21
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn..........................................................................................................
Mục lục.............................................................................................................1
Tóm tắt nội dung đề tài.......................................................................................
I..GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ.............................................................................2
1..Lý do chọn đề tài..........................................................................................2
2..Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu...............................................3
3..Mục tiêu nghiên cứu.....................................................................................4
4..Mục đích nghiên cứu....................................................................................4
5..Ý nghĩa thực tiễn của đề tài..........................................................................4
6..Thuận lợi và khó khăn..................................................................................5
II..LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU...........................................................................5
III..CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................8
1..Cơ sở lý luận.................................................................................................8
1.1 Lý thuyết áp dụng....................................................................................9
2..Phương pháp nghiên cứu..............................................................................9
2.1Phương pháp chung..................................................................................9
2.2 Địa bàn nghiên cứu..................................................................................9
2.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu.....................................................................10
3..Khung lý thuyết..........................................................................................11
4..Các khái niệm.............................................................................................11
5..Gỉa thuyết nghiên cứu................................................................................12
IV KẾ HOẠCH TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU.............................................13
1..Kế hoạch dự tính........................................................................................13
2..Kế hoạch cụ thể..........................................................................................13
V..KẾT LUẬN...............................................................................................17
Tài liệu tham khảo..........................................................................................17
Phụ lục............................................................................................................18
tướng yêu cầu chính quyền các tỉnh, thành phố phải có biện pháp hỗ trợ kịp thời
không để một học sinh, sinh viên nào đã trúng tuyển mà phải bỏ học vì không
đủ tiền tàu xe đến trường và ăn ở trong hai tháng của năm học thứ nhất. Đồng
thời, Thủ tướng đã chỉ đạo các ban, ngành và chính quyền các cấp ở địa phương
xác nhận hoàn cảnh khó khăn của sinh viên, học sinh theo các quy định của
Ngân hàng để được vay tiền cho nhiệm vụ học tập.
Chính sách áp dụng cho tất cả Sinh viên đang theo học tại các trường Đại
học và Cao đẳng trên toàn quốc ; Số vốn được vay tối đa cho một Sinh viên là
800.000 đ/ tháng thông qua gia đình của họ ; Thời gian để Sinh viên thanh toán
21
cho ngân hàng là 2 năm sau khi ra trường ; Tỷ lệ lãi suất sẽ được tính theo định
kỳ khi người Sinh viên chưa thanh toán trước thời hạn.
Khi có chính sách vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội thực sự là rất
đáng mừng với các Sinh viên, nhất là các bạn Sinh viên có hoàn cành gia đình
khó khăn. Điều này thể hiện sự đúng đắn, sáng suốt, linh hoạt trong việc đưa ra
các chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong thời đại mới. Đồng thời cũng thề
hiện sự quân tâm của Đảng và Nhà nước ta với thế hệ trẻ, nhất là Sinh viên hiện
nay.
Nhưng vấn đề đặt ra là các bạn Sinh viên có phản ứng như thế nào về chính
sách cho vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội ? đối với Sinh viên vay vốn
có thực sự là một giải pháp tốt nhất để tháo gỡ bế tắc cho việc học hành hay
không ? các bạn có nhiệt tình hưởng ứng tham gia hay cho đó là chuyện bình
thường ? trong quá trình làm thủ tục vay Sinh viên có gặp khó khăn gì không ?
Sinh viên vay vốn họ có tâm tư, nguyện vọng gì ?
Để trả lời cho những câu hỏi trên cũng như mong muốn tìm hiểu vấn đề này
chúng tôi đã quyết định chọn và nghiên cứu đề tài : “Phản ứng của Sinh viên
thành phố hồ Chí Minh về chính sách cho vay vốn của ngân hàng chính sách xã
hội hiên nay” nhằm tìm hiểu phản ứng, thái độ, tâm tư, nguyện vọng của các
bạn Sinh viên, để phần nào giúp Đảng – Nhà nước, các Bộ ngành liên quan,
cũng như ngân hàng chính sách xã hội có những cách thức phù hợp tạo điều
sách.
- Ủng hộ chính sách hay chưa đồng tình.
- Những nguyện vọng của sinh viên khi thực hiện vay vốn đã đạt được
mục đích chưa.
- Những thủ tục trong quá trình vay vốn đã thỏa đáng với sinh viên hay
chưa.
- Thời hạn và lãi suất cho vay vốn của ngân hàng chính sách đã hợp lý hay
chưa.
+ Ảnh hưởng của chính sách cho vay vốn của ngân hàng chính sách đối với
sinh viên.
- Vấn đề học tập của sinh viên được giải quyết như thế nào.
- Sinh viên đã yên tâm học tập hay chưa.
+ Những hiệu quả mà ngân hàng chính sách thực hiện sau khi cho sinh viên
vay vốn.
+ Sự khác nhau về quan điểm giữa sinh viên công lập và dân lập với chính
sách cho vay.
+ Đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm đưa chính sách cho vay vốn của
ngân hàng chính sách ngày càng thân thiết với sinh viên hơn.
4. Mục đích nghiên cứu :
Nghiên cứu đề tài này giúp cho xã hội nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh
nói riêng nhận thấy được những phản ứng của sinh viên với ngân hàng chính
sách theo hướng ủng hộ hay chưa đồng tình. Từ đó chúng ta có thể đưa ra những
kiến nghị và giải pháp để dự án cho sinh viên vay vốn ngày càng trở nên phổ
biến và là người bạn đồng hành thân thiết của sinh viên.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Đề tài của chúng tôi tiến hành nghiên cứu về phản ứng của sinh viên với
chính sách cho sinh viên vay vốn học tập. chúng tôi đi nghiên cứu phỏng vấn
sinh viên để lượng giá được những nhu cầu của sinh viên, với việc vay vốn trang
trải học tập và những thắc mắc của các sinh viên khi làm thủ tục vay vốn.
21
năm 1990 khi tăng học phí lên 2,65 lần.
Trong những năm trước tại Việt Nam, quỹ cho sinh viên vay khoảng 200 tỷ
đồng và vay cũng khó khăn nên không sử dụng hết. Về quy mô, như vậy quỹ
này có khoảng 13 triệu USD và so với ngân hàng chính sách nhà nước dành cho
giáo dục đại học khoảng 450 triệu USD. Trong khi đó năm 2003 Thái Lan đã có
quy mô học bổng đến 60 triệu USD, quỹ tín dụng cho sinh viên lên đến 350 triệu
USD so với ngân sách nhà nước dành cho giáo dục đại học là 860 triệu USD.
Tuy nhiên, năm nay thay vì cho sinh viên vay tối đa 300 nghìn/tháng như trước
21
đây nhưng hiện nay được vay tối đa là 800 nghìn/tháng. Thủ tướng chính phủ
cũng vừa có quyết định bổ sung 500 tỷ đồng cho ngân hàng chính sách xã hội và
quyết định sẽ phát hành trái phiếu để huy động tiếp 2 tỷ đồng dành cho ngân
hàng làm vốn cho học sinh, sinh viên vay đi học. Vay vốn học tập rõ ràng là một
giải pháp rất sát sườn với sinh viên. Nhưng hầu như sinh viên còn thờ ơ với giải
pháp này. Vậy theo giáo sư làm thế nào để chương trình cho sinh viên vay vốn
sát hơn nữa với đời sống sinh viên và có thể thực hiện được nhiệm vụ “dọn
đường” cho việc tăng học phí.
Theo tôi muốn thực hiện chương trình cho sinh viên vay vốn thành công thì
Quỹ cho vay phải đủ lớn, có thể bằng 40 đến 50% ngân sách nhà nước dành cho
giáo dục đại học. Khoảng 200 đến 250 triệu USD không chỉ để chi trả học phí
mà còn cho chi phí ăn ở, diện cho vay rộng hơn khoảng 20 đến 30% tổng số sinh
viên với lãi xuất rất thấp, có thể chỉ bằng 50% lãi xuất thị trường. Nhà nước sẽ
gánh chịu phần lớn rủi ro cho sinh viên. Mức chi trả tình theo phần trăm của
phần thu nhập cao hơn nữa, gần như thế thu nhập cá nhân vậy. Khi có việc với
mức lươn 1triệu đồng/tháng thì chưa phải trả, khi mức lương 2 triệu đồng/tháng
thì trả 20% của triệu thứ hai chẳng hạn, nghĩa là trả 200 ngàn đồng/tháng. Như
vậy, mức trả cho từng thời đoạn cho ở đây là chưa xác định trước mà tuỳ và
từng thu nhập của người vay, cho đến khi hết nợ. Nhưng sau 15 hay 20 năm
chưa trả hết, hoặc lở bị tai nạn không làm được việc gì nữa thì xoá nợ.
Nhà nước có một cơ quan độc lập cho việc này và chấp nhận mức thất thoát
được triển khai trước đây và trong năm học này các ngân hàng địa phương phải
tạo điều kiện cho các em.
Cũng có trường hợp tốt nghiệp nhưng không hoàn vốn. Trước khi giao trọng
trách cho trường quá lớn vì nếu sinh viên không hoàn trả thì trường chịu trách
nhiệm.
Nay thì gia đình phải đứng ra chịu trách nhiệm về mặt pháp lý đối với ngân
hàng còn nhà trường chịu trách nhiệm một phần trong quá trình quản lý sinh
viên.
Nguồn vốn cho sinh viên vay không nhiều. Một năm chỉ vài trăm ngàn sinh
viên vào các trường Đại học, một tỷ lệ nhỏ so với nguồn vốn khổng lồ của một
đất nước.
Số sinh viên vay vốn năm nay sẽ tăng nhiều vì cơ chế thoáng hơn. Sẽ có
khoảng 60 đến 70% có nhu cầu vay vốn học tập.
4. TS. Nguyễn Quang A nêu đề suất về hình thức cho sinh viên vay vốn học
tập.
Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Ngân hàng được giao thực hiện
chính sách tín dụng ưu đãi cho sinh viên. Theo ngân hàng chính sách xã hội cần
ngay thêm 500 tỷ đồng và hơn 4000 tỷ đồng cho năm học 2007 – 2008.
Ước tính số sinh viên đậu Đại học thuộc diện khó khăn có nhu cầu vay vốn
chiếm 20% tổng số sinh viên. Tức khoảng 287 000 sinh viên, mỗi sinh viên vay
1,2 triệu đồng/tháng và 10 tháng cho cả năm học thì con số là 3444 tỷ đồng.
Ngân hàng này lo nhất là nguồn vốn, vì vốn vay theo chỉ tiêu đã cho vay hết
và hiện tổng dư nợ khoảng 290 tỷ đồng. Con số 290 tỷ đồng dư nợ là quá nhỏ.
Ngay cả so với một ngân hàng thương mại cả vừa chứ chưa nói đến toàn bộ hệ
thống ngân hàng thương mại.
Vốn cho học sinh, sinh viên vay không thiếu, chỉ có vốn do ngân hàng cung
cấp cho ngân hàng chính sách xã hội để cho sinh viên vay thì thiếu mà thôi.
Thực ra chủ trương đúng đắng về tín dụng sinh viên đã có từ khá lâu nhưng việc
thực hiện xem ra không mấy xuông sẽ.
21
hàng chính sách xã hội ta thấy đây là chính sách phù hợp với thực tế giáo dục
nước ta. Vì vậy chính sách này sẽ được đông đảo mọi người ủng hộ.
+ Lý thuyết hành động của Max weber.
Theo ông, con người hành động là do chủ quan, do con người có nhu cầu
phải làm, từ đó dẫn đến động cơ hành động.
Áp dụng lý thuyết này vào đề tài ta thấy nhu cầu có thực của sinh viên mong
muốn có thêm nguồn của cải vật chất để phục vụ cuộc sống. Vì vậy dẫn tới hành
động tham gia vay vốn của sinh viên.