THỰC TRẠNG TÀI TRỢ VỐN CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI TỈNH BẮC KẠN - Pdf 74

THỰC TRẠNG TÀI TRỢ VỐN CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO TẠI TỈNH BẮC KẠN
I. Khái quát về NHCSXH Tỉnh Bắc Kạn
1. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh NHCSXH tỉnh Bắc Kạn:
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ IX, Luật Các tổ chức tín dụng
và Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá X về chính sách tài trợ vốn đối với
người nghèo, các đối tượng chính sách khác và tách việc cho vay chính sách ra khỏi
hoạt động cho vay vốn thông thường của các Ngân hàng thương mại Nhà nước, cơ
cấu lại hệ thống Ngân hàng. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP
ngày 14 tháng 10 năm 2002 vế tài trợ vốn đối cới người nghèo và các đối tượng
chính sách khác và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 131/QĐ-TTg
ngày 04/10/2002 về việc thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội (viết tắt là
NHCSXH) tên giao dịch Quốc tế : Viet Nam Bank For Social Polices (VBSP) để
thực hiện tài trợ vốn ưu đãi đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên
cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo được thành lập và hoạt động từ
tháng 8 năm 1995.
Theo đó, Chi nhánh NHCSXH tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định
số 36/QĐ- HĐQT ngày 14/01/2003 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCSXH: chính
thức khai trương vào ngày 27/03/2003.
Những ngày đầu mới thành lập đội ngũ cán bộ chỉ có 7 người, với muôn vàn
khó khăn như trụ sở làm việc phải mượn nhờ NHNo&PTNT; Tài sản cố định, công
cụ lao động phục vụ công tác thiếu thốn. Đến nay toàn chi nhánh đã có 100 người,
được sắp xếp bố trí tại 8 huyện, thị; trụ sở giao dịch đã thuê nhà dân, có sàn giao dịch
với khách hàng, trang bị tài sản cố định, công cụ lao dộng đủ để đảm bảo hoạt động
nghiệp vụ. Với đội ngũ cán bộ phần đa là mới tuyển dụng được trang bị kiến thức cơ
bản, cùng với việc tăng cường tập huấn, đào tạo nghiệp vụ tại chi nhánh có đủ đội
ngũ cán bộ gánh vác được nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao.
Chi nhánh NHCSXH tỉnh Bắc Kạn hoạt động ở một tỉnh miền núi cao, có
diện tích đất lâm nghiệp chiếm 80 % diện tích đất tự nhiên, nông nghiệp chủ yếu
là đất một vụ, nền sản xuất hàng hoá chưa phát triển, thu ngân sách hàng năm thấp

NHCSXH thông qua các tổ chức hội, đoàn thể làm dịch vụ uỷ thác qui tụ và phát huy
sức mạnh của các hội, đoàn thể trong việc thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo.
Đến 31 tháng 5 năm 2006, chi nhánh đã thực hiện uỷ thác qua các tổ chức hội, đoàn
thể 171 tỷ đồng, chiếm 98,8% trên tổng dư nợ hộ nghèo toàn tỉnh. Trong đó, qua Hội
PN là 77,4 tỷ đồng, Hội ND: 70,6 tỷ đồng; Hội CCB: 19 tỷ đồng; Đoàn TN 4 tỷ
đồng. Thực tế việc chuyển tải vốn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác
của NHCSXH tỉnh Bắc Kạn đã được thực hiện đúng đối tượng tới 100% các xã,
phường trên toàn tỉnh.
2
2
Một trong những đối tác tham gia uỷ thác, có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến
chất lượng và hiệu quả của vốn vay đó là người quản lý Tổ Tiết kiệm và vay vốn. Bởi
vậy công tác tập huấn kiến thức cũng như kỹ năng tác nghiệp cho Tổ trưởng Tổ Tiết
kiệm và vay vốn được chi nhánh rất quan tâm và chú trọng để nâng cao năng lực
cũng như nhận thức về vai trò, trách nhiệm của họ khi thực hiện nhiệm vụ uỷ thác
của NHCSXH. Đồng thời, chính họ sẽ là người tuyên truyền ý nghĩa mục tiêu hoạt
động của NHCSXH. Sinh hoạt Tổ Tiết kiệm và vay vốn, hộ nghèo không chỉ được hỗ
trợ về vốn mà còn được tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống,
được tham gia các lớp tập huấn về kỹ năng lao động, sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ
thuật vào vật nuôi cây trồng, thâm canh tăng vụ, để có thu nhập, tạo lập ý thức tiết
kiệm và có tích luỹ, mở rộng sản xuất… tiến tới thoát nghèo để vươn lên làm giàu.
Thực hiện việc đưa giao dịch ngân hàng về tận xã, phường, thông qua tổ giao
dịch lưu động của Ngân hàng trực vào một ngày cố định hàng tháng, chi nhánh
NHCSXH Tỉnh Bắc Kạn đã mở 96 điểm giao dịch và là một trong số những đơn vị
đầu tiên sử dụng máy tính xách tay để giao dịch tại xã, phuờng. Như vậy hoạt động
giao dịch của hệ thống NHCSXH đã được tiếp cận trực tiếp với người dân, tạo thuận
lợi cho dân đồng thời phát huy được vai trò quản lý nhà nước, của chính quyền cấp
xã, phường đối với chính sách ưu đãi của Nhà nước.
Sau hơn 3 năm ra đời và đi vào hoạt động, chi nhánh NHCSXH tỉnh Bắc Kạn đã
được cấp uỷ, chính quyền địa phương đánh giá cao vai trò trong việc góp phần thực

Ban đại diện HĐQT NHCSXH các cấp” và công văn số 1326/UB- TW ngày
10/12/2002 của UBND“về việc hướng dẫn thực hiện văn bản số 03/H ĐQT”; Ban đại
diện HĐQT NHCSXH các cấp đã được thành lập.
* Tại cấp tỉnh: Ban đại diện HĐQT NHCSXH gồm có 11 thành viên, do đồng
chí Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh làm Trưởng ban và đại diện các ngành, Tổ
chức chính trị – xã hội.
* Tại cấp huyện, Thị xã: Ban đại diện HĐQT được thành lập gồm 8 thành
viên do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND huyện, Thị xã làm Trưởng ban.
Tổng số thành viên hoạt động Ban đại diện HĐQT - NHCSXH có 75 người.
Trong đó: + Cấp tỉnh: 11 người.
+ Cấp huyện, Thị: 64 người.
Như vậy, khác hẳn với các tổ chức tín dụng và các NHTM khác hoạt động
của NHCSXH được sự chỉ đạo trực tiếp chặt chẽ của HĐQT NHCSXH Việt Nam,
Ban Tổng Giám đốc NHCSXH Việt Nam và UBND các cấp thông qua Ban đại
diện HĐQT.
3.2.Bộ máy điều hành tác nghiệp:
NHCSXH có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước. Bộ
máy điều hành tác nghiệp làm nhiệm vụ quản lý vốn, tài sản, tài trợ, thu nợ theo đúng
chủ trương, chính sách, thể chế, quy trình nghiệp vụ do HĐQT, Tổng giám đốc ban
hành, đồng thời tập trung chỉ đạo đôn đốc, giám sát các chi nhánh tỉnh, thành phố tham
4
4
mưu cho Ban đại diện HĐQT tổ chức, chỉ đạo thực hiện.
Ngay từ ngày đầu mới thành lập, Chi nhánh đã thành lập 4 phòng nghiệp vụ
gồm: Phòng Kế hoạch – Nghiệp vụ tín dụng; Phòng Kế toán – Ngân quỹ; Phòng
Kiểm tra – Kiểm toán nội bộ; Phòng Tổ chức – Hành chính.
Về tổ chức cơ cấu nhân sự:
* Tại tỉnh:
- Ban giám đốc gồm: 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc.
- Các phòng nghiệp vụ bố trí như sau:

hoạt động của chi nhánh.
Thêm vào đó, hiện tại đa số cán bộ làm việc tại Chi nhánh NHCSXH tỉnh Bắc
Kạn đều có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, được đào tạo kỹ lưỡng, có phẩm
chất đạo đức tốt và tận tụy với công việc.
Cơ sở vật chất và phương thức giao dịch ngày càng được đổi mới và hoàn
thiện hơn. Các cán bộ đi giao dịch tại xã phường đã được trang bị máy tính xách tay,
phương tiện đi lại…
Ngoài ra, Chi nhánh còn nhận được sự hợp tác và tài trợ của nước ngoài để
thực hiện các dự án xóa đói giảm nghèo, nước sạnh và vệ sinh môi trường nông
thôn… thu hút được rất nhiều vốn đầu tư từ các tổ chức tài chính quốc tế ( Chính
Phủ, Phi Chính Phủ ) như UNICEF, OPEC, IFAD, WB…
Cơ chế tài trợ vốn đối với hộ nghèo đang được hoàn thiện phù hợp với điều
kiện thực tế địa bàn nông thôn, làm cho hoạt động của NHCSXH được thuận lợi
mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao hơn.
4.2. Khó khăn và tồn tại
Bên cạnh những thuận lợi thì NHCSXH Chi nhánh tỉnh Bắc Kạn cũng gặp
phải không ít những khó khăn.
Điều kiện thời tiết, khí hậu những năm gần đây có nhiều thay đổi so với những
năm trước, nhiều đợt mưa, rét đậm kéo dài gây khó khăn lớn cho trồng trọt và chăn
nuôi. Dịch bệnh phát sinh ở nhiều nơi như: Bệnh lở mồm long móng làm trâu bò chết
hàng loạt, trong đó có trâu bò thuộc nguồn vốn vay của NHCSXH; Dịch cúm gia cầm
ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi gia cầm. Do ảnh hưởng như vậy dẫn tới thu nhập
của một số hộ dân bị giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn tài trợ của NHCSXH.
Nhận thức một số hộ nghèo chưa cao, tư tưởng bao cấp, ỷ lại còn ăn sâu vào
tiềm thức; Một số người còn tự ty mặc cảm không chịu khó vươn lên theo kịp cộng
đồng; Năng lực sản xuất, trình độ quản lý đa số còn yếu, việc tiếp thu khoa học kỹ
thuật áp dụng vào sản xuất, chăn nuôi còn nhiều hạn chế. Điều này làm trở ngại lớn
trong việc cấp vốn tài trợ cho hộ nghèo đói và nó cũng làm hạn chế hiệu quả đầu tư
vốn tài trợ cho hộ nghèo.
Các dự án khả thi thu hút lao động tạo việc làm, tăng thu nhập trên địa bàn còn

nghèo chưa thực sự dân chủ do còn hiện tượng nể nang dẫn đến bình xét không đúng
đối tượng hoặc bỏ sót đối tượng diễn ra ở một số địa phương; Có hộ lười lao động,
hộ có người mắc tệ nạn xã hội vẫn được hưởng chính sách hỗ trợ khiến cho người
dân bất bình. Nhiều hộ dân không trung thực trong khai nguồn thu nhập gây khó khăn
cho việc quản lý các hộ đói, nghèo.
7
7
Mặt khác, một bộ phận không nhỏ người nghèo, xã nghèo vẫn có tư tưởng
trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, chưa chủ động vươn lên thoát nghèo.
khi đưa càng nhiều chương trình, dự án có tính chất bao cấp vào thì tư tưởng trông
chờ càng cao. Tồn tại này không chỉ có ở người dân mà còn ở một số cấp uỷ, chính
quyền cơ sở.
Bên cạnh đó, nguồn vốn dành cho chương trình XĐGN chưa đáp ứng nhu cầu
thực tế của người dân. Các chương trình, dự án đầu tư XĐGN chủ yếu mới đầu tư xây
dựng một số cơ sở hạ tầng thiết yếu như: Đường, trường, trạm… mà chưa chú trọng
đến đầu tư trực tiếp phục vụ sản xuất để tăng thu nhập cho người dân. Kinh phí dành
cho công tác hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, phát triển kinh tế còn thấp, thiếu
vốn tài trợ để XDGN. Mức tài trợ thấp chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế nên chưa
khuyến khích được các hộ nghèo phấn đấu vươn lên Điều này chứng tỏ rằng tỷ lệ
nghèo đói của tỉnh chưa phải là ổn định và bền vững. Số hộ tái nghèo có thể còn cao
hơn nữa vì điều kiện tự nhiên, môi trường không thuận lợi, rất nhiều hộ không trong
diện đói nghèo nhưng thu nhập còn thấp và không ổn định, luôn có nguy cơ rơi vào
diện đói nghèo.
Khắc phục những hạn chế trên, tỉnh Bắc Kạn đã xác định giảm tỷ lệ hộ nghèo
là nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển Kinh tế – Xã hội. Đại hội Đảng Bộ tỉnh nhiệm
kỳ IX(2005 – 2010) đã đặt ra mục tiêu phát triển đến năm là: “xoá căn bản hộ đói –
giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 20%/ tổng số hộ”. với tỷ lệ nghèo đói 50,87%
như hiện nay và số hộ tăng giảm trong diện nghèo đói hàng năm cho thấy công cuộc
XĐGN của tỉnh và trách nhiệm của chi nhánh NHCSXH tỉnh Bắc Kạn còn nặng nề,
đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm vì người nghèo của toàn thể đội ngũ cán bộ ngân

2006
Thực
hiện
năm
2007
A. Nguồn vốn
82.411 117.312
183.488 282.677 449.121
1.Nguồn vốn TW chuyển về 81.000 111.915 174.488 273.005 440.669
2.Nguồn vốn địa phương được TW cấp bù
lãi suất
1.041 5.324 9.000 8.672 7.452
3.Nguồn vốn do ngân sách tỉnh hỗ trợ 0 0 0 1.000 1.000
4. Nguồn vốn nhận tài trợ, uỷ thác, của tổ
chức, cá nhân
370 73 0 0 0
B. Sử dụng vốn
1. Doanh số tài trợ 27.853 62.208 93.119 141.013 273.175
2. Doanh số thu nợ 16.314 24.524 26.683 42.213 106.703
3. Dư nợ cuối kỳ
Trong đó: Nợ quá hạn
tỷ lệ %
78.257
769
0,98
115.941
620
0,53
182.377
1.887

Sự tăng trưởng nguồn vốn:
Chi nhánh NHCSXH tỉnh Bắc Kạn đã tiếp nhận nguồn vốn từ Ngân hàng
phục vụ người nghèo 50.000 triệu đồng. Sau 5 năm hoạt động, nguồn vốn của
NHCSXH tỉnh Bắc Kạn đã không ngừng tăng lên, đến 30/6/2008 tổng nguồn vốn là
548.455 triệu đồng, đạt 94,94%, tăng 99.334 triệu đồng so với năm 2007, tốc đọ
tăng trưởng đạt 22,12%. Trong đó: nguồn vốn TW chuyển về là: 541.903 triệu đồng
chiếm 98,80% tổng nguồn vốn; nguồn vốn cân đối huy động tại địa phương là:
6.552 triệu đồng, chiếm 1,19% tổng nguồn vốn ( trong đó nguồn vốn huy động tiền
gửi tiết kiệm dân cư: 5.552 triệu đồng; nguồn vốn do ngân sách tỉnh chuyển sang 01
tỷ đồng)
Chi nhánh NHCSXH tỉnh Bắc Kạn thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà
nước về xoá đói giảm nghèo, nguồn vốn hoạt động chủ yếu là sự hỗ trợ của nhà
nước và các tổ chức quốc tế. Mặc dù vậy, bên cạnh nguồn vốn của TW giao, Chi
nhánh NHCSXH tỉnh Bắc Kạn đã luôn chủ động huy động các nguồn vốn tại địa
phương, tuy nhiên kết quả không cao do trên địa bàn có nhiều tổ chức tài trợ vốn và
ngân hàng thương mại huy động vốn với nhiều hình thức huy động hấp dẫn hơn, lãi
suất tiền gửi cao hơn.
10
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status