THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG BA ĐÌNH - Pdf 74

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI
NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG BA ĐÌNH
2.1. Khái quát về Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Ba Đình
2.1.1. Sơ lược quá trình phát triển
Trong những năm qua, cùng với xu thế phát triển của ngành ngân hàng Việt
Nam, Ngân hàng Ngoại thương đã tiến hành mở rộng mạng lưới chi nhánh,
phòng giao dịch trên nhiều tỉnh thành cả nước. Việc mở rộng chi nhánh đến các
địa bàn dân cư, vùng kinh tế giúp khách hàng tiếp cận các dịch vụ của ngân
hàng dễ dàng và thuận tiên hơn, từ đó nâng cao uy tín của ngân hàng, tăng khả
năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Ba Đình được thành lập và đi vào hoạt
động từ tháng 09 năm 2004, là chi nhánh cấp 2 trực thuộc Ngân hàng Ngoại
thương Hà Nội, với tên giao dịch là Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chi nhánh
cấp 2 Ba Đình.
Ngày 08 tháng 12 năm 2006, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội chi nhánh
cấp 2 Ba Đình được sắp xếp lại theo quyết định 888/2005/QĐ-NHNN và được
nâng cấp lên thành chi nhánh cấp 1 với tên giao dịch là Ngân hàng Ngoại
thương Chi nhánh Ba Đình trực thuộc Ngân hàng Ngoại thương Trung ương.
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Ba Đình đang từng bước phát triển,
củng cố vị trí của mình trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương nói riêng và
trên thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam nói chung.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và nhân sự
Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Ba Đình là chi nhánh cấp I, do đó bộ
máy tổ chức của chi nhánh được quy định rõ trong nguyên tắc tổ chức hoạt
động của Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước.
Qua hơn 3 năm đi vào hoạt động, đội ngũ cán bộ, nhân viên của Chi nhánh
Ngân hàng Ngoại thương Ba Đình đã không ngừng gia tăng cả về chất lượng và
số lượng. Tính đến nay, tổng số nhân viên nghiệp vụ của chi nhánh là 41 người,
đều có trình độ đại học và trên đại học. Cụ thể:
Ban giám đốc 2 người: 1 Giám đốc chi nhánh, 1 Phó Giám đốc; Phòng Quan
hệ khách hàng: 09 người; Phòng Kế toán thanh toán và dịch vụ: 09 người;

% so
với năm
trước
Số tiền
% so
với năm
trước
Số tiền
% so
với năm
trước
Tổng NV huy động 401.197 382% 668.440 166,7% 940.000 140,6%
1. Đồng Việt Nam 183.187 384% 304.736 166,5% 506.000 166%
- Tiền gửi Tổ chức KT 36.160 489% 27.426 75,8% 107.580 159,4%
- Tiền gửi dân cư 147.027 365% 277.310 188,6% 389.420 166,7%
2. Ngoại tệ quy USD 218.027 349,9% 363.704 166,8% 434.000 119,3%
- Tiền gửi Tổ chức KT 7.305 365% 32.729 448% 35.985 109,9%
- Tiền gửi dân cư 210.724 349% 330.975 157% 398.015 120,2%
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh VCB Ba Đình năm 2005-2007)
Tổng nguồn vốn huy động năm 2005 đạt hơn 401 tỷ quy VND, bằng 382%
so với năm 2004 và đạt 150% kế hoạch được giao năm 2005. Sang năm 2006,
kết quả huy động vốn của chi nhánh đạt 304,736 tỷ đồng và 22,6 triệu quy
USD, bằng 166,7% so với cùng kỳ năm 2005 và đạt 119% kế hoạch được giao
năm 2006. Trong năm 2007, tổng nguồn vốn của chi nhánh ước đạt 940 tỷ quy
VND, bằng 140% so với cùng kỳ năm 2006 và đạt 84% kế hoạch được giao
năm 2007.
2.1.3.2. Hoạt động tín dụng
Thực hiện chủ trương khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân, chi
nhánh tập trung chủ yếu vào phát triển đối tượng khách hàng là các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, các công ty 100% vốn nước ngoài, các loại hình

80% trong tổng dư nợ, dư nợ tín dụng trung dài hạn đạt 45,75 tỷ đồng chiếm
20% tổng dư nợ. Doanh số cho vay cũng đã đạt được 233,91 tỷ đồng, bằng
103% so với cùng kỳ năm trước.
2.1.3.3. Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu
Công tác thanh toán XNK tại chi nhánh gặp nhiều khó khăn trong phát
triển khách hàng do sự cạnh tranh của các NHTM trên địa bàn và cán bộ làm
công tác thanh toán XNK còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Tuy
nhiên, hoạt động thanh toán XNK tại chi nhánh cũng đáp ứng kịp thời nhu cầu
thanh toán của khách hàng.
Đến cuối năm 2005, doanh số thanh toán XNK đạt 8,7 triệu USD bằng 87%
kế hoạch được giao năm 2005. Và doanh số này đã tăng cao trong năm 2006,
đạt 12 triệu USD, bằng 137% so với cùng kỳ năm 2005.
Sang năm 2007, hoạt động thanh toán XNK của chi nhánh cũng gặp nhiều
khó khăn do cạnh tranh giữa các NHTM, đồng thời do chi nhánh không được
trực tiếp thực hiện giao dịch thanh toán XNK sau khi được nâng cấp lên thành
chi nhánh trực thuộc NHNT VN nên doanh số, thu nhập… cũng như uy tín của
chi nhánh cũng bị ảnh hưởng đáng kể. Doanh số thanh toán XNK 6 tháng đầu
năm đạt 3,47 triệu USD, chủ yếu là thanh toán nhập khẩu, bằng 55% so với
cùng kỳ năm 2006 và đạt 19,3% kế hoạch của chi nhánh năm 2007.
2.1.3.4. Công tác vốn và kinh doanh ngoại tệ
Công tác quản lý và kinh doanh vốn, kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh thực
hiện theo đúng quy định của NHNN thành phố Hà Nội và NHNT Việt Nam.
Doanh số mua bán ngoại tệ tại chi nhánh năm 2005 đạt 19,36 triệu USD, trong
đó doanh số mua là 11,33 triệu USD (chiếm 58,52%) và doanh số bán là 8,03
triệu USD. Năm 2006, doanh số mua bán ngoại tệ đã tăng 23,4% so với năm
2005 và đạt 21,95 triệu USD, doanh số mua đạt 10,96 triệu USD và doanh số
bán đạt 12,93 triệu USD. Và trong 6 tháng đầu năm 2007 chi nhánh đã đạt được
25,59 triệu USD. Việc mua bán ngoại tệ của chi nhánh được thực hiện đúng
theo quy chế quản lý ngoại hối của nhà nước và áp dụng đúng tỷ giá thông báo
của NHNT Ba Đình. Chi nhánh đã tự cân đối được nguồn ngoại tệ hỗ trợ tốt cho

các sản phẩm dịch vụ ngân hàng tới khách hàng.
2.1.3.6. Công tác quản lý ngân quỹ
Hoạt động ngân quỹ của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Ba Đình trong
năm qua có nhiều chuyển biến cả về chiều rộng và chiều sâu, vừa phục vụ tốt
nhu cầu chi tiêu tiền mặt của khách hàng, đồng thời luôn tuân thủ nghiêm ngặt
quy trình nghiệp vụ kho quỹ, công tác kho quỹ được bảo đảm an toàn tuyệt đối,
hạn chế tối đa rủi ro. Công tác kho quỹ luôn đạt kết quả tốt, cụ thể như sau:
Bảng 2.3: Số liệu hoạt động ngân quỹ năm 2005 - 2007
Đơn vị: tỷ đồng và triệu đô la Mỹ
Chỉ tiêu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số
tiền
% so
với năm
2004
Số
tiền
% so
với năm
2005
Số
tiền
% so
với năm
2006
1. Đồng Việt Nam 2.878 1.589% 2.255 78% 4.291 190,3%
- Tổng thu 1.219 1.354% 1.079 88% 2.134 197,8%
- Tổng chi 1.659 1.823% 1.176 70% 2.157 183,4%
2. Ngoại tệ quy USD 67,4 623% 60,5 89% 64,6 106,8%

ngân hàng với kết quả về cơ bản được đánh giá tốt. Theo cơ quan kiểm toán
nhà nước, Ngân hàng Ngoại thương đã thực hiện nghiêm túc quy định của
nhà nước về quản lý tài chính kế toán, tín dụng, đầu tư, kinh doanh dịch vụ
ngân hàng, sử dụng vốn an toàn, hoạt động kinh doanh ổn định, tăng trưởng,
hiệu quả.
2.2. Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh Ngân hàng
Ngoại thương Ba Đình
2.2.1. Khái quát chung về tình hình hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam
Trong giai đoạn hiện nay, các khoản cho vay tiêu dùng chủ yếu được cung
cấp bởi những người bán lẻ, những người cho vay tự do, hiệu cầm đồ. Tuy quy
mô món vay nhỏ nhưng lại mang tính truyền thống (do thói quen thích dùng tiền
mặt của dân cư) đang trở nên phổ biến ở Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, từ khi mới thành lập, cho vay là nghiệp vụ không thể
thiếu của các NHTM nhưng trong đó loại hình cho vay tiêu dùng lại không
được chú trọng. Việc chưa hình thành Luật tín dụng tiêu dùng như ở các nước
phát triển là một nguyên nhân khiến cho các NHTM dè chừng trong việc mở
rộng và phát triển nghiệp vụ này. Tuy vậy, trong vòng 3 năm qua đã có nhiều
dấu hiệu cho thấy thị trường cho vay tiêu dùng phát triển nhanh, thể hiện ở việc
ngày càng có nhiều các ngân hàng hướng tới các hộ gia đình với mục đích cung
cấp các khoản vay bán lẻ. Một số các hình thức cho vay tiêu dùng đang được
các ngân hàng quan tâm như: cho vay mua nhà thế chấp, cho vay mua ô tô, cho
vay qua thẻ hay cho vay tín chấp…
Bên cạnh đó, việc mở cửa thị trường tài chính sẽ làm tăng số lượng các
ngân hàng nước ngoài, trong khi ở Việt Nam thì vẫn chưa có Luật cạnh
tranh và chính sách quản lý thống nhất đối với cạnh tranh trong lĩnh vực
ngân hàng cũng như chưa xây dựng được một hành lang pháp lý đầy đủ cho
hoạt động tín dụng tiêu dùng, do vậy hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ phải
chịu áp lực cạnh tranh gay gắt với các chi nhánh nước ngoài trong lĩnh vực
ngân hàng nói chung và lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng bởi vì họ có
trình độ quản lý và công nghệ cao hơn, có quy mô vốn lớn hơn và nhất là họ

- Có tín nhiệm đối với VCB Ba Đình trong việc sử dụng vốn vay và trả
nợ đúng hạn cả gốc và lãi.
Thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn hay trung hạn được xác định phù hợp
với phương án vay vốn và khả năng trả nợ của CBCNV, nhưng tối đa không quá
60 tháng và không dài hơn thời hạn lao động còn lại trong hợp đồng lao động
của CBCNV.
Mức cho vay
Đơn vị trực tiếp cho vay căn cứ vào nhu cầu vay vốn của CBCNV, khả năng
trả nợ vay cả gốc lẫn lãi từ tiền lương, trợ cấp và các khoản thu nhập hợp pháp
trong thời hạn vay để quyết định mức cho vay không có tài sản đảm bảo đối với
CBCNV.
Lãi suất cho vay
- Thực hiện theo quy định của NHNT VN
- Số tiền vay chuyển sang nợ quá hạn phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo
quy định về lãi suất cho vay quá hạn của Tổng giám đốc NHNT VN.
Quy trình thủ tục cho vay và thu nợ
Kiểm tra, thẩm định, xét duyệt cho vay
Hồ sơ vay vốn cung cấp:
- Chứng minh thư nhân dân
- Giấy xác nhận của Tổ chức quản lý lao động hoặc Tổ chức quản lý và
chi trả thu nhập của CBCNV về mức thu nhập tiền luơng, trợ cấp
hoặc mức thu nhập khác thuờng xuyên, ổn định.
- Đơn xin vay vốn
Thẩm định cho vay
Trên cơ sở hồ sơ tín dụng mà CBCNV cung cấp, cán bộ trực tiếp cho vay
tiến hành thẩm định cho vay, cụ thể:
- Kiểm tra hồ sơ nhằm đảm bảo đúng với quy định hiện hành của Quy
chế cho vay đối với CBCNV.
- Tiến hành xem xét uy tín của các cơ quan, bộ ngành trừ trường hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status