Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc làm thêm của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ THU THẢO

THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp: ĐH Văn Hiến và ĐH Tôn Đức Thắng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ THU THẢO

THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp: ĐH Văn Hiến và ĐH Tôn Đức Thắng)

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Xã hội Việt Nam đã truyền đạt những kiến thức quý báu, trong suốt thời gian học
tập để em có thể vận dụng tốt vào trong quá trình nghiên cứu và trong công việc.
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo của trường Đại học Văn Hiến, Đại học Tôn Đức
Thắng và các anh, chị sinh viên đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp thông tin để
tôi hoàn thành luận văn này.
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em rất mong
nhận được đóng góp của Thầy, Cô.
Xin chân thành cảm ơn.
Học viên thực hiện

Phan Thị Thu Thảo


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
NỘI DUNG ...............................................................................................................18
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN .................................18
1.1. Một số khái niệm cơ bản .....................................................................................18
1.2. Các lý thuyết nghiên cứu .....................................................................................20
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH VIÊN HIỆN
NAY ...........................................................................................................................23
2.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu ............................................................................23
2.2. Công việc làm thêm của sinh viên hai trường .....................................................25
2.3. Số công việc và thời gian dành cho công việc làm thêm ....................................30
2.4. Ảnh hưởng của việc làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên ......................33
2.5. Những yêu cầu của xã hội đối với việc làm thêm hiện nay ................................37
2.6. Nguồn thông tin và khó khăn tìm công việc làm thêm .......................................40
2.7. Những phúc lợi từ việc làm thêm của sinh viên hai trường ................................46
Chương 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LÀM THÊM CỦA SINH
VIÊN ..........................................................................................................................51


KHXH&NV
TĐT
PV
SV
Tp. HCM
VH

Diễn giải
Đại học
Đại học – Cao đẳng
Đại học Quốc gia
Giáo dục và Đào tạo
Giám đốc
Khoa học xã hội và Nhân văn
Tôn Đức Thắng
Phỏng vấn
Sinh viên
Thành phố Hồ Chí Minh
Văn Hiến


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Công việc làm thêm theo nhóm năm học .................................................25
Bảng 2.2: Công việc làm thêm theo ngành học ........................................................27
Bảng 2.3: Số ngày làm thêm/tuần của sinh viên hai trường ..................................... 32
Bảng 2.4: Kết quả học tập khi sinh viên đang đi làm thêm ......................................34
Bảng 2.5: Nguồn tìm thông tin công viêc làm thêm ................................................. 40
Bảng 2.6: Khó khăn khi tìm công việc làm thêm theo nhóm năm học .....................42
Bảng 2.7: Kỹ năng đối với công việc làm thêm theo nhóm năm học .......................45

Biểu đồ 3.5: Tích lũy từ công việc làm thêm của sinh viên hai trường .................. 64
Biểu đồ 3.6: Quan điểm của gia đình khi sinh viên làm thêm ............................... 67


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp trong giới trẻ tăng cao đang trở thành một vấn đề nan giải trên
toàn cầu, đến nỗi Bộ trưởng Việc làm của Anh Quốc, ông Chris Graling mới đây đã
phải gọi đó là “những quả bom nổ chậm” [34]. Ở Việt Nam vấn đề việc làm cho
sinh viên cũng luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhất là các bạn trẻ vừa rời
ghế giảng đường.
Hiện nay, cả nước có khoảng 2,2 triệu sinh viên, chỉ tính riêng Thành phố Hồ
Chí Minh có 56 trường Đại học và Học viện [37]. Sinh viên đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển kinh tế, văn hóa và chính trị của cả nước. Tuy nhiên, tỷ lệ sinh
viên thất nghiệp hiện nay có thể được xem như một báo động đáng quan tâm.
Trong quý II/2016, cả nước có 1,0887 triệu người trong độ tuổi lao động bị
thất nghiệp, so với quý I/2016 tăng 16.400 người (chiếm 2,29%). Lao động có trình
độ cao đẳng chuyên nghiệp, đại học trở lên có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất, tương ứng
là 6,6% và 4% [38].
Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên, 70% sinh viên Việt
Nam cho biết lo lắng hàng đầu hiện nay là việc làm. Điều tra của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, cả nước có tới 63% SV tốt nghiệp ĐH - CĐ ra trường không có việc làm,
37% SV có việc làm nhưng đa số làm trái nghề hoặc phải qua đào tạo lại. Mới đây,
một cuộc khảo sát được Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc
trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000 người
gồm cựu SV thuộc 5 khóa khác nhau (ra trường từ năm 2006 đến 2010) của 3
trường ĐH lớn: ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP.HCM và ĐH Huế thì có đến 26,2% cử
nhân cho biết chưa tìm được việc làm, cho dù khái niệm việc làm ở đây được hiểu
rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập, không nhất thiết phải đúng với trình
độ, chuyên ngành đào tạo. Trong số này, 46,5% cho biết đã từng xin việc nhưng

ngành đang theo học, thực tập được bài học trên lớp, tích lũy những kinh nghiệm
sống hay tạo các mối quan hệ xã hội.
Điều gì đã thúc đẩy sinh viên đi làm thêm nhiều và luôn coi việc đi làm thêm
là phải song song cùng việc học? Để tìm hiểu rõ hơn về những lý do, những yếu tố
tác động đến việc làm thêm của sinh viên trường Đại học Công lập và Tư thục tại

2


Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng và các
yếu tố tác động đến việc làm thêm của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề việc làm thêm, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các
bài viết về mọi khía cạnh xoay quanh đời sống và việc làm của nhiều nhà khoa học,
chuyên gia trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu.
Qua quá trình tìm hiểu và tham khảo các nguồn tài liệu, sau đây chúng tôi
xin trình bày một số công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan đến chủ đề lao
động; việc làm và việc làm thêm của sinh viên. Cụ thể:
2.1. Thị trường lao động
Lao động - việc làm đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội ở nước ta. Đinh Đăng Định (2004) đã đề cập đến những vấn đề lý luận và
thực tiễn của lao động hiện nay bằng cách nêu ra tầm quan trọng của lao động - việc
làm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, tác động đến chất lượng nguồn lao
động và việc làm ở Việt Nam.
Tác giả đã nêu lên những chính sách về lao động - việc làm trong sự nghiệp
đổi mới và đưa ra một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề lao động và việc làm ở một
số quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã đưa ra những phương
hướng và giải pháp căn bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động và giải quyết
việc làm ở nước ta hiện nay.
Việt Nam có quy mô nguồn lao động lớn và tốc độ gia tăng cao, tuy nhiên cơ

năng lực; định hướng không rõ ràng; thiếu kỹ năng cơ bản; đào tạo chưa gắn với nhu
cầu xã hội. Trong đó, thiếu kỹ năng cơ bản là điều rất quan trọng vì theo đánh giá của
nhiều các nhà tuyển dụng thì đa số sinh viên mới tốt nghiệp thiếu những kỹ năng thực
hành cơ bản như: Kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng xin việc, kỹ năng ngoại ngữ, vi tính v.v. Bà Nguyễn Thị Thu Giao,
Giám đốc nhân sự Công ty Interfloor Việt Nam nhận xét: “Kỹ năng của sinh viên mới
ra trường là chưa hình thành nếu không muốn nói là không có. Trên 80% sinh viên
mới ra trường có kiến thức nhưng quá yếu kỹ năng xử lý những tình huống và điều đó
làm “mất điểm” ngay từ đầu tiếp xúc với các nhà tuyển dụng” [29].
Cũng theo bài viết: Cử nhân, thạc sĩ “đua nhau” thất nghiệp trên Việt Báo
đã thống kê số lượng thanh niên thất nghiệp hiện nay. Theo bản tin cập nhật thị

4


trường số 9 do Bộ Lao động thương binh và Xã hội công bố, trong quý 1/2016, cả
nước có 1.072,3 nghìn người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tăng 20,7 nghìn
người so với quý 4/2015 và giảm 87,5 nghìn người so với cùng kỳ năm 2015. Tỷ lệ
thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,25%, tăng lên so với quý 4/2015 nhưng giảm
nhẹ so với cùng kỳ năm 2015. Nhóm thanh niên (15-24 tuổi) có 540,7 nghìn người
thất nghiệp, giảm 18,7 nghìn người so với quý 4/2015 nhưng vẫn chiếm đến 50,4%
tổng số người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên là 6,63%, thấp hơn so với
quý 4/2015 và cùng kỳ năm 2015. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên
thành thị, thanh niên từ 20-24 tuổi có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp và trình độ
đại học trở lên vẫn rất đáng lo ngại tương ứng là 10,2%, 16,3% và 19,6%). Trong số
những người bị thất nghiệp, có 441,1 nghìn người có chuyên môn kỹ thuật (chiếm
41,1% tổng số người thất nghiệp), tăng 23,7 nghìn người so với quý 4/2015. Người
có chuyên môn kỹ thuật bị thất nghiệp chia theo cấp trình độ bao gồm: 190,9 nghìn
người có trình độ đại học trở lên; 118,9 nghìn người trình độ cao đẳng chuyên
nghiệp; 10 nghìn người trình độ cao đẳng nghề; 60,2 nghìn người trình độ trung cấp

Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: “Theo tôi điều đầu tiên phải nói là thiếu. Khi tôi
ra nước ngoài tiếp xúc và có dịp so sánh, tôi nhận thấy thanh niên Việt Nam rất hồn
hậu và tự nhiên chủ nghĩa. Các bạn sinh viên ở trường đại học của chúng tôi và
những trường đại học mà tôi được biết, còn non nớt và thiếu tự tin hơn rất nhiều so
với những bạn bè cũng trang lứa ở Malaysia, ở Indonesia, Singapore, thậm chí ở
Lào và Campuchia. Tôi nghĩ rằng cái tự nhiên chủ nghĩa đã khiến cho tâm thế của
người thanh niên Việt Nam bị thấp đi”. Cũng theo anh Trần Quang Đạo, Giám đốc
Công ty luật Asem nói: “Các bạn sinh viên khi đến phỏng vấn xin việc thường tự tin
về kiến thức trong sách vở nhưng khi được yêu cầu làm công việc bổ trợ khác như
là tư vấn hay giao tiếp với khách hàng thì lại rất kém. Thông thường chúng tôi phải
chấp nhận đào tạo các bạn lại từ đầu. Sẽ khả quan hơn nếu các bạn biết rèn luyện
những kỹ năng cần thiết cho công việc và trước đó đã làm quen với các công ty thì
đến bây giờ sẽ thích nghi nhanh hơn”.
Qua đó, nếu như sinh viên sớm tự định hướng cho mình những việc cần làm,
có ý thức làm dày thêm kinh nghiệm và vốn sống, rèn luyện kỹ năng phục vụ công
việc thì sau khi ra trường sẽ dễ dàng tìm kiếm một công việc thích hợp và có nhiều
lựa chọn hơn [35].

6


Các nghiên cứu và bài viết tổng quan nêu lên lý do tại sao sinh viên thất
nghiệp đều cho thấy rằng hầu hết thất nghiệp là chủ yếu do sinh viên thiếu kỹ năng
mềm và ý thức tích lũy các kinh nghiệm liên quan đến công việc đang khi còn ngồi
trên ghế giảng đường.
Những công trình kể trên nghiên cứu rất nhiều khía cạnh khác nhau liên quan
đến lao động và việc làm gồm: thực trạng lao động và việc làm, nâng cao chất
lượng nguồn lao động, tầm quan trọng và nguồn lực lao động với sự phát triển công
nghiệp hóa - hiện đại hóa và tình trạng thất nghiệp của sinh viên hiện nay. Tuy
nhiên, nghiên cứu về việc làm thêm của sinh viên và những yếu tố tác động đến việc

thu nhập, nhưng điều quan ngại là thời gian không phù hợp với lịch đang học. Kết
quả điều tra khẳng định, chính sự eo hẹp về thời gian làm cho sinh viên khó tiếp cận
với công việc lương cao, đúng chuyên môn. Đồng thời, công việc được ưa chuộng
nhất là dạy kèm cho học sinh các khối lớp chiếm 41,5% vì dễ tìm kiếm, tốn ít thời
gian, chi phí và công sức bỏ ra không nhiều; kế tiếp là việc tiếp thị sản phẩm cho các
doanh nghiệp chiếm 22%; còn lại là những công việc như phụ bán cà phê, tiếp tân
nhà hàng, phát tờ rơi chiếm một tỷ lệ không đáng kể trong tổng mẫu nghiên cứu [41].
Nhìn chung, công trình nghiên cứu này chỉ đề cập tới quan điểm về vấn đề làm
thêm và nhóm công việc làm thêm trong xã hội hiện nay đang được sinh viên quan tâm,
nhưng vẫn chưa đề cập đến những khó khăn thuận lợi, ảnh hưởng của việc làm thêm tới
việc học cũng như những tiêu chí thị trường lao động yêu cầu đối với sinh viên.
Bài viết “Sinh viên và việc làm thêm” trên Blog First – việc làm, đã nêu lên
mục đích của sinh viên làm thêm để phụ giúp gia đình trang trải việc học, một phần
là để làm quen với môi trường mới, tích lũy kinh nghiệm. Một số công việc làm
thêm mà sinh viên thường lựa chọn: Gia sư, nhân viên phục vụ, cộng tác viên
nghiên cứu thị trường, phát tờ rơi. Ngoài ra, bài viết cũng đề cập đến vấn đề “làm
thêm – con dao hai lưỡi”. Xét về mặt tích cực, làm thêm sẽ giúp sinh viên có thêm
khoản thu nhập, giúp gia tăng các mối quan hệ xã hội, rèn luyện tính tự lập, trưởng
thành hơn. Ở mặt tiêu cực, việc làm thêm ảnh hưởng phần nào đến việc học của
sinh viên, ảnh hưởng đến giờ giấc sinh hoạt và sức khỏe [36].
Bài viết: “Chuyện học và chuyện làm của sinh viên” của TS. Vũ Thế Dũng
cho rằng vấn đề làm việc trong thời gian còn ngồi trên ghế nhà trường không chỉ là
vấn đề của sinh viên mà còn là những câu hỏi đối với các nhà giáo và những nhà
quản lý giáo dục hiện nay.

8


Nhu cầu có việc làm trong thời gian đi học là một nhu cầu rất chính đáng của
sinh viên nhằm cải thiện thu nhập, phục vụ cho việc học và sinh hoạt hàng ngày. Đi


mà còn đem lại một điều quan trọng hơn, đó là những kinh nghiệm thực từ cuộc
sống, những trải nghiệm rất sâu sắc của cuộc sống và mọi người xung quanh. Bên
cạnh đó, những công việc này cũng giúp hoàn thiện thêm nhiều kỹ năng như: khả
năng giao tiếp, tính tự lập, tính kiên nhẫn, cần cù, đồng thời hiểu được giá trị của
những đồng tiền và sức lao động [39].
Cũng đồng quan điểm là sinh viên nên đi làm thêm, bài viết: “Bốn việc nên
làm khi là sinh viên” của tác giả Trần Quốc Hưng trên báo VNExpress đã nêu lên
những việc mà sinh viên nên làm như: Ở trọ; Tham gia mùa hè xanh ít nhất một lần;
Đi làm thêm và yếu tố nên đi làm thêm được xem là quan trọng nhất. Tác giả cho
rằng: “Làm thêm trong thời sinh viên không chỉ giúp bạn có thêm thu nhập mà còn
giúp bạn chuẩn bị hành trang cho cuộc sống khi ra trường. Đó là những kỹ năng về
giao tiếp, ứng xử, sự va chạm trong công việc giúp cho bạn trưởng thành hơn và tự
tin hơn. Công việc làm thêm dành cho sinh viên rất nhiều, nhưng tôi khuyên bạn
nên cố gắng tìm công việc nào tiệm cận với ngành học của mình càng nhiều càng
tốt, để vừa làm vừa tích luỹ kinh nghiệm cho mình khi ra trường”. Bài viết này đã
nêu lên yếu tố làm thêm không những có thêm thu nhập mà còn tích lũy được nhiều
kinh nghiệm sau khi ra trường [33].
Những công trình và bài viết trên đã cho thấy được một bức tranh khá tổng
quát về vấn đề việc làm và đi làm thêm của sinh viên nói chung và sinh viên Thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng, một trong những thành phố thu hút nguồn lực lao động
trẻ chiếm tỷ lệ cao nhất so với các vùng trên cả nước.
Như vậy, xoay quanh vấn đề làm thêm, hầu hết các bài viết đều nhấn mạnh
tới nhu cầu tìm kiếm việc làm thêm của sinh viên vì nhiều mục đích khác nhau.
Nhiều người tìm kiếm công việc làm thêm không vì yếu tố kinh tế mà còn nhiều lý
do khác như: tiếp cận với thực tế, trải nghiệm cuộc sống, để làm quen với môi
trường làm việc, mở rộng mối quan hệ xã hội.
2.4. Đánh giá chung
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu về sự phân công lao động, việc làm
và việc làm thêm của sinh viên có thể nhận thấy Thành phố Hồ Chí Minh là nơi thu

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết những
nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

11


- Tìm hiểu đặc điểm của công việc làm thêm mà sinh viên đang làm.
- Những yếu tố tác động đến việc làm thêm của sinh viên.
- Ảnh hưởng của việc làm thêm đến việc học tập của sinh viên.
- Quan niệm về việc làm thêm của sinh viên đang đi làm thêm.
- Những yếu tố giống và khác nhau trong việc lựa chọn công việc làm thêm
của sinh viên trường công lập và trường tư thục.
- Thực trạng và các yếu tố chọn công việc làm thêm khác nhau như thế nào
giữa các nhóm năm học và nhóm ngành học của sinh viên hai trường.
- Tiêu chí chọn công việc làm thêm của sinh viên.
- Những thuận lợi và khó khăn mà sinh viên khi tìm kiếm những công việc
làm thêm.
- Những mong đợi của sinh viên khi tìm một công việc làm thêm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc làm thêm của sinh viên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố tác động đến việc
sinh viên làm thêm của trường Đại học Công lập và Tư thục.
Nghiên cứu được thực hiện tại hai trường Đại học Tôn Đức Thắng và Đại
học Văn Hiến.
Thời gian tiến hành nghiên cứu: Luận văn tiến hành nghiên cứu đối với các
sinh viên của hai trường đang đi làm thêm.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng qua
việc thu thập, xử lý và phân tích các thông tin định lượng, đề tài mô tả các yếu tố
tác động đến việc đi làm thêm của sinh viên hiện nay. Bản câu hỏi là công cụ
nghiên cứu chính trong việc thu thập các thông số, chỉ báo, mức độ, tần suất các vấn
đề nghiên cứu của đề tài. Đề tài thực hiện việc thu thập thông tin trực tiếp đối với
240 sinh viên, bao gồm sinh viên của hai trường Đại học Văn Hiến và Đại học Tôn
Đức Thắng đang học từ năm nhất đến năm thứ tư. Sau khi thu thập thông tin sẽ
được xử lý qua chương trình SPSS.

13


Bản câu hỏi được thiết kế gồm 32 câu hỏi được chia làm 5 phần
Phần I: Thu thập thông tin cá nhân.
Phần II: Thu thập thông tin về việc làm thêm.
Phần III: Thu thập thông tin về việc thu nhập và chi tiêu từ việc làm thêm.
Phần IV: Thu thập thông tin về tác động từ việc làm thêm đến việc học.
Phần V: Thu thập thông tin về thuận lợi, khó khăn khi sinh viên đi làm thêm.
Những nội dung trên nhằm tìm hiểu sâu về những tác động của việc làm thêm
ảnh hưởng đến việc học như thế nào? Các yếu tố tác động đến việc đi làm thêm, chọn
công việc làm và xu hướng tìm công việc làm thêm vì mục đích chính yếu nào?
Chọn mẫu định lượng
Đặc điểm của khách thể nghiên cứu là sinh viên trường Đại học Văn Hiến và
Đại học Tôn Đức Thắng. Khách thể nghiên cứu của đề tài là những sinh viên đang
học tại hai trường này. Để thuận lợi cho việc thu thập thông tin, chúng tôi chọn mẫu
theo cách thuận tiện vì không có danh sách đầy đủ những sinh viên đang đi làm
thêm để chọn mẫu xác suất, nhưng vẫn có những tiêu chí riêng nhằm đảm bảo các
yếu tố đã đề ra ở mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Bản hỏi thu thập thông tin hỏi
những sinh viên đang đi làm thêm, phân theo năm theo học tại các trường. 240 mẫu
được chia đều cho 2 trường và chia đều cho các năm sinh viên đang theo học từ

30
30
30
30
30
30
30
240


5.3.2. Phương pháp nghiên cứu định tính
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn
sâu kết hợp song song với bản hỏi định lượng. Nội dung phỏng vấn sâu nhằm giải
thích và mô tả rõ hơn những nội dung mà bản hỏi cấu trúc không thể mang lại, đồng
thời giải thích có chiều sâu cho những con số trong bản hỏi.
- Chọn mẫu định tính
Chúng tôi tiến hành 22 phỏng vấn sâu. Trong đó gồm 20 sinh viên (10 sinh
viên Đại học Văn Hiến; 10 sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng), 02 cán bộ quản lý
của doanh nghiệp có sinh viên đang làm thêm để làm rõ hơn các thông tin định
lượng đồng thời cũng để làm phong phú hơn kết quả nghiên cứu.
5.3.3. Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có
Chúng tôi tập hợp và phân tích tài liệu như sách, các số liệu thống kê, các
báo cáo, các công trình nghiên cứu có liên quan đến việc làm, đời sống và việc làm
thêm của sinh viên. Đồng thời tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu thống kê về số
lượng sinh viên tham gia làm thêm của hai trường ĐH Văn Hiến và ĐH Tôn Đức
Thắng. Qua đó, đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu việc làm thêm
của sinh viên. Việc tổng quan tài liệu nghiên cứu sẽ giúp người đọc hình dung về
tình hình nghiên cứu vấn đề này trên cả nước nói chung và ở hai trường Đại học
Văn Hiến và Tôn Đức Thắng nói riêng hiện nay.
5.3.4. Phương pháp quan sát


Lý do
chọn
công
việc làm
thêm

Tính chất
công việc
làm thêm

Mức độ
quan tâm
đến việc
làm thêm

Sự lựa
chọn
công việc
làm thêm

Tác động
từ việc
làm thêm
đến việc
học

Nguồn
tìm kiếm
thông tin

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp
luận và phương pháp nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Giả thuyết nghiên cứu;
Khung phân tích; Ý nghĩa lý luận và thực tiễn và cuối cùng là cơ cấu luận văn.
Phần nội dung: Chia làm ba chương
- Chương thứ nhất: Trình bày cơ sở lý luận và phương pháp luân nghiên cứu,
trong đó bao gồm các vấn đề về phương pháp luận, các khái niệm, các lý thuyết áp
dụng của đề tài.
- Chương thứ hai: Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu; Thực trạng việc
làm thêm, trong đó bao gồm các nội dung: Công việc làm thêm của sinh viên hai
trường; Số công việc làm và thời gian dành cho công việc làm thêm; Ảnh hưởng
của việc làm thêm đến kết quả học tập của sinh viên; Những yêu cầu của xã hội đối
với việc làm thêm hiện nay; Nguồn thông tin và khó khăn tìm công việc làm thêm;
Những phúc lợi từ việc làm thêm của sinh viên hai trường.
- Chương thứ ba: Trình bày các yếu tố tác động đến công việc làm thêm,
trong đó bao gồm các nội dung: Yêu cầu của xã hội đối với năng lực thực hành của
sinh viên; Điều kiện kinh tế của gia đình sinh viên; Ý thức của sinh viên về vai trò
của việc làm thêm; Các tiêu chó chọn công việc làm thêm; Quan điểm của gia đình
về công việc làm thêm; Những mong đợi và giải pháp từ công việc làm thêm.
Phần kết luận và khuyến nghị.

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status