NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN
CHI PHÍ, DOANH THU VÀ KẾT QUẢ CỦA KHỐI
LƯỢNG HÀNG HOÁ KINH DOANH TRONG KỲ.
I. TỔ CHỨC HẠCH TOÁN CHI PHÍ CỦA KHỐI LƯỢNG HÀNG HOÁ:
1. TỔ CHỨC HẠCH TOÁN GIÁ VỐN HÀNG BÁN:
1.1. Bản chất của giá vốn hàng bán:
Giá vốn hàng bán là trị giá hàng mua vào để bán hay nói cách khác là cái giá
phải trả để có lượng hàng hoá bán ra trong kỳ.
Theo quan điểm cũ thì giá vốn hàng hoá là số tiền phải ghi trên hoá đơn bán
hàng nhưng trong nền kinh tế thị trường quan niệm đó không hoàn toàn chính xác
vì nó không phản ánh cái giá phải trả để có hàng hoá và việc tính chi phí thu mua
vào chi phí lưu thông để phân bổ cho hàng hoá bán ra rất dễ bị nhầm lẫn và khó
kiểm tra được tính chính xác. Chính vì vậy trong chế độ kế toán mới giá vốn của
hàng hoá bán ra trong kỳ là giá mua theo hoá đơn và chi phí thu mua phân bố cho
hàng hoá bán ra trong kỳ. Cụ thể là hàng hoá nhập xuất tồn kho theo quy định được
tính theo giá thực tế. Trị giá thực tế của hàng hoá mua vào được tính theo từng
nguồn nhập, bao gồm trị giá mua và chi phí thu mua hàng hoá, chẳng hạn trường
hợp thu mua hàng hoá:
Giá thực tế = Giá mua + Thuế nhập khẩu (nếu có) + Chi phí mua (vận
chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong định mức, hoa hồng môi giới…)
1.2. Tính giá vốn hàng bán (hàng xuất kho)
Trong doanh nghiệp thương mại, nghiệp vụ chủ yếu là thu mua, dự trữ và
tiêu thụ hàng hoá, việc tính chính xác giá vốn hàng hoá có ý nghĩa quan trọng ảnh
hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhất là trong nền kinh tế thị
trường tự do có giá cả hàng hoá thay đổi theo từng ngày, thậm chí từng giờ, thì
việc tính giá vốn hàng hoá đòi hỏi phải chính xác để có thể phản ánh chính xác kết
quả kinh doanh vì giá vốn hàng bán chính là chi phí lớn nhất trong chi phí kinh
doanh của doanh nghiệp thương mại.
Tuỳ theo đặc điểm và quy mô hoạt động của doanh nghiệp thương mại ta có
thể áp dụng một trong các phương pháp tính trị giá hàng xuất kho sau:
I.2.1 Phương pháp giá thực tế đích danh (phương pháp trực tiếp, phương
=
Chi phí mua hàng tồn đầu kỳ và chi phí mua hàng phát sinh trong kỳ
Tổng tiêu thức phân bổ của lượng hàng hoá tồn kho và lượng hàng hoá tiêu thụ
Tiêu thức phân bổ của lượng hàng hoá tiêu thụ
x
1.3. Hạch toán giá vốn hàng bán:
1.3.1. Nhiệm vụ:
Việc hạch toán chính xác và kịp thời giá vốn hàng bán có ý nghĩa quan
trọng đối với việc quản lý và theo dõi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do
giá vốn hàng bán là chi phí lớn nhất của chi phí kinh doanh trong doanh nghiệp
thương mại nên giá vốn đúng hay không có liên quan đến doanh nghiệp có thực lãi
hay không. Để đáp ứng yêu cầu quản lý và hạch toán kinh doanh của doanh
nghiệp, hạch toán giá vốn hàng bán có nhiệm vụ sau:
- Theo dõi và phản ánh chính xác trị giá vốn của hàng bán để giúp cho việc hạch
toán kết quả kinh doanh.
- Tổ chức việc tính trị giá vốn hàng bán phải phù hợp với đặc điểm kinh doanh
của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của chế độ kế toán và yêu cầu quản lý.
1.3.2. Hạch toán:
* Tài khoản sử dụng: TK 632- Giá vốn hàng bán, kết cấu tài khoản như sau:
+ Với doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên TK 632 có
kết cấu như sau:
Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”
Bên Nợ Bên Có
Trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá,
lao vụ, dịch vụ đã cung cấp theo hoá đơn
(đã được coi là tiêu thụ trong kỳ)
Kết chuyển giá vốn hàng tiêu thụ
trong kỳ vào tài khoản xác định kết
quả.
+ Với doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ:
2. TỔ CHỨC HẠCH TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG:
2.1. Khái niệm chi phí bán hàng:
Doanh nghiệp thương mại trong quá trình tái sản xuất xã hội, lưu thông hàng
hoá là khâu quan trọng và rất cần thiết. Nhờ nó mà hàng hoá được đưa từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu dùng. Từ đó giá trị và giá trị sử dụng của nó mới được thực hiện.
Để thực hiện được việc tiêu thụ hàng hoá nhằm đáp ứng được yêu cầu của quy luật
kinh tế cơ bản nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng phục vụ đời sống thì doanh
nghiệp thương mại cần hao phí một lượng lao động nhất định (gồm lao động sống
và lao động vật hoá). Nhưng chi phí lao động này dùng vào hoạt động tiêu thụ
hàng hoá của doanh nghiệp biểu hiện bằng tiền của chi phí lao động đó gọi là chi
phí bán hàng.
Chi phí bán hàng gồm tiền trả cho nhân viên bán hàng, tiền đóng gói bao bì,
chi phí khấu hao tài sản cố định, tiền trả cho các dịch vụ mua ngoài v.v… Tất cả
những chi phí đó là cần thiết để thu hút và phục vụ khách hàng nhằm có được
doanh thu.
Quá trình tái sản xuất xã hội là quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu
dùng. Mục đích của sản xuất là tiêu dùng, sản xuất quyết định lưu thông và bán
hàng là khâu chủ chốt, tuy nhiên lưu thông lại có tác dụng trở lại đối với sản xuất
thông qua mối quan hệ biện chứng.
Như vậy, chi phí bán hàng là một bộ phận của chi phí lưu thông phát sinh
dưới hình thái tiền tệ để thực hiện các nghiệp vụ bán hàng hoá kinh doanh trong kỳ
báo cáo.
Chi phí bán hàng được bù đắp bằng khối lượng doanh thu thuần thực hiện.
Trong trường hợp đặc biệt, chi phí bán hàng được kết chuyển qua kỳ báo cáo (kỳ
xác định kết quả) để chờ doanh thu, khi thương vụ được thực hiện qua nhiều kỳ
báo cáo.
2.2. Nội dung chi phí bán hàng:
Chi phí bán hàng là các khoản chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu
thụ hàng hoá. Xét về nội dung kinh tế các khoản chi phí bán hàng gồm:
- Chi phí nhân viên bán hàng: Bao gồm có tiền công và qũy trích nộp bắt buộc theo
Chi phí bán hàng của trường hợp kinh doanh hàng thực phẩm tươi sống,
động vật sống… còn bao gồm các khoản chi tiếp tục chăn dắt, phơi đảo, bảo quản
chất lượng…
Trường hợp chi phí phát sinh liên quan tới lô hàng hoá theo phương thức vận
chuyển bán thẳng thì mọi phát sinh chi tiêu đều phải ghi vào giá vốn thực tế của
hàng hoá vận chuyển đã bán.
* Nguyên tắc hạch toán chi phí bán hàng:
Việc xác định chi phí bán hàng trong doanh nghiệp thương mại phải dựa trên
các nguyên tắc cơ bản sau:
Chỉ những khoản chi phí liên quan đến quá trình chuẩn bị bán hàng mới
được tính là chi phí bán hàng như chi phí vận chuyển hàng để bán, chi phí trực tiếp
cho nhân viên bán hàng, chi phí bảo quản, đóng gói, khấu hao tài sản cố định dùng
cho công tác bán hàng… còn các chi phí khác như chi phí thu mua, vận chuyển
hàng hoá trong quá trình thu mua, và các chi phí có tính chất gián tiếp (như thuế
vốn, lệ phí giao thông, chi phí cho nhân viên quản lý doanh nghiệp…) thì không
được tính là chi phí bán hàng.
- Những chi phí cho hàng hoá đem đi tiêu thụ bị trả lại cũng được tính vào chi
phí bán hàng.
- Những chi phí có tính chất dự phòng như dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự
phòng nợ phải thu khó đòi không được tính vào chi phí bán hàng.
- Không được tính vào chi phí bán hàng những chi phí liên quan đến phúc lợi của
công nhân viên chức trong doanh nghiệp (như các chi phí xây dựng nhà trẻ, câu
lạc bộ…) những khoản thiệt hại và bồi thường vật chất do nguyên nhân chủ
quan của doanh nghiệp hay cá nhân gây ra, những khoản phạt vi phạm hợp
đồng kinh tế, chế độ tài chính, chế độ tín dụng…
- Các khoản thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, khoản bị phạt thuế trong nộp
thuế, khoản chi phí do kế toán bị nhầm hay bỏ sót khi vào sổ cũng không được
hạch toán vào chi phí bán hàng.
Xác định rõ phạm vi chi phí bán hàng có tác dụng đảm bảo hạch toán đúng
và đủ chi phí bán hàng, làm cơ sở để đánh giá đúng chất lượng quản lý chi phí bán
phải trả công nhân viên bán hàng, đóng gói, vận chuyển bảo quản sản phẩm hàng hoá
đi bán bao gồm lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp khác…
+ TK 6412 “Chi phí vật liệu bao bì” Tài khoản này dùng để phản ánh các chi
phí vật liệu xuất dùng cho việc bán hàng như vật liệu dùng đóng gói sản phẩm
hàng hoá, nhiên liệu dùng trong vận chuyển hàng hoá đi tiêu thụ, vật liệu dùng cho
sửa chữa tài sản cố định ở bộ phận bán hàng.
+ TK 6413 “Chi phí dụng cụ đồ dùng” Tài khoản dùng để phản ánh chi phí
về dụng cụ, đồ dùng phục vụ cho bán hàng như quầy hàng, bàn ghế, máy tính
v.v…
+ TK 6414 “Chi phí khấu hao tài sản cố định” Tài khoản này dùng để phản
ánh chi phí khấu hao tài sản cố định ở bộ phận bán hàng như nhà cửa, kho tàng,
phương tiện vận chuyển bốc dỡ, đo lường …
+ TK 6415 “Chi phí bảo hành sản phẩm” Phản ánh các chi phí bảo hành sản
phẩm đã tiêu thụ.
+ TK 6417 “Chi phí dịch vụ mua ngoài” Tài khoản này dùng để phản ánh
chi phí về dịch vụ mua ngoài trong khâu bán hàng như tiền thuê ngoài sửa chữa tài
sản cố định, tiền thuê kho, thuê bãi, thuê bốc vác, vận chuyển hàng hoá đi tiêu thụ,
tiền trả hoa hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu.
+ TK 6418 “Chi phí bằng tiền khác”Tài khoản này dùng để phản ánh các chi
phí khác phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí kể trên như chi tiếp
khách ở bộ phận bán hàng, chi giới thiệu sản phẩm, quảng cáo, chào hàng, chi phí
hội nghị khách hàng, bảo hành sản phẩm…
Phương pháp hạch toán:
- Tính tiền lương, phụ cấp phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói,
bốc vác, giới thiệu, sửa chữa, bảo hành sản phẩm … Kế toán ghi:
Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng (6411)
Có TK 344 - Phải trả công nhân viên.
- Trích bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế của nhân viên bán
hàng, kế toán ghi:
Nợ TK 641 - Chi phí bán hàng (6411)
Có TK 241 - Xây dựng cơ bản dở dang (2413)
- Khi phát sinh các khoản ghi giảm chi phí bán hàng, ghi:
Nợ TK 111, 112, 335, …
Có TK 641 - Chi phí bán hàng
- Cuối kỳ hạch toán, kết chuyển chi phí bán hàng vào tài khoản 911 “Xác định
kết quả kinh doanh”, ghi:
Nợ TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh.
Có TK 641 - Chi phí bán hàng
- Đối với những hoạt động có chu kỳ kinh doanh dài, trong kỳ không có hặc có ít
hàng hoá tiêu thụ thì cuối kỳ kết chuyển chi phí bán hàng vào tài khoản chi phí
trả trước, kế toán ghi: