đề:
- Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế
của một quốc gia.
- Số lượng và tỷ trọng của các nhóm ngành của các yếu tố cấu thành
hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước.
- Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu
tố… hướng vào các mục tiêu đã xác đònh. Cơ cấu kinh tế còn là một
phạm trù; muốn nắm vững bản chất của cơ cấu kinh tế và thực thi
các giải pháp nhằm chuyển dòch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu
quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tế quốc dân. 6

Từ những khái niệm trên tác giả cho rằng: cơ cấu kinh tế phải đảm bảo
tính liên kết trong nội bộ nền kinh tế và tác động qua lại lẫn nhau để cùng nhau
phát triển, làm cơ sở cho quá trình chuyển dòch cơ cấu trong nền kinh tế.
1.2.
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.2.1.
Chuyển dòch cơ cấu kinh tế
Chuyển dòch cơ cấu kinh tế là “quá trình cải biến kinh tế xã hội từ tình
trạng lạc hậu, mang nặng tính chất tự cấp tự túc từng bước vào chuyên môn hóa 7
hợp lý, trang bò kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó, tạo ra năng suất lao
động cao, hiệu quả kinh tế cao và nhòp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế nói
chung. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế bao gồm việc cải biến kinh tế theo ngành,
theo vùng lãnh thổ và cơ cấu các thành phần kinh tế. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế
là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và là một quá trình đi lên từng bước dựa
trên sự kết hợp mật thiết các điều kiện chủ quan, các lợi thế về kinh tế xã hội, tự
nhiên trong nước, trong vùng, trong đơn vò kinh tế với các khả năng đầu tư, hợp
tác, liên kết, liên doanh về sản xuất, dòch vụ, tiêu thụ sản phẩm của các nước,
các vùng và đơn vò kinh tế khác nhau…”.
[37]

Quá trình phát triển, hoạt động kinh tế của các ngành, các vùng và các thành
phần kinh tế không phải bao giờ cũng đồng đều và nhòp nhàng với nhau, vì trong
quá trình ấy có nhiều yếu tố tác động đến xu hướng phát triển của mỗi ngành.
Ngoài ra, cơ cấu kinh tế sẽ thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp
thành cơ cấu kinh tế không cố đònh. Đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc sự
thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện
hoặc biến mất của một số ngành và tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ

nhiều yếu tố trong đó có sự tác động trực tiếp rất quan trọng của chủ thể lãnh
đạo và quản lý.
Sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế nhất thiết phải là một quá trình, nhưng không
là một quá trình tự phát và với các bước tuần tự theo khuôn mẫu nào đó mà ngược
lại, con người bằng nhận thức vượt trước và am hiểu thực tế sâu sắc hoàn toàn có
thể tạo ra những tiền đề, tác động làm cho quá trình đó diễn ra nhanh hơn theo
hướng đúng, hoàn thiện hơn. Nhưng vấn đề quan trọng là phải khởi xướng từ đâu,
dùng biện pháp nào để mở đầu và tạo hiệu ứng lan truyền trong tổng thể nền kinh
tế để chuyển dòch cơ cấu kinh tế có hiệu quả.
Các nước trên thế giới đều quan tâm đến việc điều chỉnh hợp lý cơ cấu
kinh tế của mình. Có nhiều lý do làm cho các nước có những quan tâm đến vấn
đề này:
- Trong mấy thập kỷ qua, các nước vùng châu Á Thái Bình Dương đã tận
dụng khá tốt những lợi thế so sánh để phát triển nền kinh tế của mình nên đã đạt
tốc độ tăng trưởng khá cao, làm cho khu vực này trở thành khu vực phát triển
kinh tế năng động nhất thế giới. Nhờ đó, đã xuất hiện những nước công nghiệp
hóa mới, và có những nước đứng vào hàng ngũ các nước có tốc độ tăng trưởng
cao.
- Để đổi mới công nghệ sản xuất, các nước công nghiệp hóa tìm cách
chuyển những công nghệ lạc hậu hoặïc kém tính cạnh tranh sang các nước kém
phát triển hơn. Mặt khác, các nước kém phát triển hơn lại có nhu cầu tiếp nhận
các công nghệ có trình độ thấp để từng bước tham gia vào thò trường thế giới, tạo
ra cơ may, tự điều chỉnh hành vi và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thò trường
quốc tế.
- Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tạo ra những lónh
vực công nghệ mới, có hiệu quả cao, đặc biệt là các công nghệ tiên tiến, có khả
năng tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường.
[49]
1.2.1.2. Cơ cấu kinh tế hiệu quả và hợp lý
Một cơ cấu kinh tế hiệu quả, hợp lý, trong thực tế được thông qua các

đònh chứ không tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của con người.
Khác với qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế vận động và phát huy tác
dụng thông qua hoạt động của con người. Vì vậy trong quá trình hình thành và
chuyển đổi cơ cấu kinh tế luôn chòu sự tác động nhất đònh của con người, tuy
nhiên sự tác động chủ quan này phải phù hợp qui luật khách quan. Điều này có
nghóa là ở mỗi giai đoạn nhất đònh, với trình độ nhất đònh của sản xuất sẽ cần
thiết và có khả năng tồn tại khách quan một cơ cấu kinh tế thích hợp. Phát
triển kinh tế trên một cơ cấu kinh tế hợp lý thì nền kinh tế sẽ phát triển thuận
lợi, ngược lại thì nền kinh tế sẽ gặp khó khăn.
Việc nghiên cứu cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải xác đònh đúng cơ cấu kinh tế
của giai đoạn hiện tại (cả về mặt đònh tính và đònh lượng) và dự báo chính xác
cơ cấu kinh tế trong tương lai. Việc kế thừa những tinh túy hoặc khắc phục
những nhược điểm của cơ cấu kinh tế hiện tại để phát triển đúng đắn cơ cấu kinh
tế tương lai là quan trọng
[19, 37]
.
1.2.2.2.
Tính lòch sử cụ thể về thời gian, không gian10
Cơ cấu kinh tế thể hiện trình độ phát triển của vùng, quốc gia. Sự
dòch chuyển cơ cấu kinh tế thể hiện chiều hướng phát triển của cơ cấu kinh
tế. Cơ cấu kinh tế luôn có tính kế thừa có nghóa là cơ cấu kinh tế mới trong
từng thời kỳ của từng đòa phương và trong cả nước bao giờ cũng đứng trước
một cơ cấu kinh tế thời kỳ trước để lại. Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên,
hoàn cảnh lòch sử cụ thể, hoạt động các qui luật kinh tế đặc thù các phương
thức sản xuất sẽ quyết đònh sự khác biệt về cơ cấu kinh tế mỗi vùng, mỗi
nước.
Cơ cấu kinh tế phản ánh tính qui luật chung của quá trình phát triển (đó là
11
ngành là biểu hiện rõ nhất của phân công lao động xã hội phản ánh trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển khoa học công nghệ của
nền kinh tế. Ngành có thể hiểu là tổng thể các đơn vò kinh tế cùng thực hiện
một chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội. Cơ cấu ngành biểu
hiện quan hệ kinh tế giữa các ngành. Cơ cấu ngành là bộ phận then chốt
trong

nền kinh tế quốc dân vì cơ cấu ngành quyết đònh trạng thái chung và tỷ lệ
đầu vào, đầu ra của nền kinh tế. Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc
trưng của các nước đang phát triển.
Colin Clark, nhà kinh tế học Anh đã đưa ra phương pháp phân loại toàn
bộ hoạt động của nền kinh tế thành ba ngành
[47]
:
- Ngành thứ I: sản phẩm được sản xuất ra có nguồn gốc tự nhiên.
- Ngành thứ II: gia công các sản phẩm được sản xuất ra có nguồn gốc tự
nhiên.
- Ngành thứ III: là ngành sản xuất ra của cải vô hình.
(Ngành thứ I và ngành thứ II là những ngành sản xuất ra của cải hữu
hình).
Để thống nhất tiêu chuẩn phân loại ngành giữa các nước, Liên hiệp
quốc đã ban hành “hướng dẫn phân loại ngành theo tiêu chuẩn quốc tế đối
với toàn bộ các hoạt động kinh tế”. Tiêu chuẩn này cũng được gom lại thành
ba bộ phận nên nó trùng hợp với phương pháp phân loại của Colin Clark.
- Nhóm ngành nông nghiệp: Bao gồm các ngành nông, lâm, ngư
nghiệp.
- Nhóm ngành công nghiệp: Bao gồm các ngành công nghiệp và xây

Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một thể
thống nhất và đều biểu hiện sự phân công lao động xã hội. Cơ cấu lãnh thổ hình
thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế. Trong cơ cấu
lãnh thổ có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện cụ thể của không gian
lãnh thổ. Xu hướng phát triển kinh tế lãnh thổ thường là phát triển nhiều mặt, tổng
hợp, có ưu tiên một vài ngành và gắn liền với hình thành sự phân bổ dân cư phù
hợp với các điều kiện, tiềm năng phát triển kinh tế của lãnh thổ. Việc chuyển dòch
cơ cấu lãnh thổ phải bảo đảm sự hình thành và phát triển có hiệu quả của các
ngành kinh tế, các thành phần kinh tế theo lãnh thổ và trên phạm vi cả nước, phù
hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, phong tục tập quán, truyền thống của
mỗi vùng, nhằm khai thác triệt để thế mạnh của mỗi vùng đó.
1.2.3.3.
Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế: Theo từ điển bách khoa
“cơ cấu nền kinh tế quốc dân gồm nhiều thành phần với những hình thức sở
hữu khác nhau (kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư
bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế gia đình). Các hình thức sở hữu
hỗn hợp và đan kết với nhau, hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng. Chính
sách phát triển kinh tế của nhà nước Việt Nam xuất phát từ tính tất yếu
khách quan của quá trình xây dựng chủ nghóa xã hội trong thời kỳ quá độ ở
Việt Nam, xây dựng một nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản
xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển
nền kinh tế hàng hóa theo đònh hướng xã hội chủ nghóa, thực hiện nhất quán
chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế quốc doanh
và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân,
tạo động lực và môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế, các loại
hình doanh nghiệp phát triển nhanh và có hiệu quả. Trong chính sách cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần thì phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp nhà nước,
đổi mới kinh tế hợp tác xã, phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ xã viên,
giúp đỡ, hỗ trợ kinh tế cá thể, tiểu chủ, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân


- Thành phần kinh tế tư bản nhà nước.
- Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên hệ thống tổ chức kinh
tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất,
thúc đẩy phân công lao động xã hội… Theo nghóa đó, cơ cấu thành phần kinh tế
cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ. Sự
tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa các loại cơ cấu
trong thành phần kinh tế.
Ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu
thành phần kinh tế, cơ cấu lãnh thổ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, cơ
cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả. Cơ cấu ngành và thành phần kinh
tế chỉ có thể được dòch chuyển đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên
phạm vi cả nước. Mặt khác, việc phân bố không gian lãnh thổ một các hợp lý có ý
nghóa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên lãnh
thổ.
Để một nền kinh tế phát triển một cách ổn đònh, nó đòi hỏi phải có một cơ
cấu kinh tế hợp lý, xác đònh rõ mối quan hệ giữa các ngành của nền kinh tế quốc
dân, quan hệ giữa các vùng kinh tế , lãnh thổ và quan hệ giữa các thành phần
kinh tế. Những mối quan hệ này được biểu hiện cả về chất và lượng và chúng
luôn thay đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển của từng thời kỳ. 15
Cơ cấu kinh tế luôn ở trạng thái động và không có một khuôn mẫu nào
nhất đònh. Nó tùy thuộc vào những điều kiện tất yếu, cụ thể theo không gian và
thời gian của mỗi nước, mỗi vùng.
Tóm lại theo tác giả, chuyển đổi cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ lạc
hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tân tiến, hoàn thiện bổ sung
cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
Chuyển dòch cơ cấu kinh tế là quá trình tác động của con người làm thay đổi

học công nghệ, xu hướng quốc tế hóa và khu vực hóa. 16
- Năm là, lấy hiệu quả kinh tế-xã hội làm thước đo kết quả cuối cùng của
một cơ cấu kinh tế tối ưu. 17
1.2.5. Mối quan hệ giữa chuyển dòch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế
Nói đến quá trình phát triển kinh tế, người ta thường quan tâm đến hiệu
quả sử dụng các nguồn lực hiện có, sự gia tăng các nguồn lực sản xuất theo
thời gian và cách thức phân phối sản phẩm và thu nhập cho các nhân tố sản
xuất. Còn khi nói đến cơ cấu của một nền kinh tế, ta thường quan tâm đến các
thành phần có ý nghóa cơ bản, tồn tại lâu dài, làm cơ sở cho những biến động
có tính chất thường xuyên trong đời sống kinh tế.
Cơ cấu xã hội và kinh tế là cơ sở cho những nhân tố quyết đònh phúc lợi
vật chất của nhân dân. Cách thức thay đổi cơ cấu sao cho phù hợp với quá trình
phát triển của nền kinh tế là một vấn đề quan trọng mà nhiều nhà kinh tế xưa
nay vẫn quan tâm nghiên cứu. Bắt đầu bằng những thay đổi của cơ cấu phát sinh
trong quá trình phát triển, sau đó đi sâu nghiên cứu nhiều khía cạnh khác của
quá trình chuyển đổi cơ cấu có sự can thiệp của nhà nước và chính phủ.
Cho tới nay, nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng chắc chắn
là có những qui luật phản ánh phương thức thay đổi của cơ cấu kinh tế khi thu
nhập bình quân đầu người tăng lên. Sự phát triển các ngành kinh tế trong một nền
kinh tế chứa đựng một cơ cấu kinh tế nhất đònh, và ngược lại, việc quyết đònh đầu
tư tập trung các nguồn lực để phát triển mạnh một số ngành kinh tế trong toàn bộ
nền kinh tế sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cả nền kinh tế. Quyết đònh
chọn ngành đúng để đầu từ nguồn lực sẽ tạo động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát
triển mạnh hơn và ngược lại, sẽ làm giảm tốc đôï phát triển của nền kinh tế. Đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status