THỰC TRẠNG MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG
NGOẠI THƯƠNG
2.1. Tổng quan về Sở giao dịch ngân hàng ngoại thương:
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển:
2.1.1.1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Ngoại
Thương:
- Ngày 1 tháng 4 năm 1963, ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (NHNT
VN) chính thức được thành lập theo Quyết định số 115/Cp do hội đồng Chính
phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 1962 trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý
ngoại hối thuộc ngân hàng Trung Ương. NHNT đóng vai trò là ngân hàng
chuyên doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động
trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ, xuất nhập khẩu, kinh
doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng
nước ngoài, làm đại lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ…
Ngoài ra, NHNT còn tham mưu cho ban lãnh đạo ngân hàng Nhà Nước về các
chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà Nước và về
quan hệ với ngân hàng Trung Ương các nước, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc
tế…
- Ngày 14/11/1990, Hội đồng bộ trưởng ban hành chỉ thị số 403/CT chuyển
ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam theo Nghị định 53/HĐBT ngày 26/03/1988
thành ngân hàng thương mại quốc doanh, lấy tên ngân hàng ngoại thương Việt
Nam, gọi tắt là ngân hàng Ngoại Thương, tên giao dịch bằng Tiếng Anh: Bank
for foreign trade of Việt Nam (VCB). Trụ sở của VCB đặt tại 198 Trần Quang
Khải, Hà Nội.
- 1/4/1991, Sở giao dịch ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam được thành lập
nhưng vẫn trực thuộc NHNT TW.
- Sau hơn 40 năm thành lập, trưởng thành và phát triển, NHNT gồm: 58 chi
nhánh, 1 Sở giao dịch, 87 phòng giao dịch, 3 công ty trực thuộc trên toàn quốc,
3 văn phòng đại diện và 1 công ty con tại nước ngoài với đội ngũ cán bộ gần
6.500 người.
* Phòng tín dụng trả góp và tiêu dùng: Đối tượng khách hàng là thể nhân,
có nhu cầu vay vốn nhằm cải thiện đời sống. Hiện nay, SGD đang thực hiện cho
vay mua nhà, ô tô trả góp, cho vay đối với cán bộ công nhân viên…
* Phòng tín dụng DNVVN: Đối tượng là các DNVVN - một bộ phận đông
đảo trong nền kinh tế. Phòng thực hiện các nghiệp vụ: Cho vay chiết khấu, cho
vay thu mua hàng hoá, thanh toán lương, thanh toán tiền hàng nhập khẩu, cấp
tín dụng mua nguyên vật liệu, mở L/C ( L/C kí quĩ)….
* Phòng quản trị rủi ro: Khách hàng của phòng là các doanh nghiệp có nhu
cầu vay vốn từ 10 tỷ đồng trở nên, có chức năng: phân tích, đánh giá hồ sơ vay
vốn có thời hạn từ 1 năm trở nên.
* Phòng quản lý nợ: Phòng có chức năng quản lý và theo dõi quá trình sau
khi cấp tín dụng đối với các doanh nghiệp có tín dụng ngân hàng từ 10 tỷ đồng
trở nên.
* Phòng quan hệ khách hàng: là phòng thực hiện quản lý tất cả các khách
hàng của SGD. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong phân loại khách hàng,
chấm điểm tín dụng có liên quan trực tiếp đến quan hệ tín dụng lâu dài hay
chấm dứt của ngân hàng với doanh nghiệp.
* Phòng thanh toán nhập khẩu: Thực hiện các công tác thanh toán quốc tế
hàng nhập khẩu và dịch vụ đối ngoại liên quan tới hàng nhập khẩu.
* Phòng thanh toán xuất khẩu: Thực hiện các công tác liên quan tới hàng
xuất khẩu và các dịch vụ liên quan tới hàng xuất khẩu.
* Phòng kế toán tài chính: Chịu trách nhiệm thực hiện chế độ kế toán tài
chính, chế độ báo cáo kế toán và hạch toán kế toán, theo dõi và quản lý chi tiêu
tài chính, mua sắm tài sản, hạch toán và quản lý quỹ tiền lương, tiền thưởng và
các quỹ khác. Do đặc trưng trong hoạt động huy động tiền gửi ngân hàng là
trích tỷ lệ dự trữ bắt buộc nên phòng cũng có chức năng hạch toán theo dõi tình
hình dự trữ bắt buộc….
* Phòng hối đoái: Phòng này có chức năng quản lý hồ sơ thông tin tài
khoản, thông tin khách hàng, quản lý và thực hiện các nghiệp vụ liên quan tới
tiền tệ, thanh toán đối ngoại với khách hàng là các cá nhân, thực hiện chuyển
8,95% so với năm 2006.Trong đó:
Huy động bằng VNĐ là: 17.205,24 tỷ đồng
Huy động bằng ngoại tệ ( quy USD) đạt: 1.290,03 triệu USD