tình dục trong sinh viên thành phố hồ chí minh hiện nay - Pdf 98

LỜI CẢM ƠN!
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ
dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt thời gian từ khi bắt
đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, nhóm chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự
quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc nhất,
nhóm chúng em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Xã Hội Học – Trường Đại Học Khoa
học xã hội và Nhân văn đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn
kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt,
trong học kỳ này, Khoa đã tổ chức cho chúng em được tiếp cận với môn học mà theo
chúng em là rất hữu ích đối với sinh viên ngành Xã Hội Học cũng như tất cả các sinh
viên thuộc các chuyên ngành khoa học xã hội khác. Đó là môn học “Phương pháp
nghiên cứu xã hội học”. Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn Ths. Trần Thị Bích Liên
đã tận tâm hướng dẫn chúng em qua từng buổi học trên lớp cũng như những buổi nói
chuyện, thảo luận về đề tài mà chúng em đang nghiên cứu về “Biến đổi xã hội và xu
hướng tình dục trước hôn nhân trong sinh viên thành phố Hồ Chi Minh”. Nếu không có
những lời hướng dẫn, dạy bảo của cô thì có lẽ bài báo cáo này của chúng em rất khó có
thể hoàn thiện được. Một lần nữa, chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
Bài báo cáo được thực hiện trong khoảng thời gian gần 3 tuần. Bước đầu đi vào thực tế,
tìm hiểu về lĩnh vực tình dục, kiến thức của chúng tôi còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ.
Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, chúng em rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Cô và các bạn học cùng lớp để kiến
thức của chúng em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
1
Lời cam đoan
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của chúng
tôi. Các thông tin, số liệu, kết quả nêu trong báo cáo là trung thực và chưa từng
được người khác công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
2
MỤC LỤC
Lời cảm ơn…………………………………………………………………………. 1
Lời cam đoan………………………………………………………………………. 2

7.1 Ý nghĩa lí luận………………………………………………………… 36
3
7.2 Ý nghĩa thực tiễn……………………………………………………… 36
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……………38
1. Khái niệm nghiên cứu……………………………………………………………38
1.1 Biến đổi xã hội……………………………………………………………… 38
1.2 Tình dục………………………………………………………………………38
1.3 Tình dục trước hôn nhân……………………………………………………. 38
1.4 Sinh viên …………………………………………………………………….38
2. Các lý thuyết vận dụng………………………………………………………… 38
2.1 lý thuyết kiến tạo xã hội………………………………………………………38
2.2 Lý thuyết xã hội hoá………………………………………………………… 39
2.3 Lý thuyết định hướng giá trị……………………….………………………….40
3. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………… 42
3.1 Phương pháp phỏng vấn sâu………………………………………………….42
3.2 Phương pháp quan sát……………………………………………………… 43
3.3 Phương pháp thảo luận nhóm…………………………………………………44
3.4 Phương pháp tư liệu sẵn có………………………………………………… 44
3.5 Mẫu nghiên cứu……………………………………………………………….45
CHƯƠNG 2: TDTHN TRONG SINH VIÊN CHỦ YẾU THỂ HIỆN QUA BA XU
HƯỚNG: TÌNH DỤC GẮN LIỀN VỚI HÔN NHÂN – TÌNH DỤC GẮN LIỀN VỚI
TÌNH YÊU – TÌNH DỤC KHÔNG CẦN TÌNH YÊU……………………………….47
1. Tình dục gắn liền với hôn nhân………………………………………………… 47
1.1 Trinh tiết – thước đo giá trị người phụ nữ………………………………… 47
1.2 TDTHN – đi ngược lại giá trị truyền thống………………………………… 49
1.3 Tình dục trong hôn nhân- sự gắn kết bền vững………………………………55
2. Tình dục gắn liền với tình yêu……………………………………………………56
2.1 Tình dục được xem là chiếc cầu nối tình cảm trong sinh viên………………56
2.2 Tình dục đóng vai trò như là một điều kiện thoã mãn nhu cầu trong tình

4.3 Xã hội hoá trong xã hội…………………………………………………… ………141
4.4 Tiểu kết………………………………………………………………………… …146
PHẦN KẾT LUÂN VÀ KHUYẾN NGHỊ………………………………… ………148
1. KẾT LUẬN…………………………………………………………….………148
2. KHUYẾN NGHỊ……………………………………………………… … …152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………… …157
5
DANH MỤC VIẾT TẮT
TD: Tình dục
TDTHN: Tình dục trước hôn nhân
QHTD: Quan hệ tình dục
PVS: Phỏng vấn sâu
SV: Sinh viên.
QS: Quan sát
ĐH: Đại học
KTX: Kí túc xá
TDTT: Thể dục thể thao
KHXH&NV: Đại học khoa học xã hội và nhân văn
TP: Thành phố
TP.HCM: Thành Phố Hồ Chí Minh
CNTT: Công nghệ thông tin
NTL: Người trả lời
TLN: Thảo luận nhóm
6
DANH MỤC HỘP
Tên và nội dung hộp Trang
Hộp 1: Quan điểm của SV về quan hệ tình dục 65
Hộp 2: Quan điểm của SV về thủ dâm 66
Hộp 3: Nhận thức về vấn đề trinh tiết của các bạn SVvới lối sống hiện đại 71
Hộp 4: Tình yêu và nhận diện tình yêu của SV 73

Hình 8: (C5d.1) Tiệm Internet Đại Bình làng Đại học Thủ Đức 114
8
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội ngày càng phát triển, quá trình đô thị hóa đã làm cho nhiều quan niệm,
tư tưởng của người dân không còn ghò bó như cũ nữa. Theo đó thì lối sống của
vị thành niên, thanh niên trẻ cũng ngày càng rộng rãi hơn. Lối sống tình dục
trước hôn nhân được xem là hiện tượng mới nảy sinh trong xã hội hiện đại.
Quá trình hiện đại hóa đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quan niệm và
hành vi về tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình. Đã có nhiều tranh luận tại
Việt Nam và trên thế giới về tác động của hiện đại hóa đến việc định hình
phong cách sống của thế hệ trẻ. Điều này đặc biệt đúng ở Việt Nam trong bối
cảnh gia tăng hội nhập về kinh tế, xã hội và văn hóa trong khu vực và với thế
giới. Nhiều người cho rằng hiện đại hóa thúc đẩy tự do cá nhân nhiều hơn,
tăng tính di động về địa lý và nghề nghiệp, cải thiện việc tiếp cận thông tin qua
nhiều nguồn khác nhau, khiến cho các mối quan hệ gia đình thêm dân chủ
Kết quả là thanh thiếu niên ngày nay có nhiều tự do trong hẹn hò, yêu đương,
tình dục, và lựa chọn hôn nhân hơn các thế hệ cũ.
Qua đó có thể thấy lối sống tự do kiểu phương Tây cũng đang xâm nhập khá
mạnh vào đời sống người Việt Nam, đặc biệt là trong thanh niên và cả một bộ
phận trong tầng lớp tri thức, đặc biệt là sinh viên, phải chăng đây là những biến
đổi xã hội mạnh mẽ hiện nay. Như một xu hướng tất yếu của xã hội hiện đại,
cần có thái độ và cách nhìn khác đối với vấn đề mà từ trước đến nay vẫn được
xem là vấn đề tế nhị và ngại đề cập.
Theo một khảo sát của Viện Khoa học Xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh và
Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh tại 5 trường đại học tại
Thành Phố Hồ Chí Minh và 3 trường đại học tại Hà Nội (Thực hiện năm 2007)
chỉ có khoảng gần 30% sinh viên quyết phản đối quan hệ tình dục trước hôn
nhân. Số còn lại chấp nhận coi đó là việc bình thường hoặc đánh giá đó là việc
không tốt, nhưng cũng không phản đối. Vậy những xu hướng TD nào đang

cạnh xã hội của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở việt Nam, nhìn nhận
sự biến đổi xã hội ở Việt nam dưới quan điểm kiến tạo và cho thấy quá trình
biến đổi của Việt Nam đang được kiến tạo dưới sự tác động của nhiều yếu tố
khác nhau: dân số, văn hóa, kết cấu xã hội, phúc lợi xã hội – bốn vấn đề then
10
chốt của quá trình hiện đại hóa xã hội. Các đề tài đưa ra được những cơ hội và
thách thức trong quá trình hội nhập. Việt Nam đang diễn ra những biến đổi trên
nhiều mặt. Như trong tác phẩm . “Biến Đổi Xã Hội Ở Việt Nam Hơn 20 Năm
Đổi Mới”. Tác giả đề cập đến biến đổi ở thời kì đương đại. Tác giả khẳng định
nó đã, đang và sẽ diễn ra. Những sự biến đổi nó có tác động với nhau và những
thách thức mà Việt nam sẽ gặp phải.
Biến đổi trong giá trị chuẩn mực, giá trị, trong cấu trúc xã hội, thay đổi trong
hành vi lối sống thường ngày (Trịnh Duy Luân). Biến đổi xã hội tác động đến
vấn đề tình dục trong xã hội: một số tác giả cho rằng tình dục trước hôn nhân là
do tác động của quá trình biến đổi xã hội, do sự hiện đại hóa, sự bùng nổ các
phương tiện truyền thông đại chúng. Nguyên nhân dẫn đến tình dục trước hôn
nhân là do hiện đại hóa làm giảm mức độ kiểm soát xã hội và gia tăng tình dục
trước hôn nhân (Vũ Mạnh Lợi). Sự bùng nổ các phương tiện truyền thông đại
chúng đặc biệt là internet cho phép tiếp cận với nhiều thông tin về tình dục, sự
xuất hiện của các loại phim ảnh đồi trụy tác động đến nhận thức và hành động
tình dục trước hôn nhân (Trần Văn Vạn- Phạm Văn Sĩ- Lê Thị Ngọc Miến,
Trần Minh Thi, Nguyễn Quý Thanh). Do sự ảnh hưởng của văn hóa phương
tây, có suy nghĩ thoáng về tình dục (Nguyễn Linh Khiếu, Nguyễn Thị Phương
Yến, Ngô Văn Lệ, Lê Nguyễn Minh Tấn). Còn Tác giả Trần Thị Hồng Hà cho
rằng lối sống hiện đại, lối sống thực dụng trong xã hội ảnh hưởng rất lớn đến
việc lôi cuốn thanh niên vào lối sống hiện đại, lối sống thực dụng. Ảnh hưởng
của internet lên thực hành tình dục trong thanh thiếu niên, xem đây là phương
tiện thực hiện các nhận dạng về tình dục và ham muốn tình dục (Ngô Đức Anh,
2008). Còn trong tác phẩm của nhóm tác giả Khuất Thu Hồng- Lê Bạch
Dương- Nguyễn Ngọc Hường cho rằng sự biến đổi xã hội đã tạo ra sự khác biệt

yếu tố đặc trưng của sự biến đổi xã hội.
12
Các nghiên cứu cũng như các bài viết của các tác giả trên cho thấy rằng biến
đổi là một xu thế tất yếu của xã hội trong quá trình phát triển, nó có tác động
hai mặt, một mặt làm cho xã hội thăng tiến mặt khác nó vẫn còn nhiều vấn đề
cần đặt ra để khắc phục. Riêng về vấn đề tình dục biến đổi xã hội đã tác động
trực tiếp đến thái độ, nhận thức, hành vi của con người trong xã hội Việt Nam,
nhất là sự bùng nổ của internet, nó làm cho mọi người có cơ hội tiếp cận đến
mọi thông tin về đời sống xã hội và về tình dục. Nhưng hầu như các tác giả cho
rằng tình dục trước hôn là hệ quả của sự biến đổi xã hội nhất là việc tiếp cận
internet. Vì thế mà nhóm chúng tôi muốn khai thác về tình dục trước hôn nhân
theo khía cạnh khác là lối tiếp cận về quyền tình dục và coi tình dục trước hôn
nhân không phải là hệ quả của biến đổi xã hội. Trong xã hội có nhiều biến động
và thay đổi vậy các cá nhân sẽ có những xu hướng nào về tình dục, cái gì nằm
bên trong họ, thúc đẩy hay bó buộc họ về tình dục trước hôn nhân.
2.2. Tình dục và xu hướng tình dục trước hôn nhân trong thanh thiếu
niên/ sinh viên
Gần như hầu hết các tác giả tiếp cận tình dục trước hôn nhân là hệ quả xấu cần
phải nghiên cứu tìm ra nguyên nhân để giảm thiểu, chỉ có một số nghiên cứu là
có cái nhìn nhận mới về tình dục trước hôn nhân. Tình dục trước hôn nhân là
hậu quả không mong muốn cuả việc hiện đại hóa làm giảm sự kiểm soát của xã
hội đối với hành vi cá nhân (Vũ Mạnh Lợi). Quan hệ tình dục trước hôn nhân là
đánh mất đi truyền thống tốt đẹp của người của người việt nam (Huỳnh Văn
Sơn). Tình dục trước hôn nhân là mang đến những hệ lụy về sau, những hệ lụy
đó là do sự thiếu hiểu biết về kiến thức tình dục (Trần Văn Hạn). Còn tác giả
Nguyễn Thị Kim Hoa và vũ văn trình cho rằng “sống thử” của thanh niên hiện
nay là một trào lưu tiêu cực mang lại hậu quả nghiêm trọng cho bản thân thanh
13
niên và cho xã hội thế nên phải hạn chế, điều chỉnh và cần có sự quan tâm của
nhà trường, gia đình. Sinh viên phải có cái nhìn đúng đắn hơn về tình dục trước

nhưng lại có cái nhìn cởi mở hơn về tình dục trước hôn nhân.
Về biến môi trường sống thì có hai luồng ý kiến: một là quan điểm cho rằng
môi trường sống càng tự do thì sinh viên có quan điểm tình dục trước hôn nhân
thoáng hơn và ngược lại (Nguyễn Quý Thanh, 2011. Ngô Văn Lệ, Lê Nguyễn
Văn Tấn), ngược lại môi trường sống càng gò bó, gia đình càng quan tâm thì
khả năng sinh viên lựa chọn “sống thử” càng cao.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện với nhiều khía cạnh và
nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Các đề tài chủ yếu xoay quanh vấn đề tình
dục nói chung và tình dục trước hôn nhân nói riêng. Các khía cạnh được tập
trung nghiên cứu là thực trạng tình dục trước hôn nhân, thái độ với tình dục,
hành vi tình dục, cảm nhận tình dục hiểu biết về tình. Các nghiên cứu cho thấy
những điểm nổi bật sau: tình dục là một nhu cầu của con người, đa số thanh
thiếu niên còn hạn chế trong việc hiểu biết và tiếp cận về sức khỏe tình dục, sức
khỏe sinh sản. Tình dục trước hôn nhân hiện nay đang là hiện tượng khá phổ
biến, có sự khác nhau về nhận thức hành vi trong vấn đề tình dục trước hôn
nhân giữa các nhóm đối tượng, giữa những khu vực khác nhau. Về tình dục
trước hôn nhân chủ yếu các đề tài tập trung nghiên cứu ở nhóm đối tượng thanh
niên.
Về tình dục trước hôn nhân có nhiều ý kiến được đưa ra đã cho thấy có sự khác
nhau về tình dục trước hôn nhân giữa các nhóm đối tượng và giữa phạm vi về
mặt thời gian và không gian. Trong nghiên cứu “Nhận thức của thanh niên về
tình dục” nghiên cứu tại xã Khánh Hậu tỉnh Long An và phườn Tân Bình, Tp
HCM. Tác giả đã chỉ ra rằng có những quan điểm khác nhau giữa các tầng lớp
15
thanh niên, nữ thanh niên phải giữ gìn trinh tiết cao hơn nam thanh niên. Trong
nghiên cứu còn cho thấy có sự khác nhau giữa hai địa bàn nghiên cứu về hành
vi tình dục trước hôn nhân: tại Tp HCM có 16% người được hỏi có quan hệ
tình dục trước hôn nhân trong khi đó ở Long An chỉ có 7.7%. Qua đó có thể
thấy tình dục trước hôn nhân diễn ra ở thành phố cởi mở hơn ở nông thôn
(Nguyễn Thị Phương Yến 2011). Trong “Thái độ của sinh viên về quan hệ tình

những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên trong vấn đề QHTD trước
hôn nhân, đề cập đến những biến đổi của xã hội đã tạo nên những thay đổi
trong mặt nhận thức. “Quan niệm về tình dục của sinh viên trường đại học Y
dược Huế”, có 36,2% sinh viên nam và 12,5% sinh viên nữ đồng ý với QHTD
trước hôn nhân. 31,2% sinh viên nam và trên 50% sinh viên nữ coi trọng vấn đề
trinh tiết. Tình dục chuyện dễ đùa khó nói ta thấy quan niệm về chữ trinh tiết có
sự khác nhau ở các nhóm tuổi và thời kì đương đại so với thời điểm nghiên cứu
2003 – 2007. Như vậy qua các đề tài nghiên cứu ta thấy được thực trạng về
quan hệ tình dục trước hôn nhân, về quan niệm trinh tiết với vấn đề tình dục
trước hôn nhân có sự khác biệt rất lớn giữa nhóm thanh niên nam và thanh niên
nữ: nam thanh niên có quan hệ thoáng hơn về tình dục trước hôn nhân hơn nữ,
những thanh niên sống trong mội trường xã hội mở hơn thường tiếp xúc với
internet thì có quan niệm về tình dục trước hôn nhân thoáng hơn. Từ những
nghiên cứu cho chúng ta thấy về các đặc điểm về môi trường sống có ảnh
hưởng đến thái độ và hành vi tình dục trước hôn nhân. Cũng đề cập đến tình
dục trước hôn nhân nhưng một số đề tài đã cho thấy nguyên nhân dẫn đến tình
trạng tình dục trước hôn nhân hay còn gọi sống thử. Trong “Thực trạng sống
thử của thanh thiếu niên ngày nay” tác giả đã chỉ ra 3 nguyên nhân dẫn đến
sống thử là do bản thân, do gia đình và do xã hội. Đối tượng sống thử chủ yếu
là sinh viên trên tinh thần góp gạo thổi cơm chung. Trong đề tài “Quan hệ tình
dục trước hôn nhân - một góc nhìn” tác giả cho thấy về nguyên nhân dẫn đến
17
tình dục trước hôn nhân là tình yêu, kinh tế, hay thỏa mãn nhu cầu tình dục.
Ngoài ra tác giả đi sâu hơn khi đề cập đến nguyên nhân sâu xa là sự ảnh hưởng
của văn hóa phương tây qua các phương tiện truyền thông đại chúng, sách báo
và sự thoát ly khỏi gia đình. “Hiện tượng chung sống trước hôn nhân của giới
trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với độ ổn định của gia đình
trẻ”. Đề tài cung cấp nghiên cứu những nguyên nhân chính dẫn đến việc sống
chung trước hôn nhân, tác giả phân tích hai nguyên nhân là do vấn đề kinh tế và
tâm lý. Trong đó chỉ ra rõ việc thiếu thốn tình cảm do sống xa gia đình. Như

hôn nhân cho chúng ta thấy rõ về sự biến đổi đang xảy ra trong xã hội và những
yếu tố này dường như có một mối liên hệ đối với vấn đề tình dục trước hôn
nhân khi hầu hết các đề tài đều chỉ ra rằng quan niệm về tình dục trươc hôn
nhân có sự khác nhau giữa các nhóm đối tượng trong các môi trường sống khác
nhau. Có khá nhiều đề tài nghiên cứu về tình dục và tình dục trước hôn nhân
trong thanh niên. Tuy nhiên nghiên cứu về biến đổi xã hội và xu hướng tình
dục trước hôn nhân trong sinh viên thì chưa có đề tài nào nghiên cứu. Có một
số đề tài có tập trung nghiên cứu riêng đối với sinh viên nhưng lại không làm rõ
được các yếu tố của sự biến đổi xã hội có ảnh hưởng đến quan niệm tình dục
trước hôn nhân của nhóm đối tượng này – nhóm đối tượng được xem là năng
động và chịu nhiều ảnh hưởng từ phía xã hội.
Từ việc tổng quan một số bài viết, bài nghiên cứu đã cung cấp nguồn thông tin
đáng tin cậy và có giá trị cho chúng tôi thực hiện đề tài: “Biến đổi xã hội và
tình dục trước hôn nhân trong sinh viên thành phố Hồ Chí Minh”. Như vậy,
tổng quan các đề tài nghiên cứu về tình dục đã cho thấy sự biến động của xã
hội qua các thời kỳ, các giai đoạn lịch sử khác nhau về các lĩnh vực kinh tế văn
hóa chính trị, xã hội đã tạo ra sự khác biệt trong nhận thức và hành vi tình dục
19
của tầng lớp thanh niên cũng như là sinh viên Việt Nam. Các đề tài chỉ tập
trung xoay quanh vấn đề tình dục trước hôn nhân nhưng chưa làm rõ được sự
ảnh hưởng của biến đổi xã hội đến vấn đề tình dục trước hôn nhân. Đến nay
chưa có công trình khoa học độc lập nào nghiên cứu về tác động của sự biến
đổi xã hội đến vấn đề tình dục trước hôn nhân của sinh viên đặc biệt là những
sinh viên ở TP Hồ Chí Minh – thành phố tập trung đông đảo sinh viên của cả
nước và là trung tâm kinh tế của Việt Nam. Do đó chúng tôi chọn đề tài “Biến
đổi xã hội và xu hướng tình dục trước hôn nhân của sinh viên Thành Phố Hồ
Chí Minh” để nghiên cứu.Và trong nghiên cứu về “Biến đổi xã hội và xu hướng
tình dục trước hôn nhân của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” chúng
tôi sử dụng thuyết kiến tạo xã hội làm cơ sở lý thuyết vì chúng tôi nhận thấy
rằng nhận thức, thái độ và hành vi tình dục của con người, kể cả ước muốn

Trung Quốc.
Sự phát triển của Việt Nam có thể chia thành các thời kỳ thay đổi căn bản về chính trị
xã hội như sau:
• 1945-1975 đây là thời kỳ chiến tranh chống pháp và chống mỹ. Cũng trong thời kỳ
này chủ nghĩa xã hội được xây dựng ở miền bắc
• 1975- 1990 còn gọi là thời kỳ quá độ, bắt đầu với khủng hoảng kinh tế trầm trọng.
Chính sách đổi mới được thực hiện từ đại hội đảng lần thứ năm vào tháng 12 năm
1986
• 1990- hiện nay đây là thời kỳ đổi mới đặc trưng bởi sự cởi mở về chính trị và sự
phát triển của nền kinh tế thị trường
[ Khuất Thu Hồng- Lê Bạch Dương, Tình Dục Chuyện Dễ Đùa Khó Nói].
Hiện nay Việt Nam đang có những bước tiến vượt bậc trong nhiều lĩnh vực đặc biệt
là kinh tế. Với việc gia nhập các tổ chức quốc tế Việt nam đang ngày càng hội nhập sâu
rộng vào quốc tế và có những tiến bộ vượt bậc trong nhiều lĩnh vực. Trong mười năm gần
đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng khá nhanh và tương đối ổn định. Tốc độ tăng GDP
bình quân hàng năm đạt 7,85% trong giai đoạn 2000 - 2008. Quy mô của nền kinh tế và
21
năng lực sản xuất các ngành đều tăng. GDP tính theo giá so sánh năm 2010 gấp hơn 2 lần
so với năm 2000. GDP theo giá thực tế tính bằng đô la Mỹ ước đạt 101,6 tỷ đô la Mỹ,
gấp hơn 3,2 lần năm 2000. GDP bình quân đầu người đạt trên 1200 đô la Mỹ trong năm
2011 (theo giá danh nghĩa), tăng gấp 3 lần so với năm 2000 (H.nh 3). Việt Nam đã từ vị
trí nhóm nước nghèo bước sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình.
[Báo cáo quốc gia tại Hội nghị cấp cao của Liên Hợp Quốc về Phát triển bền
vững (RIO+20). 2012]
Sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với gần 200 quốc gia,
vùng lãnh thổ; đã ký hơn 90 hiệp định kinh tế về thương mại song phương và trên 84
quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Gia nhập ASEAN vào năm 1995,
Việt Nam đ. thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hóa thương mại trong khuôn khổ Khu
vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA); trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) vào năm 2007 và tham gia tích cực vào Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu

cao đẳng tại thành phố hồ chí minh trong đó có tới 40% sinh viên ở các tỉnh thành khác
đang theo học. điều này cho thấy có rất nhiều các sinh viên ở các tỉnh thành khác đến
theo học.vì thế vấn đề về đời sống xã hội văn hoá cần được quan tâm hơn nữa, nhất là
về đời sống cá nhân để làm sao đào tạo họ trở thành những nhân tài phục vụ quê hương
đất nước.
3.3. Bối cảnh xã hội về internet
Hiện nay đất nước việt nam đang bước vào thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa. Với
sự vận hành của nền kinh tế thị trường đã tạo nên nhiều thay đổi trong bộ mặt của đất
23
nước. Mức sống đang dần được nâng lên và sự bùng nổ mạnh mẽ của phương tiện truyền
thông đại chúng đặc biệt là intenet.
Tuy đến Việt Nam chưa lâu nhưng internet đã có những phát triển vô cùng mạnh mẽ.
Tháng 11/1997, Internet chính thức có mặt tại VN qua nhà cung cấp hệ thống đường trục
kết nối trong nước và quốc tế là Tổng công ty bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)
và 4 nhà cung cấp dịch vụ Internet là VNPT, FPT, SPT và NETNAM. Số người dùng
Internet tại Việt Nam tăng với số lượng đáng kể. Năm 2000 chỉ có 200 nghìn thuê bao
Internet, nhưng chỉ 8 năm sau đó, con số này đã tăng lên 20,2 triệu, chiếm tới 23,4% dân
số Việt Nam. Đến nay đã có 64/64 tỉnh thành có mạng Internet.
Hiện nay Việt Nam có thể xem là quốc gia có tốc độ phát triển internet cao của thế
giới. Theo ông James McClure, Giám đốc Quốc gia, phụ trách các thị trường mới nổi của
Google, nam và Đông Nam Á, hiện có hơn 32,5 triệu người sử dụng internet tại Việt
Nam, biến đất nước 90 triệu dân này trở thành một trong những nước có tỷ lệ dân dùng
internet phát triển nhất thế giới (số liệu từ VNPT). Theo khảo sát mới nhất của
WeAreSocial, một tổ chức có trụ sở chính ở Anh nghiên cứu độc lập về truyền thông xã
hội toàn cầu (tháng 10-2012) về tình hình phát triển Internet, truyền thông xã hội, kỹ
thuật số và điện thoại di động ở châu Á. Tổ chức này đã chọn Việt Nam là quốc gia châu
Á đầu tiên để công bố số liệu khảo sát chi tiết và đánh giá việt nam là “thị trường thú vị
nhất châu Á”. Cũng theo WeAreSocial cho biết số người dùng Internet Việt Nam là 30,8
triệu. Tỉ lệ người dùng Internet trên tổng số dân là 34% (cao hơn mức trung bình của thế
giới là 33%).

• http:/www.playfulbent.com
25

Trích đoạn Tình dục không cần tình yêu Các lý thuyết vận dụng Phương pháp nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status