A/_Lời mở đầu:
Nền kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập WTO đã có những bước
phát triển lớn và đạt được nhiều thành tựu nhất định.Riêng đối với hoạt
động thương mại,nước ta được hưởng quy chế thành viên của WTO,điều
này tạo cơ hội cho việc mở rộng thị trường ,nâng cao kim ngạch xuất nhập
khẩu ,tăng tổng mức lưu chuyển bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ.Thị
trường trong nước phát triển sôi động với nhiều chủng loại hàng hóa đa
dạng ,phong phú.Trong sự phát triển chung đó sẽ là thiếu sót nếu không
nhắc đến thị trường mỹ phẩm Việt Nam với tốc độ tăng trưởng bình quân là
20%/năm.
Kinh tế phát triển,thu nhập của người dân ngày càng được cải
thiện,nhu cầu chăm sóc bản thân cũng được nâng cao.Mối quan tâm của cả
hai giới tới ngoại hình ngày càng lớn do đó mỹ phẩm dần dần trở thành sản
phẩm tiêu dùng quen thuộc.Không những thế,ngày nay nó đã trở thành một
loại hình sản phẩm không thể thiếu được với tất cả mọi người ở mọi lứa
tuổi,tầng lớp khác nhau.Ảnh hưởng của nó không chỉ dừng lại ở khía cạnh
thẩm mỹ mà còn qua đó gián tiếp tác động đến nhiều khía cạnh khác
nữa.Đó là một mặt hàng tiềm năng và cần được khai thác một cách đúng
hướng và hiệu quả.Theo nhận xét của các chuyên gia,Thị trường mỹ phẩm
Việt Nam được nhìn nhận như một thị trường phát triển nhanh và sẽ còn
phát triển mạnh trong những năm tiếp theo.Bên cạnh những thuận lợi
không thể không nói đến những thách thức đặt ra.Thị trường luôn tiềm ẩn
nhiều yếu tố tác động bất lợi đến nền kinh tế như giá cả biến động cần phải
có nhiều nỗ lực để kiểm soát;công tác quản lý thị trường còn nhiều hạn
chế;nhiều khâu còn buông lỏng quản lý đặc biệt là việc xử lý kinh doanh
hàng giả ,hàng nhái hàng kém chất lượng còn chưa triệt để.Đặc biệt riêng
1
với loại sản phẩm mỹ phẩm còn có mối liên hệ mật thiết với sức khỏe của
người tiêu dùng.Bởi vậy viêc nghiên cứu thị trường mỹ phẩm có nhiều ý
nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn.
Trước hết,việc nghiên cứu sẽ đưa ra nhiều thông tin chính xác, cần
Chương III:Phương hướng và giải pháp cho thị trường nghiên
cứu
Trong quá trình nghiên cứu của em con có nhiều sai sót do tầm hiểu
biết còn hạn chế,thời gian nghiên cứu ngắn.cách sử dụng từ ngữ chuyên
môn còn đôi chỗ chưa hợp lý.Em mong nhận được sự góp ý ,chỉ bảo tận
tình của thầy để có thể hoàn thiện được đề tài của mình.
Em xin chân thành cảm ơn thầy.
3
Thị trường mỹ phẩm Việt Nam-thực trạng và giải
pháp
Chương I : Những vấn đề lý luận cơ bản của thị
trường mỹ phẩm
I/_Bản chất,vai trò của mỹ phẩm
1)Bản chất:
a)Khái niệm về mỹ phẩm:
_Theo cách hiểu thông thường,mỹ phẩm có nghĩa là sản phẩm làm
đẹp,dùng chủ yếu cho phái nữ,nhằm giúp họ trở nên xinh đẹp hơn
_Theo từ điển y dược,mỹ phẩm được định nghĩa là sản phẩm được chế
tạo nhằm mục đích làm sạch cơ thẻ,tăng thêm vẻ đẹp,làm tăng sức hấp
dẫn,làm thay đổi diện mạo bên ngoài,giúp bảo vệ nuôi dưỡng các mô bên
ngoài cơ thể
Theo định nghĩa trên,mỹ phẩm đã không còn là một sản phẩm làm đẹp
thông thường mà mang ý nghĩa của dược phẩm.Đó cũng chính là lý do mà
các nhà sản xuất cũng như các bác sĩ da liễu luôn khuyên người tiêu dùng
sử dụng mỹ phẩm một cách đúng đắn và thận trọng
_Đi kèm với khái niệm mỹ phẩm còn có khái niệm về dược mỹ
phẩm.Khái niệm dược mỹ phẩm được ông Pierre Fabre đưa ra lần đầu
tiên:mỹ phẩm được nghiên cứu,bào chế như một dược phẩm(tuân thủ tất cả
những qui định nghiêm ngặt của việc nghiên cứu,sản xuất và thử nghiệm
một dược phẩm).Đó là môt loại sản phẩm dùng cho nhu cầu làm đẹp và
da…
+ Lông tóc: dầu gội,dầu xả,thuốc nhuộm tóc,thuốc duỗi tóc,thuốc uốn
tóc,gel vuốt tóc,kem tẩy lông,kem cạo râu,…
+Mắt : bút kẻ mắt,kẻ lông mày,kem chải mi,mi mắt giả
+Môi :son môi,chất làm ẩm môi,chất làm bóng môi…
+Móng tay ,chân : sơn,thuốc tẩy sơn…
2)Vai trò:
_Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với tốc độ phát triển cao.
Tốc độ phát triển kinh tế tăng nhanh, tất yếu kéo theo nhu cầu không ngừng
nâng cao chất lượng cuộc sống.Trong nhịp sống sôi động hiện nay,có một
diện mạo đẹp vừa là một mong muốn chính đáng,vừa là một yêu cầu tương
6
đối cần thiết.Trong cuộc sống cũng như trong công việc,có một ngoại hình
đẹp,thu hút sẽ là một lợi thế không nhỏ.Tuy nhiên,không phải ai cũng có
được vẻ đẹp như mong muốn.Chính mỹ phẩm sẽ là một công cụ giúp
chúng ta hoàn thiện vẻ đẹp bề ngoài của bản thân .Mỹ phẩm vì vậy đã và
đang thu hút được sự quan tâm lớn của cả hai giới.
_Theo một cuộc điều tra nhỏ về nhu cầu sẻ dụng mỹ phẩm thì có đến
39% người được hỏi đều trả lời là họ không bao giờ dùng mỹ phẩm,vì họ
cho rằng mỹ phẩm là những sản phẩm làm đẹp như:kem dưỡng da,phấn
trang điểm,các sản phẩm chăm sóc và bảo vệ da…Trên thực tế,ngoài những
sản phẩm như trên,mỹ phẩm còn bao gồm cả những chế phẩm dùng khi
tắm gội,sản phẩm chăm sóc răng miệng,xà phòng,nước hoa…Theo đó,mỹ
phẩm là sản phẩm gần như không thể thiếu với bất cứ ai
_ Với quy mô dân số 83 triệu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
thu nhập của người dân không ngừng được cải thiện, Việt Nam trở thành
một thị trường béo bở cho các thương hiệu mỹ phẩm và là một trong ba thị
trường mỹ phẩm được chú ý nhất trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc,
Thổ Nhĩ Kỳ). Năm 2004, tổng doanh thu của thị trường mỹ phẩm Việt
Nam - chỉ riêng sản phẩm trang điểm và chăm sóc da -đã đạt khoảng 1.900
phẩm và phong cách phục vụ của doanh nghiệp đều được người tiêu dùng
liên tưởng đến nhãn hiệu và được họ qui về yếu tố cấu thành nhãn
hiệu.Theo marketing thì nhãn hiệu nói chung là một sự hứa hẹn của người
bán với người mua về sự cung cấp một tập hợp các tính chất,lợi ích và dịch
vụ.Khi đó có thể đồng nhất hai khái niệm nhãn hiệu và thương hiệu.
8
_Giá trị của thương hiệu được đo bằng chất lượng dịch vụ cũng như
chất lượng và độ thỏa dụng mà sản phẩm mang lại
_ Hiện nay, thói quen sử dụng mỹ phẩm cao cấp của phụ nữ đã trở nên
khá phổ biến. Tuy nhiên, sự hiểu biết về cấp độ các nhãn hiệu mỹ phẩm
của nhiều người vẫn còn giới hạn. Đặc biệt là đối với một thị trường mỹ
phẩm vẫn còn chưa có sự thắt chặt quản lý và khá xô bồ như hiện nay tại
Việt Nam thì việc phân loại đẳng cấp thương hiệu với người tiêu dùng hẳn
vẫn là một bài toán khó.
2)Hệ thống phân phối và chiến lược xúc tiến hỗn hợp:
a) hệ thống phân phối:
_Trong nhiều năm gần đây,vai trò của marketing đã được khẳng định
là vô cùng quan trọng và có tính quyết định đối với sự phát triển cua doanh
nghiệp.Phân phối là một biến số quân trọng của marketing hỗn hợp.Hoạt
động phân phối giải quyết vấn đề hàng hóa dịch vụ được đưa như thế nào
đến người tiêu dùng.Hiện nay ,ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm
đến phân phố như là biến số marketing tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho
doanh nghiệp trên thị trường.Các doanh nghiệp tổ chức và quản lý hoạt
động phân phối thông qua các hệ thống kênh phân phối.
Theo quan điểm marketing,kênh phân phối lá một tập hợp các doanh
nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình
đưa hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu dùng.Các kênh phân phối
tạo nên dòng chảy hàng hóa từ người sản xuất qua hoặc không qua các
trung gian thương mại để tới người tiêu dùng.Một số loại trung gian thương
mại chủ yếu là: nhà bán buôn,nhà bán lẻ,đại lý và môi giới,nhà phân phối.
người nhận tin so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với các sản phẩm
10
của doanh nghiệp khác.Quảng cáo có thể tạo ra hình ảnh cho hàng hóa
,định vị nó trong người tiêu dùng.
Một số phương tiện quảng cáo mà các công ty thường sử dụng
là:báo,tạp chí,tivi,radio,quảng cáo trên internet,pano áp phích…
+Bán hàng cá nhân:Là một công cụ hiệu quả nhất ở những giai đoạn
hình thành sự ưa thích và niềm tin của người mua và giai đoạn ra quyết
định mua hàng.Nó đòi hỏi có sự giao tiếp qua lại giữa hai hay nhiều
người.Việc bán hàng trực tiếp khuyến khích người mua có những phản ứng
đáp lại,thể hiện thông tin phản hồi cho người bán
+Khuyến mại(xúc tiến bán):là một hoạt động truyền thông trong đó sử
dụng các công cụ tác động trực tiếp,tạo lợi ích vật chất bổ sung cho khách
hàng như phiếu mua hàng,các cuộc thi, quà tặng,hàng khuyến mại,gói hàng
chung.Ngoài ra các công ty còn tổ chức hội chợ triển lãm,hội nghị khách
hàng nhằm giới thiệu công ty,sản phẩm hàng hóa của công ty với khách
hàng và công chúng
+Tuyên truyền :là việc sử dụng những phương tiện truyền thông đại
chúng truyền tin không mất tiền về hàng hóa dịch vụ tới các khách hàng
hiện tại và tiềm năng nhằm đạt những mục tiêu cụ thể của doanh
nghiệp.Tuyên truyền có thể tác động sâu sắc đến mức độ hiểu biết của xã
hội,có khả năng thuyết phục người mua lớn và ít tốn kém hơn nhiều so với
hoạt động quảng cáo
_Trên thực tế để đạt được hiệu quả tốt nhất,các doanh nghiệp cần có
sự kết hợp các phương tiện truyền thông một cách hài hòa,phù hợp với điều
kiện và hoàn cảnh cụ thể của công ty.
3)Chất lượng của mỹ phẩm:
a)Khái niệm chất lượng:
11
_Tổ chức tiêu chuẩn thế giới (ISO) định nghĩa:chất lượng sản phẩm là
phẩm mà một nhóm khách hàng nhất định sẽ mua tại một địa bàn nhất
định,trong một khoảng thời gian nhất định với một môi trường marketing
và một chương trình marketing nhất định
_Đối với sản phẩm mỹ phẩm nhu cầu của khách hàng vô cùng đa
dạng.Nó phụ thuộc vào tâm lý,thị hiếu,phong cách thời trang,phong
tục,quan điêm về sắc đẹp…Muốn xác định đúng cầu thị trường thì phải
hiểu rõ nhu cầu của khách hàng và đáp ứng hiệu quả nhu cầu đó
III/_Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường mỹ phẩm:
1)Nhân tố về thu nhập:
_Thu nhập của người dân là một nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu có
khả năng thanh toán của khách hàng.Nhu cầu có khả năng thanh toán là
nhu cầu và mong muốn phù hợp với thu nhập của họ.Trên thực tế,ai cũng
có nhu cầu làm đẹp cho bản thân,đó là nhu cầu tự nhiên, song việc có thỏa
mãn nhu cầu đó hay không thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố,trong đó yếu
tố thu nhập là yếu tố quyết định
Nếu thu nhập cao,ngoài việc chi trả cho các nhu cầu thông thường
trong cuộc sống,người tiêu dùng vẫn có khả năng thỏa mãn những nhu cầu
cấp cao hơn ví dụ ở đây là nhu cầu sử dụng mỹ phẩm.Khi đó,cầu thị trường
về sản phẩm mỹ phẩm sẽ tăng. Ngược lại,nếu thu nhập của người tiêu dùng
thấp,thì dù họ có nhu cầu và mong muốn được sử dụng sản phẩm thì họ
cũng sẽ không tiêu dùng sản phẩm bởi khả năng thanh toán là không có.
Thu nhập của người tiêu dùng Việt Nam hiện nay do các nguồn sau
đem lại:tiền lương,thu nhập ngoài lương,thu nhập từ lãi suất tiền tiết
13
kiệm,thu nhập từ bán sản phẩm …Trong tất cả các nguồn trên thì nguồn từ
lương tăng lên rất chậm thậm chí là chậm hơn so với tốc độ tăng giá.Vì
vậy,sức mua tăng lên từ lương rất chậm.Do đó,nếu xét riêng về chỉ tiêu này
thì sự tác động của chúng tới qui mô nhu cầu và cơ cấu hàng hóa mua sắm
rất yếu ớt.Trái với thu nhập từ tiền lương,nguồn thu nhập từ ngoài lương
đối với một bộ phận dân cư nào đó là rất lớn,và chính nguồn này đã tạo nên
3) Nhân tố thị hiếu và văn hóa:
_Mỹ phẩm là một sản phẩm làm đẹp,do vậy nó chịu sự tác động của
cả hai yếu tố thị hiếu và văn hóa.Cùng sử dụng mỹ phẩm nhưng ở mỗi
vùng khác nhau lại có những quan điểm tiêu dùng khác nhau.Ví dụ như ở
Châu Á thường dùng mỹ phẩm trang điểm nhẹ nhàng,tuy nhiên ở phương
Tây thi lại có thói quen trang điểm đậm.Ở VN,phụ nữ thường sử dụng sản
phẩm trang điểm chứ không hay dùng các sản phẩm dưỡng và chăm sóc
da.Phong cách trang điểm cũng thường nhẹ nhàng,tự nhiên,màu sắc sản
phẩm sáng.Ngược lại,ở Hàn Quốc hay Nhật Bản thì phụ nữ thường trang
điểm đậm,màu sắc sản phẩm thường là màu tối.Họ chú trọng đến việc sử
dụng các sản phẩm dưỡng da và trang điểm khi đi ra ngoài là một cách thể
hiện sự tôn trọng người khác.Ở những nước này,đàn ông cũng sử dụng
nhiều sản phẩm mỹ phẩm hơn so với nước ta.Những nhân tố này ảnh
hưởng trực tiếp tới thị trường mỹ phẩm do vậy cần được chú ý và xem xét
một cách nghiêm chỉnh.
4) Nhân tố về môi trường chính trị - luật pháp:
_Bất cứ thị trường sản phẩm nào cũng đều chịu sự tác động của môi
trường chính trị và luật pháp.Môi trường chính trị bao gồm:vấn đề điều
hành của chính phủ,hệ thống luật pháp và các thông tư,chỉ thị,vai trò của
các nhóm xã hội.Những diễn biến của các yếu tố này ảnh hưởng rất mạnh
và cũng quyết định trực tiếp tới các quyết định kinh doanh của doanh
15
nghiệp trong và ngoài nước,từ đó có ảnh hưởng tới thị trường hàng hóa nói
chung và thị trường mỹ phẩm nói riêng.Nền tảng chính trị ổn định hay
không sẽ ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh.Hệ thống luật pháp biểu
hiện thông qua các pháp lệnh,bộ luật,nghị định nhằm điều chỉnh các hành
vi kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường.Để có một thị trường
với tốc độ tăng trưởng nhanh,ổn định thì các doanh nghiệp cần nghiên cứu
kỹ về hai nhân tố này để có định hướng kinh doanh và giải pháp phát triển
phù hợp với luật pháp.
những mặt hàng có ảnh hưởng tới sức khỏe con người
_Phần lớn các loại mỹ phẩm là sản phẩm kén người sử dụng,đặc biệt
là mỹ phẩm dự phòng và mỹ phẩm điều trị.Sở dĩ như vậy là vì mỗi loại mỹ
phẩm có công dụng khác nhau,phù hợp với từng loại da khác nhau.Ở mỗi
người thì lại có cơ địa và loại da khác nhau,nếu sử dụng sản phẩm không
phù hợp thì có thể gặp phải tình trạng như:dị ứng,phản ứng phụ…gây ảnh
hưởng không tốt đến da,một vài trường hợp nghiêm trọng còn có thể gây
tử vong cho người sử dụng.Do đó cần phải cẩn thận khi dùng mỹ phẩm để
tránh những tác hại không mong muốn.
b)Đặc điểm của thị trường mỹ phẩm:
_Có qui mô tương đối rộng và đang ngày càng gia tăng
_Khách hàng của thị trường mỹ phẩm chủ yếu là phụ nữ,tuy nhiên
hiện nay nhu cầu sử dụng mỹ phẩm của nam giới đang có xu hướng gia
tăng.Các khách hàng của thị trường này có sự khác biệt về tuổi tác,thu
nhập,trình dộ văn hóa,nghề nghiệp…Những sự khác biệt này đã tạo nên sự
phong phú và đa dạng về nhu cầu và ước muốn,sức mua và các đặc điểm
khác trong hành vi mua sắm và sử dụng sản phẩm của người tiêu dùng.
_Đây là một thị trường đa dạng về chủng loại sản phẩm,phong phú về
mẫu mã,kiểu dáng cũng như nguồn gốc sản xuất và cung cấp sản
phẩm.Riêng ở thị trường VN thì phần lớn các sản phẩm có mức tăng
trưởng cao là các sản phẩm của các hãng mỹ phẩm nước ngoài.
18
_Có sự phân khúc thành các loại thị trường khác nhau:thị trường mỹ
phẩm bình dân,thị trường mỹ phẩm trung bình,thị trường mỹ phẩm cao cấp
và thị trường mỹ phẩm thượng hạng.
2)Quá trình phát triển của thị trường mỹ phẩm Việt Nam:
_Trên thế giới,thị trường mỹ phẩm đã hình thành và phát triển từ rất
sớm.Anh,Pháp là hai quốc gia mà có sự phát triền và ra đời sớm nhất của
các loại mỹ phẩm.Ở Việt Nam,sự xuất hiện của mỹ phẩm muộn hơn và
không được phát triển như các nước phương tây.Mỹ phẩm chủ yếu được
đổi.Không nằm ngoài xu hướng đó,thị trường mỹ phẩm ngày càng được
mở rộng hơn,sản phẩm mỹ phẩm đã dần trở nên quen thuộc và nhu cầu sử
dụng ngày càng nhiều.Nhiều công ty sản xuất mỹ phẩm trong nước được
thành lập:công ty cổ phần Sao Thái dương, mỹ phẩm Sài Gòn,Mỹ phẩm
Lana,…Với giá thành tương đối rẻ,phù hợp với những người có thu nhập
thấp và trung bình,sản phẩm của các công ty này đã dành được chỗ đứng
trên thị trường,thậm chí còn xuất khẩu sang nước ngoài như các sản phẩm
của công ty mỹ phẩm Lan Hảo.
_Hãng mỹ phẩm DeBon thâm nhập vào thị trường Việt Nam,đã mở
đầu cho cuộc chinh phục của nhiều hãng mỹ phẩm nước ngoài cả từ hàng
bình dân cho đến những thương hiệu nổi tiếng. Chỉ trong một thời gian
ngắn là đầu quí II/2004, thị trường có mặt thêm nhiều nhãn hiệu mỹ phẩm
nổi tiếng đến từ nhiều nước như Christian Breton, Clarin, Feraud, Avon…
Đầu tháng 01/05 thị trường xuất hiện thêm dòng sản phẩm chăm sóc da đặc
trị (trị nám, tàn nhang, các vết thâm đen…) nhãn hiệu La Pearle (Hãng
Porn-Ploy) đến từ Thái Lan.
_Cho đến nay,thị trường mỹ phẩm Việt Nam đã ngày càng được mở
rộng và phát triển. Các chuyên gia về mỹ phẩm cho biết, hầu như các
thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng trên thế giới đều đã xuất hiện tại Việt Nam.
20
Trong đó có dòng mỹ phẩm cấp cao như Lancôm, Shiseido, Fendi, Lower,
Clairins, LOreal, loại trung bình như Avon, Debon, Nevia, Essane, Pond,
Hezaline, cùng các thương hiệu mỹ phẩm nội như Sài Gòn, Thorakao,
Lana, Biona...Không chỉ thế,các thương hiệu mỹ phẩm nội như Sài Gòn,
Thorakao, Lana, Biona... cũng đang nỗ lực không ngừng để giành thế chủ
động trên chính thị trường nhà,điều này khiến cho thị trường mỹ phẩm Việt
Nam ngày càng trở nên sôi động
Việt Nam được đánh giá là một trong ba thị trường mỹ phẩm tiềm
năng nhất thế giới cùng với Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kì điều này chứng tỏ
thị trường mỹ phẩm Việt Nam đã đang và sẽ ngày càng phát triển thêm
cũng như mức độ nổi tiếng của thương hiệu.
_Tương tự như những dòng sản phẩm tiêu dùng khác, các hãng mỹ
phẩm (kể cả nước hoa) cũng được xếp vào những đẳng cấp khác nhau, dựa
trên những yếu tố khác nhau.
Thông thường, thị trường mỹ phẩm được phân khúc với 4 cấp độ căn
bản: Thượng hạng (Prestige), Cao cấp (Premium), Trung bình (Middle)
Bình dân (Mass) với các mức giá rất khác nhau.
Tuy nhiên, điều thật sự tạo nên sự khác biệt này không hẳn chỉ dựa
trên giá cả mà là chất lượng và doanh số của từng nhãn hiệu được đánh giá
tại các trung tâm mua sắm sang trọng (Deparment Store) của từng quốc gia.
Tại Việt Nam, mặc dù chưa thật sự rõ ràng nhưng những người quan
tâm và có sự am hiểu về mỹ phẩm thì đều có thể nhận ra sự khác biệt về
đẳng cấp của các nhãn hiệu trong thời gian gần đây trên thị trường, đặc biệt
là tại hai Deparment Store sang trọng bậc nhất Việt Nam - Diamond Store
và Parkson.
22
Các nhãn hiệu Prestige và Premium với đối tượng khách hàng là
những người có thu nhập cao và phong cách sành điệu như Estee Laude,
Lolita Lempicka (nước hoa), Shiseido, Clinique, Laneige, Guerlain, Kose,
Kanebo… đã dần chiếm hết các vị trí trung tâm ngay tại tầng trệt của các
Deparment Store này.
Khác với hai đẳng cấp trên, các nhãn hiệu mỹ phẩm thuộc nhóm
Middle và Mass thường tập trung vào đối tượng khách hàng là giới trung
lưu và bình dân. Nhiều năm qua, những tên tuổi như Revlon, LOreal Paris,
Nivea, Maybeline, Bioré, Essance, Ponds… cũng đã có được chỗ đứng và
thị trường của mình như siêu thị, cửa hàng, chợ… với mật độ phủ sóng
dày và rộng.
Sự xuất hiện của nhiều thương hiệu nổi tiếng thế giới trên thị trường
Việt Nam kéo theo là sự cạnh tranh gay gắt của các thương hiệu đó.Hình
thức cạnh tranh chủ yếu là thông qua các hoạt động quảng cáo với nhiều
(chăm sóc da) như sữa rửa mặt, sữa tắm, kem dưỡng da. Năm 2002 Lan
Hảo tiên phong sản xuất dòng mỹ phẩm make-up (trang điểm) với phấn
trang điểm Thorakao giá 49.500đ/hộp.Theo dánh giá, sản phẩm này có chất
lượng rất tốt, không thua gì hàng ngoại nhưng Lan Hảo vẫn không thành
công. Hoặc như với Công ty Mỹ phẩm Sài gòn, người tiêu dùng cũng
không biết đến sản phẩm nào khác ngoài nước hoa Miss Saigon. Cho đến
nay,nhiều dòng sản phẩm đã được ra đời song vẫn chỉ là những sản phẩm
chăm sóc da:kem chống nám da,phấn rôm dành cho trẻ em,kem trị vết
thâm…Trên các phương tiện thông tin đại chúng đã xuất hiện ngày càng
nhiều các đoạn quảng cáo của mỹ phẩm Việt Nam,tuy nhiên mức độ hấp
dẫn còn quá thâp và đối tượng khách hàng chủ yếu là những người có thu
nhập trung bình
Như vậy, DN VN đã nhường hẳn thị phần mỹ phẩm make-up cho DN
nước ngoài. Dường như hiểu rõ đây là cuộc chiến không cân sức, dần
24
dà DN nội chấp nhận một thị trường xương xẩu,kém lợi nhuận hơn là hoạt
động ở các tỉnh thành xa xôi trong cả nước - nơi mà người dân còn chưa đủ
điều kiện để mơ về thương hiệu.Tuy với xuất phát điểm chậm hơn,còn
nhiều thách thức trước mắt nhưng các DN Việt Nam vẫn đang ngày cang
cố gắng nhiều hơn nữa trong việc tiếp thi sản phẩm,PR hình ảnh thương
hiệu,chiếm lĩnh niềm tin của khách hàng nội địa và dần dần đưa thương
hiệu mỹ phẩm Việt Nam đến với thị trường quốc tế.
Với sự xuất hiện của ngày càng nhiều các thương hiệu cả trong lẫn
ngoài nước đã khiến cho thị trường mỹ phẩm Việt Nam ngày càng phong
phú và sôi động.Trong thời gian tới,chắc chắn sẽ có những cuộc soán ngôi
thú vị của các nhãn hiệu trên từng thị trường khác nhau một khi các nhãn
hiệu đó còn muốn khẳng định vị thế của mình với khát vọng chinh phục
người tiêu dùng Việt Nam
2)Cầu của thị trường:
_Theo con số điều tra thị trường thì người Việt Nam chi cho mỹ phẩm