NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ AN NINH TÀI CHÍNH TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 74

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ AN NINH TÀI CHÍNH
TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 An ninh tài chính
1.1.1Một số khái niệm về an ninh tài chính
Từ trước tới nay, khi nhắc tới an ninh, người ta thường nghĩ ngay đến an
ninh chính trị, quân sự, xã hội và việc đảm bảo an ninh bằng các biện pháp vũ
trang, thiết chế luật pháp cưỡng chế thi hành pháp luật, và vấn đề an ninh cũng
gắn chặt với chủ quyền quốc gia. Gần đây, khái niệm an ninh đã được mở rộng
sang các lĩnh vực kinh tế, tài chính và đặc biệt đã được nâng lên tầm quan trọng
trong khu vực và trên thế giới sau khi chứng kiến một số sự mất ổn định về kinh
tế của một quốc gia không chỉ đe doạ an ninh của quốc gia đó mà còn có thể trở
thành ngòi nổ dẫn tới khủng hoảng toàn diện, đe doạ sự ổn định của khu vực và
toàn cầu dưới tác động của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.
Vấn đề an ninh tài chính càng ngày càng trở nên quan trọng đối với một
quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá và tự do hoá nền kinh tế đang
diễn ra nhanh và mạnh như hiện nay.
An ninh tài chính không phải là một khái niệm hoàn toàn mới nhưng vẫn
chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống, đặc biệt là an ninh tài
chính trong vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế. Thêm vào đó, vấn đề an ninh tài
chính gắn bó chặt chẽ với những điều kiện cụ thể của từng nước, cho nên để đưa
ra một định nghĩa chung chính xác là một vấn đề cần được nghiên cứu cụ thể.
Dù các quan niệm về an ninh ở các nước khác nhau có những sự khác
nhau nhất định song tất cả đều thống nhất ở một điểm, an ninh là chỉ một tình
trạng hay trạng thái không bị nguy hiểm, và bảo đảm an ninh đồng nghĩa với
việc không để rơi vào tình trạng nguy hiểm.
Theo các học giả người Trung Quốc, an ninh quốc gia và khái niệm chính
trị cơ bản nhất, trong đó an ninh kinh tế là hạt nhân của an ninh quốc gia. Người
Nga lại cho rằng an ninh kinh tế là trạng thái mà trong đó một quốc gia có đủ sự
tự chủ để hoạch định chính sách phát triển kinh tế của nước mình mà không bị
sự can thiệp của bên ngoài.

An toàn được hiểu là trạng thái không bị nguy hiểm từ phía các tác động
bên trong và bên ngoài. Giữ an toàn đồng nghĩa với không tự mình gây hại cho
mình đồng thời ngăn chặn và chồng lại được sự tấn công phá hoại từ bên ngoài.
Nếu ổn định là tiền đề có tính chất nền tảng thì an toàn là cốt lõi chi phối toàn
bộ quá trình vận động của tình trạng tài chính.
Vững mạnh là cơ sở cho sự ổn định và an toàn, một trạng thái tài chính
yếu không thể giữ được ổn định và an toàn, một trạng thái tài chính yếu không
thể giữ được ổn định và đảm bảo an toàn.
1.1.2 Quan điểm về an ninh tài chính trong hoạt động tín dụng, ngân hàng.
Theo Ngân hàng thế giới (WB): “Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền
gửi chủ yếu ở dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được phép rút ra với một thông
báo ngắn hạn( tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm)”
Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán
và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh nào trong nền kinh tế.
Các ngân hàng gồm nhiều loại như ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu
tư,...Nhiều nước, trong đó có Việt Nam phát triển loại ngân hàng tổng
hợp(universal bank) kết hợp hoạt động của ngân hàng thương mại với ngân
hàng đầu tư, dịch vụ bảo hiểm, cho thuê tài chính...
Như vậy, an ninh tài chính đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng là
việc đảm báo hoạt động của các tổ chức tín dụng được tiến hành một cách ổn
định, an toàn và vững mạnh. Ba nguyên tắc đó được sử dụng cho các hoạt động
ngân hàng cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán (một trong những hoạt
động chủ yếu của cấp tín dụng) của các ngân hàng.
Tình trạng tài chính của một ngân hàng hay hệ thống ngân hàng tại một
thời điểm được mô tả trong bảng cân đối của ngân hàng và những thay đổi trong
bảng cân đối qua mỗi thời điểm phản ánh diễn biến tình trạng tài chính của ngân
hàng qua từng giai đoạn.
Bên cạnh những hoạt động phản ánh trong bảng cân đối, nhằm mục tiêu

hàng đó luôn luôn ổn định, an toàn, vững mạnh và không khủng hoảng. Thiết
lập được mạng lưới an ninh có khả năng phòng ngừa, ứng phó kịp thời, nhanh
nhạy, hiệu quả đối với các loại hình tội phạm kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng
ngày càng phát triển với hình thức ngày càng đa dạng, phức tạp, tính chất mức
độ vi phạm ngày càng tinh vi.
1.1.3 Sự cần thiết phải đảm bảo an ninh tài chính trong thời kỳ hội nhập.
1.1.3.1 Tiến trình Việt Nam ra nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
trong giai đoạn hiện nay. Cùng với chính sách mở cửa, quá trình hội nhập của
nền kinh tế Việt Nam với kinh tế khu vực và thế giới là một tất yếu khách quan.
Trên thực tế, nước ta đã và đang từng bước tham gia vào quá trình phân công,
hợp tác quốc tế và quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới. Việt Nam hiện đã
mở rộng mạnh mẽ quan hệ kinh tế song phương và đa phương, phát triển quan
hệ đầu tư với gần 70 nước và lãnh thổ; bình thường hoá quan hệ với các tổ chức
tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB). Bên cạnh đó, ngày 28/7/1995 nước
ta đã gia nhập Hiệp hội Mậu dịch tự do các nước ASEAN (AFTA). Tháng
11/1998 , Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Diễn đàn kính tế Thái
Bình Dương (APEC). APEC với 21 nước thành viên chiếm hơn ½ GNP của thế
giới và khoảng 80% khối lượng mậu dịch với Việt Nam đang là mối quan tâm
lớn trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta cũng như các nước khác trên
thế giới. Ngày 10/7/2000 chúng ta đã ký Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ và
hiệp định này đã có hiệu lực vào năm 2001.
Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO tháng 1/1995. Năm 1996,
tại WTO, Nhóm Công tác (WP) về Việt Nam gia nhập WTO được thành lập với
sự tham gia của trên 20 nước (hiện nay con số này là gần 40). Đến tháng
8/2001, ta chính thức đưa ra Bản chào ban đầu về hàng hóa và dịch vụ (Ininitial
Offer) để bước vào giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với các
nước thành viên Ban Công tác.
Sau gần 11 năm đàm phán, vào cuối năm 2006, Phó Thủ tướng kiêm Bộ

hợp với các quy định, thông lệ quốc tế, hay các hiệp ước mà Việt Nam tham gia.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ khó lòng có được sự bảo trợ của nhà
nước cũng như của NHTW như hiện nay...
Những sự thay đổi của các nhân tố bên ngoài này sẽ có tác động với mức
độ, tính chất và khía cạnh khác nhau tới an ninh tài chính trong ngân hàng
thương mại. Đối với Việt Nam, sự biến động về tình hình an ninh tài chính trong
ngân hàng thương mại sẽ tác động tới các khâu còn lại trong hệ thống tài chính
quốc gia. Nghĩa là, tình hình tài chính của ngân hàng thương mại trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế-xã hội nói
chung, tài chính quốc gia nói riêng và tới việc đảm bảo an ninh tài chính quốc
gia. Xét trong phạm vi doanh nghiệp, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có
tác động đến an ninh tài chính của ngân hàng thương mại và toàn bộ quá trình
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Do vây, việc đảm bảo cho hoạt động tài chính của ngân hàng được an toàn,
ổn định, hiệu quả trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
là một tất yếu khách quan
BOX 1.1: Nhận định của Phó thống đốc ngân hàng nhà nước về an ninh
tài chính trong các ngân hàng thương mại
Theo Phó Thống đốc Ngân hàng nhà nước Trần Minh Tuấn, cùng với
sức ép về cạnh tranh, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang
đặt ra cho hệ thống ngân hàng Thương mại Việt Nam những thách thức về
việc đảm bảo an ninh tài chính.
Ông Tuấn cho rằng bảo đảm an ninh tài chính cần được coi là một
trong những giải pháp hàng đầu để hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
hoạt động an toàn, ổn định, hiệu quả và bền vững trong điều kiện tiềm lực và
kinh nghiệm còn thiếu và yếu hơn rất nhiều so với hệ thống ngân hàng ở các
nước thành viên WTO khác.
Ông Tuấn nhìn nhận hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đang
hoạt động tương đối ổn định, có những đóng góp quan trọng và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế của đất nước trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, sự phát triển

nhau nên an ninh tài chính cũng có những đặc điểm riêng. Chính vì vậy các chỉ
tiêu đánh giá an ninh tài chính phải phản ánh được những đặc thù này. Tính đặc
thù biểu hiện ở cả số lượng các chỉ tiêu cũng như tính chất của mỗi chỉ tiêu. Tuy
nhiên thính đặc thù sẽ giảm dần cùng với việc nâng cao trình độ hội nhập kinh
tế quốc tế.
-Tính phát triển: Như đã khẳng định ở trên, hoạt động ngân hàng luôn luôn phát
triển nên các chỉ tiêu cũng không cố định mà liên tục phát triển đáp ứng các yêu
cầu mới về an ninh tài chính
1.2.1 Ổn định hoạt động ngân hàng
Tiền gửi là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản nợ của từng ngân hàng
cũng như toàn bộ hệ thống trong ngân hàng. Trạng thái và động thái tiền gửi là
một trong những biểu hiện rõ rệt nhất cho tình trạng huy động của mỗi ngân
hàng nói riêng và mỗi quốc gia nói chung, Sự ổn định của tiền gửi được biểu
hiện ở tốc độ tăng các khoản cho vay. Cho vay một mặt là hoạt động cơ bản tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status