thực trạng chất lượng tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Hà Giang - Pdf 74

thực trạng chất lợng tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Hà Giang
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội của
tỉnh Hà Giang
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Hà Giang là một tỉnh miền núi phía bắc của Tổ quốc, có diện tích tự nhiên 2.884km2, dân số trên
616 ngàn ngời, gồm 22 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 89% tổng dân số toàn tỉnh.
Trình độ dân trí thấp, kinh tế cha phát triển, giao thông liên lạc vô cùng khó khăn, kết cấu hạ tầng và cơ sở vật
chất kỹ thuật còn rất nghèo nàn và lạc hậu. Đồng thời lại phải trải qua hơn 10 năm chiến tranh biên giới ác liệt,
nhân dân các huyện vùng biên giới phải sơ tán sâu vào trong nội địa. Hiện nay mối quan hệ giữa hai nớc Việt -
Trung dần trở lại bình thờng nên nhân dân mới trở lại quê cũ tái định c. Với bao nhiêu khó khăn vốn có của một
tỉnh miền núi với trên 50% là núi đá, đồi trọc bạc màu, cộng với hậu quả chiến tranh để lại nên đời sống kinh tế
xã hội của nhân dân trong tỉnh đã khó khăn lại càng khó khăn gấp bội.
Tuy nhiên, tỉnh Hà Giang cũng có những thuận lợi cơ bản đó là có điều kiện và khả năng phát triển
nghề rừng làm nguyên liệu giấy sợi, lợng ma hàng năm lớn, đất đai có độ ẩm cao nên có điều kiện để phát triển
các loại cây ăn quả nh: Cam, quýt, vải, nhãn, lê, mận, soài... Đồng thời do ở khu vực có độ cao so với mặt biển từ
400 - 2000 mét nên rất phù hợp cho việc phát triển cây chè, cây sở, cây quế, đặc biệt là loại chè San tuyết xuất
khẩu.
Mặt khác tuy là tỉnh miền núi nhng có tài nguyên, khoáng sản rất phong phú, với 28 loại và 140 điểm
mỏ nằm rải rác trong tỉnh nh: Mỏ sắt, mỏ măng gan, mỏ ăngtymon, mỏ cờlanhke... có cửa khẩu Quốc tế Thanh
Thuỷ, có nhiều hang động tự nhiên để khai thác và phát triển ngành du lịch. Bên cạnh những thuận lợi và khó
khăn, nhân dân các dân tộc tỉnh Hà Giang còn có truyền thống đoàn kết, trung thành với Đảng, chịu khó, chịu
khổ, bản tính thật thà, cần cù lao động, chấp hành khá nghiêm chỉnh pháp luật và phong tục tập quán của địa ph-
ơng, từ đó tạo điều kiện khá thuận lợi cho việc huy động và mở rộng đầu t vốn, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, xã
hội ở tỉnh Hà Giang.
2.1.2 Phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ 1996 -2000.
Trong 5 năm qua nền kinh tế của tỉnh liên tục tăng trởng khá năm sau cao hơn năm trớc. Nhịp độ tăng
trởng GDP bình quân hàng năm đạt 10,3% tăng thêm 2,8% so với thời kỳ 1992 - 1995. Tổng giá trị sản phẩm
năm 2000 đạt 1.035 tỷ đồng tăng gấp 2,31 lần so với năm 1995 vợt 20% so với mục tiêu Đại hội XII đề ra.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hớng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng trong GDP tăng thêm
3,9% (từ 17,1% lên 21%); thơng mại dịch vụ tăng 7,47% (từ 21,09% lên 28,56%); tỷ trọng nông-lâm nghiệp
giảm từ 61,8% xuống còn 50,4%. Thu ngân sách trên địa bàn năm sau cao hơn năm tr ớc từ 39 tỷ đồng lên 90 tỷ

t vào sản xuất công nghiệp, chế biến nông lâm sản, dịch vụ, các hợp tác xã đợc thành lâp lại theo Luật Hợp tác
xã hoạt động còn nhiều lúng túng, kém hiệu quả, năng lực điều hành cha cao, cha theo kịp với cơ chế thị trờng.
Trong quá trình thực hiện thời kỳ 1996 - 2000, hầu hết các chỉ tiêu mà Nghị quyết Đại hội đề ra đều đạt
và vợt. Tuy nhiên, còn một số tồn tại và khuyết điểm đó là:
Tiềm năng thế mạnh của tỉnh về đất đai, tài nguyên, lao động tiền vốn còn lớn nhng cha đợc khai thác
và phát huy đúng mức để phát triển kinh tế xã hội.
Nền kinh tế có những bớc tăng trởng nhng cha thực ổn định, cha vững chắc, tăng trởng từ nội lực thấp,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm hiệu quả đạt thấp. Tỷ lệ đói nghèo còn cao kết cấu hạ tầng còn thấp kém,
hoạt động thơng mại dịch vụ - du lịch cha mạnh để tạo đà kích thích cho sản xuất phát triển, việc chuyển đổi
hợp tác xã còn chậm, nội dung hoạt động còn lúng túng.
Một bộ phận cán bộ Đảng viên trình độ hạn chế còn biểu hiện t tởng bảo thủ, trì trệ thiếu năng động
sáng tạo và cha theo kịp với sự chuyển động chung của Tỉnh và đất nớc trong sự nghiệp đổi mới.
Một số vấn đề về xã hội còn nảy sinh phức tạp nh truyền đạo trái phép, di dịch c tự do cha đợc khắc
phục, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao.
Một số các chơng trình dự án phát triển nông lâm nghiệp triển khai kém hiệu quả, cha có sự tính toán
khoa học, còn nặng về tính phô trơng, hình thức, gây thiệt hại cho tài sản của Quốc gia, đội ngũ cán bộ làm công
tác khoa học vừa yếu, vừa thiếu.
Vốn đầu t còn mang tính dàn trải, thiếu tập trung, việc đầu t có chỗ, có vùng kém hiệu quả, cha phân
định đợc vùng kinh tế động lực hay vùng kinh tế chậm phát triển để có chủ trơng, định hớng cho việc đầu t vốn.
2.2 Đặc thù hoạt động của các NHTM trên địa bàn tỉnh Hà Giang
Các tổ chức tín dụng ở Hà Giang đợc tách ra từ bộ máy tổ chức của Ngân hàng Hà Tuyên. Dới sự lãnh
đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ngân hàng Trung ơng và cấp uỷ chính quyền địa phơng, công tác xây dựng và phát
triển mạng lới các ngân hàng trên địa bàn luôn đợc chú trọng, với mục tiêu đa dạng hoá các loại hình, các tổ
chức tín dụng và đa hoạt động tín dụng ngân hàng sâu sát nhân dân, sâu sát với các mặt đời sống kinh tế- xã hội
của địa phơng.
Đến cuối năm 2001 và năm 2002 hệ thống các ngân hàng ở Hà Giang đã có những bớc phát triển mạnh
mẽ về tổ chức, bộ máy. Ngoài chi nhánh Ngân hàng Nhà nớc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nớc về tiền tệ,
tín dụng và hoạt động Ngân hàng trên địa bàn, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia, tham mu và thực
hiện các nhiệm vụ, phục vụ phát triển kinh tế xã hội địa phơng đợc cấp uỷ chính quyền giao phó. Hệ thống các
ngân hàng thơng mại ở Hà Giang với nhiệm vụ trực tiếp kinh doanh tiền tệ, tín dụng và cung ứng các dịch vụ

nâng cao trình độ chính trị, tập huấn chuyên đề... Từ đó đến nay các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã có
47% cán bộ có trình độ Đại học và tơng đơng đại học (tỷ lệ này năm 1991 chỉ có 9%) số cán bộ biết và sử dụng
vi tính thành thạo đạt tới 60%.
Ngoài việc nâng cao trình độ chuyên môn, các ngân hàng trên địa bàn còn quan tâm đào tạo về nhận
thức chính trị đối với đội ngũ cán bộ Đảng viên. Từ chỗ năm 1991 chỉ có duy nhất 1 đồng chí Giám đốc Ngân
hàng Nhà nớc là có trình độ chính trị cao cấp, đến nay cac ngân hàng trên địa bàn đã có 11 cán bộ có trình độ lý
luận cao cấp và gần 15 cán bộ có trình độ lý luận chính trị trung cấp.
Nhìn lại các kết quả về công tác tổ chức, bộ máy trong những năm qua tuy vẫn còn những khiếm
khuyết, cha thực sự tơng xứng với yêu cầu nhiệm vụ của ngành đề ra trong thời kỳ mới, song phần nào đã đáp
ứng đợc những bức xúc mà công việc đòi hỏi.
Với tinh thần và truyền thống đoàn kết nhất trí, đồng tâm, đồng sức của đội ngũ cán bộ công nhân viên
chức Ngân hàng tỉnh Hà Giang nhất định sẽ vợt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà
ngành và cấp trên đề ra và để đa các mặt hoạt động ngân hàng đi vào cuộc sống, phục vụ tốt hơn, đắc lực hơn
cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh, đồng thời khẳng định đ ợc vai trò là ngời trợ thủ
đắc lực cho nền kinh tế, phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển
nông thôn. Mặt khác khẳng định đợc vị trí quan trọng của hệ thống ngân hàng trong địa bàn, đó là động lực
mạnh để xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, góp phần thúc đẩy nền kinh tế để nhân dân có
cuộc sống ngày một tốt hơn cả về vật chất lần tinh thần, để xoá dần khoảng cách tụt hậu giữa miền núi với miền
xuôi. Nâng cao dợc năng lực cạnh tranh, tạo đà cho sự phát triển mới.
2.3 Về công tác huy động vốn.
Thực hiện chủ trơng Đi vay để cho vay, các tổ chức tín dụng trên địa bàn luôn xác định vấn đề nguồn
vốn là yếu tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với việc mở rộng tín dụng và nâng cao hiệu quả kinh
doanh trong hoạt động, đặc biệt là vốn huy động và vốn do tổ chức tín dụng quản lý là yếu tố cơ bản nhất, đảm
bảo tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Nhận thức đợc vấn đề đó, trong các năm
qua, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã tập trung mọi nỗ lực vào huy động, khai thác các nguồn vốn, trong
đó đề cao việc huy động các nguồn vốn từ các thành phần kinh tế ở địa phơng, thực hiện phơng châm phát huy
nội lực theo nghị quyết Trung ơng IV (khoá VIII) đã đề ra, nhằm đảm bảo có đủ vốn đầu t cho các thành phần
kinh tế - xã hội trên địa bàn
ở một tỉnh còn nghèo, các thành phần kinh tế có thu nhập thấp, việc huy động vốn nhàn rỗi trong dân
c là hết sức khó khăn, tuy nhiên với tinh thần phát huy nội lực, các tổ chức tín dụng đã có nhiều biện pháp huy

Số tiền % so
với năm
trớc
Số tiền % so
với năm
trớc
1/ Tổng Nguồn vốn
93.804 107,00 258.054 132,91 383.569 148,63 594.700 155,00
Trong đó
- Tiền gửi các
TCKT
38.835 77,60 108.752 159,53 191.153 175,76 248.000 129,73
- Tiền gửi dân c
54.969 145,91 149.302 118,50 192.416 128,88 346.700 180,18
Trong đó kỳ
phiếu , trái phiếu
15.624 316,80 25.446 57,00 39.456 155,05 68.400 173,33
Nguồn : Theo báo cáo NHNN tỉnh Hà Giang từ năm 1996 - 2002
Qua thực tiễn hoạt động các năm qua, bên cạnh những kết quả đã đạt đợc, hoạt động huy động vốn của
tổ chức tín dụng trên địa bàn cũng còn một số tồn tại nh: Nguồn vốn điều chuyển từ ngân hàng thơng mại cấp
trên còn lớn (chiếm 47,3 % tổng nguồn vốn hoạt động), nguồn huy động chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn, nguồn
trung dài hạn còn ít, cha thật sự huy động tối đa nguồn tiền nhàn rỗi trong dân c, tỷ trọng thanh toán bằng tiền
mặt trong nền kinh tế trong dân c còn cao, cha động viên đợc đông đảo nhân dân mở tài khoản tiền gửi cá nhân,
một số lợng lớn ngoại tệ nhất là đồng Nhân dân tệ còn trôi nổi trên thị trờng tự do, cha thu hút đợc vào nguồn
vốn ngân hàng.
2.4 Về công tác cho vay.
Từ tình hình thực tế của địa phơng, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã xác định và coi trọng việc mở
rộng đầu t, coi đây là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời khẳng định sự lớn mạnh về quy
mô và chất lợng hoạt động của hệ thống ngân hàng
Trong các năm qua, từ năm 1995 đến tháng 12 năm 2002, thực hiện nghiêm túc định hớng của ngành

1997 210.600 109,1
1998 287.694 136,6
1999 351.241 122,1
2000 594.394 196,2
2001 890.122 149,7
12/2002 1.125.000 126,3
Nguồn : Theo báo cáo NHNN tỉnh Hà Giang từ năm 1996 - Năm 2002
Thông qua việc tăng trởng tín dụng, hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng đã góp phần tạo bớc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn, cơ cấu d nợ tín dụng đã có bớc chuyển dịch phù hợp với sự phát triển
của các thành phần kinh tế.
Cơ cấu d nợ tín dụng phân theo loại cho vay và phân theo thành phần kinh tế cuối tháng12/2002 thể
hiện nh sau:
- D nợ cho vay ngắn hạn 705.896 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 62,7% tổng d nợ, tăng 12,5 lần so cuối
năm 1995 (năm 1995, d nợ cho vay ngắn hạn 56.613 triệu, chiếm 45,8% tổng d nợ ).
- D nợ cho vay trung dài hạn 419.104 triệu, chiếm tỷ trọng 37,2% tổng d nợ, tăng 6,2 lần so với cuối
năm 1995 (năm 1995 d nợ cho vay trung dài hạn đạt 66.928 triệu, chiếm 54,2% tổng d nợ cho vay của các tổ
chức tín dụng).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status