Tín dụng và rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại - Pdf 74

Tín dụng và rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng thơng mại
I. Ngân hàng và tín dụng Ngân hàng:
1. Khái quát về ngân hàng th ơng mại:
1.1. Khái niệm Ngân hàng thơng mại:
Khi nghiên cứu về Ngân hàng thơng mại , các nhà kinh tế học đa ra rất
nhiều những quan niệm khác nhau về NHTM. Ngời thì cho rằng" NHTM là tổ
chức tài chính nhận tiền gửi và cho vay tiền ". Ngời khác lại nhận định: " NHTM
là trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của Chính phủ để cho vay tiền và
mở tài khoản tiền gửi, kể cả các khoản tiền gửi có thể dùng séc...". Sở dĩ có tình
trạng này là do hoạt động NHTM rất đa dạng , các thao tác trong từng nghiệp vụ
Ngân hàng lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của
nền kinh tế . Mặt khác , do tập quán , luật pháp của mỗi quốc gia , mỗi vùng khác
nhau đã dẫn đến những quan niệm về NHTM không đồng nhất giữa các nớc trên
thế giới .
Theo pháp lệnh:" Ngân hàng , hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính" ban
hành ngày 24/5/1990:" NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ
yếu và thờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phơng tiện
thanh toán".
Nh vậy , NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ thông
qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn để cho vay, đầu t và thực hiện các
nghiệp vụ tài chính khác.
1.2. Các chức năng nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thơng mại:
- Chức năng huy động vốn : Đây là chức năng cơ bản đầu tiên của NHTM.
Nó quyết định quy mô cũng nh hiệu quả các hoạt động khác của NHTM. NHTM
có thể huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền gửi của các cá
nhân , các tổ chức kinh tế qua các hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì
hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngoài ra, khi cần thêm vốn, NHTM
có thể huy động vốn qua các biện pháp chủ động nh phát hành kì phiếu ngân
hàng, phát hành các chứng chỉ tiền gửi hay vay vốn của NHNN hoặc các tổ chức

hoạt động nghiệp vụ. Hoạt động tín dụng và đầu t đem lại nguồn thu nhập cho
NHTM. Còn các hoạt động dịch vụ thu hút thêm khách hàng, tạo điều kiện cho
việc mở rộng hoạt động huy động tiền gửi và kinh doanh của NHTM.
2. Tín dụng Ngân hàng:
2.1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng:
Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên
chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định,
đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả theo điều kiện đã thoả thuận.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các tổ chức
kinh tế và cá nhân thể hiện dới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, cho khách
hàng vay, tài trợ thuê mua, bảo hành hay chiết khấu....
Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng của NHTM thì hoạt động cho vay là
hoạt động phức tạp nhất. Trong bài viết này tôi chỉ xin đợc đề cập đến khía cạnh
cho vay của hoạt động tín dụng Ngân hàng.
2.2. Vai trò của tín dụng đối với hoạt động của NHTM:
Thứ nhất, tín dụng Ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các
doanh nghiệp, không chỉ đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà
nớc mà còn tác động đến cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Tín dụng thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển
của đất nớc.
Tín dụng Ngân hàng tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, lu thông hàng
hoá, ngay cả những hoạt động dịch vụ cũng không thể tách ly sự hỗ trợ của tín
dụng ngân hàng.
Với các nghành sản xuất, chế biến, khai thác... để đảm bảo sản xuất ổn
định cần thiết phải có vốn để dự trữ nguyên nhiên vật liệu, thành phẩm bù đắp các
chi phí sản xuất... Đồng thời để không ngừng nâng cao năng xuất lao động, chất l-
ợng sản phẩm, tìm kiếm lợi thế trong cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải th-
ờng xuyên cải tiến máy móc, thiết bị , đổi mới công nghệ đặc biệt trong thời đại
khoa học kỹ thuật phát triển nh vũ bão hiện nay. Tất cả những công việc đó sẽ
không thể thực hiện đợc nếu thiếu sự hỗ trợ của ngân hàng thông qua hoạt động

Muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu ngời, giải quyết việc làm không thể
chỉ dựa vào quỹ ngân sách nhà nớc hoặc trông chờ vào các khoản vay nớc ngoài.
Tín dụng ngân hàng thực sự giữ vai trò quan trọng trong việc đầu t cho các dự án
có ý nghĩa kinh tế và xã hội để giải quyết những việc nh vậy.
Thứ t, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn sản xuất
mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nớc và quốc
tế. Các doanh nghiệp, các công ty làm ăn có hiệu quả và uy tín đợc ngân hàng tập
trung đầu t vốn tạo đà mở rộng quy mô sản xuất và thị trờng tiêu thụ. Tín dụng
ngân hàng sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình tập trung và tích luỹ vốn, tạo cho
các doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tập đoàn kinh tế nớc
ngoài đa nền kinh tế nớc ta hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.
Thứ năm, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nớc có thể kiểm
soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện pháp
chính sách quản lý kinh tế và pháp lý phù hợp. Nhà nớc có thể điều chỉnh cơ cấu
kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các chính sách về tín
dụng nh là các chính sách u đãi về lãi suất và các điều kiện cho vay khác cho các
doanh nghiệp đầu t sản xuất theo mục tiêu định hớng phát triển kinh tế của Nhà n-
ớc.
Phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng để đạt mục tiêu phát triển là một
nhiệm vụ đầy khó khăn thử thách. Song song với việc này là phải đảm bảo an toàn
tín dụng và đó là mục tiêu lớn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM nói
chung và của Chi nhánh NHCT Thanh Xuân nói riêng.
2. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thơng mại :
2.1. Khái niệm rủi ro:
Rất có nhiều cách quan niệm khác nhau về rủi ro tuỳ thuộc vào chủ thể và
hoạt động của chủ thể đó trong mối quan hệ với các yếu tố khác của môi trờng.
Tuy nhiên , các quan niệm đó đều thống nhất một nội dung coi rủi ro là sự bất trắc
không mong đợi , gây ra thiệt hại và có thể đo lờng đợc .
Nh vậy , trong hoạt động kinh tế nói chung và trong hoạt động Ngân hàng
nói riêng thì vấn đề rủi ro là không thể tránh khỏi. Vì thế , các nhà quản trị không

phí của ngân hàng phải bỏ ra cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân
hàng. Khi lạm phát cao thì thờng có lợi cho ngời vay vốn và bất lợi cho ngời cho
vay.
+ Do cơ cấu tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng không hợp lý. Ngân
hàng dùng tài sản nợ ngắn hạn để đầu t vào tài sản có dài hạn. Nếu lãi suất ngắn
hạn tăng, chi phí ngân hàng phải bỏ ra cũng sẽ tăng lên, trong khi thu nhập ở tài
sản có dài hạn vẫn giữ nguyên, nh vậy thu nhập của ngân hàng không đủ bù đắp
chi phí kinh doanh, dẫn đến ăn mòn vào vốn.
+ Ngoài ra, rủi ro lãi suất cũng có thể xảy ra do trình độ thấp kém bị thua
thiệt trong việc cạnh tranh lãi suất trên thị trờng. Hoặc do yếu tố của nền kinh tế
tác động đến lãi suất nh cung, cầu, yếu tố thị trờng... Khi Nhà nớc có quyết định
điều chỉnh lãi suất theo hớng giảm xuống, trong khi tiền gửi có kỳ hạn cha đến
hạn trả. Nh vậy, lãi suất cho vay bị giảm thấp, nhng phần trả lãi cho những khoản
tiền gửi có kỳ hạn lại không giảm tơng ứng dẫn đến rủi ro lãi suất.
2.3. Rủi ro nguồn vốn:
2.3.1. Rủi ro do thừa vốn:
Nh ta biết, nguồn vốn hoạt động chủ yếu của NHTM là nguồn vốn huy
động. Để huy động đợc vốn Ngân hàng phải trả lãi cho ngời gửi tiền. Nếu số vốn
này bị ứ đọng, không thể cho vay hoặc đầu t vào các loại tài sản có thể sinh lời
trong khi ngân hàng vẫn phải trả lãi cho số vốn đã huy động thì có nghĩa là các
thiệt hại của ngân hàng đang diễn ra. Nếu quá trình này kéo dài ở mức độ lớn có
thể dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh. Giải quyết vấn đề này, NHTM cần phải tăng
cờng công tác kế hoạch hoá, đảm bảo cân đối giữa vốn huy động và vốn cho vay.
2.3.2. Rủi ro do thiếu vốn:
Loại rủi ro này xảy ra khi Ngân hàng không đáp ứng đợc các nhu cầu cho
vay và đầu t, thậm chí không đủ vốn để thanh toán cho ngời gửi tiền khi đến hạn.
Rủi ro này xuất phát từ chức năng chuyển hoán các kỳ hạn sử dụng vốn và nguồn
vốn của ngân hàng, thông thờng các kỳ hạn sử dụng vốn dài hơn kỳ hạn các
nguồn vốn, hoặc do mất lòng tin mà các hàng loạt khách hàng đến rút tiền, khiến
cho ngân hàng không có đủ tiền để chi trả cùng một lúc. Trong bối cảnh đó, ngân

giảm.
Rủi ro thanh toán nảy sinh do những nguyên nhân sau:
+ Do mất cân bằng giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, nguồn vốn d thừa quá
lớn, trong khi đó thị trờng đầu ra hạn hẹp nên một số ngân hàng đã dùng vốn huy
động ngắn hạn để cho vay trung dài hạn quá mức, dẫn đến thiếu hụt khả năng
thanh toán cuối cùng.
+ Đến hạn các khoản cho vay khó thu hồi đợc, uy tín của ngân hàng giảm
sút, ngời gửi tiền và ngời đi vay thờng phản ứng trớc những khó khăn của ngân
hàng bằng cách rút hết hạn mức tín dụng để đảm bảo có tiền cho những nh cầu về
sau hoặc rút hết số d tiền gửi vì sợ có thể không rút đợc. Tất cả những khía cạnh
trên đều dẫn đến những rủi ro trong thanh toán của ngân hàng.
+ Loại rủi ro này còn có thể phát sinh trong quá trình thanh toán của ngân
hàng, có thể do ngân hàng bị lợi dụng trong thanh toán điện tử, thanh toán séc
chấp nhận thanh toán các chứng từ giả mạo hoặc do nhầm lẫn, sai sót trong hoạt
động nghiệp vụ... dẫn đến sự thiệt hại của ngân hàng.
2.6. Rủi ro thuần tuý:
Đây là loại rủi ro khách quan do thiên tai gây ra nh: lụt lội, động đất, hoả
hoạn hoặc do bị mất trộm, bị lừa đảo, tham nhũng... làm thiệt hại hay phá huỷ các
tài sản của ngân hàng. Các rủi ro này xảy ra cũng gây mất mát, thiệt hại không
nhỏ cho ngân hàng.
2.7. Rủi ro mất khả năng thanh toán;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status