Thực trạng và đánh giá thực trạng tình hình huy động
vốn và sử dụng vốn cho đầu t phát triển tại Ngân hàng
đầu t & phát triển Hà Tây:
I. Tổng quan về ngân hàng Đầu t & phát triển Hà Tây:
Ngân hàng Đầu t & phát triển Hà Tây là một trong những chi nhánh của
ngân hàng Đầu t & phát triển Việt Nam. Tiền thân của nó là phòng đầu t và phát
triển Hà Sơn Bình đợc thành lập ngày 1-6-1990. Cũng giống nh các chi nhánh
khác trực thuộc ngân hàng Đầu t & phát triển Việt Nam, toàn bộ hệ thống ngân
hàng Đầu t & phát triển bên cạnh việc kinh doanh tổng hợp nh những ngân hàng
thơng mại khác còn tham gia vào cho vay đầu t phát triển theo kế hoạch Nhà nớc
đề ra. Chính vì vậy, để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu
t và phát triển không chỉ căn cứ vào lợi nhuận mà còn phải căn cứ vào các đóng
góp của nó thông qua việc cho vay đầu t phát triển đối với kinh tế địa phơng. Kể
từ năm 1998 đến nay, ngân hàng Đầu t & phát triển Hà Tây đã cho vay trên dự án
đầu t với tổng số vốn là 389.968 triệu đồng. Hầu hết các dự án đầu t do ngân hàng
Đầu t & phát triển Hà Tây cho vay đều đã và đang đóng góp một phần không nhỏ
vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Điển hình trong những dự án phát huy
hiệu quả tốt có các dự án của công ty xi măng Tiên Sơn, công ty thực phẩm Hà
Tây, nhà máy cơ khí Sơn Tây, công ty du lịch Ao Vua...
I.1. Mô hình tổ chức của ngân hàng Đầu t & phát triển Hà Tây:
Ngân hàng Đầu t & phát triển Hà Tây có bộ máy gọn nhẹ, tinh giảm nhìn
chung đủ các phòng ban cần thiết đảm bảo thực hiện những nhiệm vụ và chức
năng của mình.
Hiện nay tổng số cán bộ công nhân viên của ngân hàng Đầu t & phát triển
Hà Tây là 85 ngời, trong đó bao gồm một chi nhánh trực thuộc và tám phòng
nghiệp vụ, hai phòng giao dịch với các bàn tiết kiệm ở thị xã Hà Đông và thị xã
Sơn Tây. Trụ sở chính của ngân hàng đóng tại 197 đờng Quang Trung - thị xã Hà
Đông - tỉnh Hà Tây. Cơ cấu tổ chức của ngân hàng Đầu t & phát triển Hà Tây nh
sau:
Ban giám đốc
Khu
Phòng
tín
dụng
1
Phòn
g
nguồn
vốn,
kho
quỹ
I.2. Những thuận lợi và khó khăn hiện nay đối với ngân hàng Đầu t & phát
triển Hà Tây:
I.2.1. Thuận lợi:
- Trung tâm giao dịch thanh toán của ngân hàng Đầu t & phát triển Hà Tây
nằm ở thị xã Hà Đông gần sát thủ đô Hà Nội - một trung tâm kinh tế, chính trị,
văn hoá của cả nớc. Đây là môi trờng rất thuận lợi cho ngân hàng hoà nhập với
nhịp điệu và cơ chế mới trong hoạt động kinh doanh của cả nớc đồng thời dễ dàng
trang bị cho mình những thiết bị công nghệ mới, học hỏi đợc nhiều kinh nghiệm
quản lý kinh doanh cũng nh tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn đến giao
dịch tại hội sở. Cũng do gần trung ơng nên ngân hàng luôn nhận đợc sự chỉ đạo
sát sao và chặt chẽ của cấp chủ quản.
- Ngân hàng Đầu t & phát triển Hà Tây là đơn vị thành viên của một ngân
hàng thơng mại quốc doanh lớn và có truyền thống lâu đời, ngân hàng có thể học
hỏi, tiếp nhận những kinh nghiệm trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là trong
lĩnh vực đầu t phát triển.
- Đội ngũ cán bộ công nhân viên của ngân hàng Đầu t & phát triển Hà Tây có
trình độ tơng đối cao, phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình với công việc... Tính đến
thời điểm 31-12-2000 trong số 85 cán bộ công nhân viên của ngân hàng thì trên
60% là có trình độ đại học.
I.2.2. Khó khăn:
khách hàng truyền thống của mình, mở rộng cho vay đối với các khách hàng
ngoài quốc doanh, đổi mới phong cách phục vụ... Mặt khác chi nhánh luôn bám
sát định hớng phát triển của ngành, thực hiện nghiêm túc các quy định, quy tắc,
nghiệp vụ của ngành và thận trọng trong ký duyệt cho vay để đề phòng rủi ro
trong cơ chế thị trờng, phục vụ tốt hơn công tác đầu t phát triển.
II. Thực trạng và đánh giá thực trạng tình hình huy động vốn
và sử dụng vốn cho đầu t phát triển của ngân hàng Đầu t & Phát
triển Hà Tây.
II.1. Thực trạng tình hình huy động vốn và sử dụng vốn nói chung của Ngân
hàng Đầu t & Phát triển Hà Tây.
Hoạt động huy động vốn và hoạt động sử dụng vốn là hai vấn đề không thể
rời nhau, sử dụng vốn là cơ sở và động lực cho công tác huy động vốn và huy
động vốn lại thúc đẩy sự mở rộng, phát triển việc sử dụng vốn. Vì vậy, ngân hàng
trong quá trình hoạt động của mình luôn cố gắng thực hiện tốt hơn công tác huy
động vốn nhằm đáp ứng cho việc sử dụng vốn.
Việc huy động vốn phải dựa trên kết quả xác định nhu cầu vốn và thực hiện
đáp ứng yêu cầu đó. Tuy nhiên trong phần sử dụng vốn thì việc sử dụng vốn sao
cho có hiệu quả và có lợi cho ngân hàng và nền kinh tế . Ví dụ việc cho vay vốn
đầu t tại ngân hàng không chỉ sử dụng nguồn vốn huy động có thời hạn dài cho
đầu t mà còn sử dụng vốn ngắn hạn, việc đó là đúng theo quy định của nhà nớc
( đợc phép lấy 20% vốn ngắn hạn cho vay đầu t .).Đây chỉ là giải pháp tình thế
nhằm tạo vốn cho nền kinh tế của nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Tóm lại huy động vốn và sử dụng vốn nh thế nào là hợp lí để vừa đảm bảo
an toàn và hiệu quả đối với ngân hàng. Bởi nếu sự cân đối dữa huy động và cho
vay không tốt sẽ có thể ảnh hởng sấu đến hoạt động của ngân hàng.
Đối với ngân hàng Đầu t & Phát triển Hà Tây để thấy rõ mối quan hệ dữa
huy động và cho vay nói chung đợc thể hiện qua bảng 1: Thực trạng huy động vốn
và sử dụng vốn của ngân hàng Đầu t & Phát triển Hà Tây .
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
sự tăng về giá trị tuyệt đối từ năm 1998 đến năm 2000 có giá trị tơng ứng là
74.879 triệu đồng, 75.608 triệu đồng và 78.456 triệu đồng. nhng ta thấy mức tăng
này cha đáng kể và tơng xứng với ngân hàng đầu t một ngân hàng có nhiệm vụ
chủ yếu là cho vay trung và dài hạn cho các dự án đầu t .Mặt khác nếu xét riêng
tốc độ tăng trởng các khoản cho vay trung và dài hạn ta thấy rằng từ năm 1998
đến năm 2000 cũng đã có sự tăng trởng nhng tỷ lệ tăng trởng không cao cụ thể tốc
độ tăng trởng của nguồn này tơng ứng là 0,9%, 3,76%.Điều đó cho thấy việc cho
vay trung và dài hạn cũng gặp nhiều khó khăn , một phần có thể về phía khách
hàng không giám vay do làm ăn không hiệu quả về phía ngân hàng có thể không
cho vay đợc vì các dự án đa ra có thể không mang tính khả thi, hay ngân hàng
không thể huy động đợc nhiều nguồn vốn này...
Xem xét mối quan hệ dữa huy động và cho vay trung và dài hạn và tài trợ
cho đầu t phát triển ta thấy trong 3 năm từ 1998 đến năm 2000 số d phần trênh
lệch này kết âm tơng ứng là( -7.266, -8.268,-22.675 triệu đồng.) . Nh vậy ta thấy
nguồn vốn trung và dài hạn và tài trợ uỷ thách đầu t của ngân hàng chua đáp ứng
đủ nhu cầu vốn cho đầu t phát triển. Mặt khác cũng nhìn vào tỷ lệ âm này ta thấy
ngân hàng đã có một sự cân đối trong cho vay ngắn hạn để lấy một phần vốn huy
động ngắn hạn để cho vay dài hạn cho đầu t phát triển, theo dúng chỉ thị 12/CT-
NH. của ngân hàng nhà nớc , đây là một giải pháp tình thế ngân hàng nhà nớc cho
phép các ngân hàng thơng mại đợc phép lấy 20% vốn huy động ngắn hạn để cho
vay trung và dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn cho nền tế trong điều kiện các ngân
hàng thơng mại đang thừa vốn ngắn hạn. Do vậy dự nợ cho vay trung và dài hạn
của ngân hàng lớn hơn mức huy trung và dài hạn và tài trợ uỷ thách đầu t.Tuy
nhiên ngân hàng sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho nay trung và dài hạn các
dự án đầu t sẽ làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Do vây nếu khai thác
đợc có hiệu quả nguồn vốn có thời gian dài hơn nữa thì ngân hàng sẽ có thể cho
vay đầu t phát triển nhiều hơn nữa. điều này ngân hàng nhận thức rõ vấn đề và cố
gắng trong việc tìm kiếm nguồn vốn có thời gian dài để cho vay đầu t phát triển.
Trong tơng lai , theo su hớng chung thì công tác huy động vốn có thời gian
dài cho đầu t phát triển xẽ đựoc chú trọng , bởi nhu cầu về nguồn vốn có thời gian
Đầu t & Phát triển Hà Tây :
Đơn vị: triệu đồng
Năm 1998 1999 2000
Chỉ tiêu Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng
1. Vay ngân hàng ĐT&
PT Việt nam.
38.222 32% 35.471 36% 36.213 39%
2. Kì phiếu Trái phiếu.
(> 12 tháng)
12.422 12% 14.689 15% 14.892 16%
3. Nhận tài trợ uỷ thác
đầu t.
38.862 36% 36.350 37% 33.271 36%
4. Tiền gửi TCKT, Dân c,
(> 12 tháng)
18.369 17% 11.043 12% 7.264 9%
Tổng 107.875 100% 97.373 100% 91.69 100%
Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh ngân hàng Đầu t & Phát triển Hà Tây .
- Đối với nguồn vay từ ngân hàng đầu t và phát triển Việt Nam.
Theo bảng trên ta thấy khoản đi vay trung và dài hạn cho đầu t của ngân
hàng đầu t và phát triển TW qua các năm xét về mặt giá trị có phần tăng lên chút
ít trong các năm. Từ năm 1998- 2000 tơng ứng là 38.222(32%) triệu đồng,
35.471(36%) triệu đồng, 36.213(39%) triệu đồng, điều này cho thấy ngân hàng
đầu t phát triển Việt nam vẫn đang là một cơ quan chủ quản cung cấp một phần
vốn cho đầu t phát triển của chi nhánh. Nhng đây là nguồn có chi phí cao , ngân
hàng chỉ sử dụng trong trờng hợp thiếu vốn do vậy xu hứng chung là nên giảm
nguồn này cả về số tuyệt đối và số tơng đối.
Nếu xét chung cả cơ cấu vốn vay từ nguồn vay ngân hàng đầu t và phát
triển Việt Nam thì tỷ trọng vốn vay trung và dài hạn cho đầu t phát triển chiếm
chủ yếu trong tổng nguồn vốn vay còn nguồn vốn vay ngắn hạn của ngân hàng
kỳ phiếu và trái phiếu sang tiền mặt xẽ gặp nhiều khó khăn. Do vậy để tăng cờng
khả năng huy động nguồn này đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp thích
hợp tạo điều kiện cho khách hàng.
Tóm lại: Nguồn vốn huy động bằng kỳ phiếu và trái phiếu để tạo vốn cho
đầu t và phảt triển của ngân hàng là quan trọng, và đóng vai trò chủ chốt nhằm tạo
tính chủ động cho ngân hàng , phát huy nội lực của bản thân ngân hàng trong
phục vụ cho đầu t và phát triển. Hy vọng rằng với đờng lối, chiến lợc huy động
đúng đắn, chính sách và giải pháp cụ thể phù hợp với tình hình và khả năng thì
ngân hàng xẽ đạt đợc mức cao hơn về kỳ phiếu và trái phiếu.
- Nhận tài trợ uỷ thác đầu t:
Cũng qua số liệu của bảng 2 , ta thấy nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu t có số
vốn giảm đi qua các năm về số tuyệt đối. Cụ thể năm 1998 là 38.862 triệu đồng,
năm 1999 là 36.350 triệu đồng và năm 2000 là 33.271 triệu đồng. Đây là nguồn
vốn cung cấp vốn đầu t trung và dài hạn cho đầu t có chi phí thấp do ngân hàng
chỉ làm đại lí cho nên không lo đầu ra và đầu vào của nguồn vốn, cũng không phải
trả lãi cho ngời gửi mà đợc nhận một khoản phí từ công tác này. Tuy nhiên hiện
nay nguồn này đang có xu hớng giảm đi vì hiện nay không chỉ có ngân hàng làm
đại lí thanh toán và tài trợ uỷ thác đầu t mà có rất nhiều ngân hàng và các tổ chức
khác đợc tham gia nhận vốn uỷ thác, thực hiện việc giải ngân thu nợ các dự án
đầu t tài trợ .
- Nguồn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân c cho đầu t phát triển.
Tổ chức kinh tế và dân c là hai nguồn vốn lớn để ngân hàng có thể huy
động vốn . Nhng thực tế tiền giử của các nguồn này có thời gian dài lớn hơn 1
năm là rất thấp. Cụ thể năm năm 1998 đến năm 2000 nguồn này giảm đáng kể t-
ơng ứng là.18.369 triệu đồng ( tơng ứng 17%), 11.043 triệu đồng(12%), 7.264
triệu đồng(9%). Sở dĩ có vấn đề này là do trong những năm gần đây nhà nớc luôn
cắt giảm lãi xuất để kích thích đầu t của các doanh nghiệp do vậy tiền gửi của các
doanh nghiệp giảm xuống. Mặt khác ngời dân không a thích giửi tiền tiết kiệm có
thời gan tơng đối dài do họ sợ rủi ro do có các biến động về lãi suất,lạm
phát...hoặc khi họ muốn rút khoản tiền này ra sử dụng cho việc gì đó xẽ gặp khó
xét bảng sau:
Bảng 2. Lãi suất trái phiếu của ngân hàng Đầu t & Phát triển Hà Tây :
Thời điểm 26/3/1998 14/5/1999 30/6/2000
12 Tháng 0.85 0.95 0.95
24 Tháng 1.0 1.05 1.05
( Nguồn: Phòng nguồn vốn kinh doanh ngân hàng Đầu t & Phát triển Hà Tây )
Nh ta thấy lãi suất huy động trái phiếu kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng của
ngân hàng năm 1998 và 1999 tăng lên chút ít điều đó đã tăng đợc đáng kể nguồn
vốn huy động từ kỳ phiếu và trái phiếu của ngân hàng, cụ thể năm 1998 là 12.422
triệu đồng thì đến năm 1999 tăng lên là 14.689 triệu đồng và đến năm 2000 lãi
suất vẫn dữ nguyên nh cũ do vây khối lựng vốn huy động đợc không có sự biến
động đáng kể so với năm 1999 ( năm 2000 là 14.892 triệu).
c. Các hình thức tiếp thị cho huy động vốn của ngân hàng.
Công tác quảng cáo tiếp thị có tác động rất lớn đến hoạt động huy động
vốn và sử dụng vốn của ngân hàng, đặc biệt là ngân hàng Đầu t & Phát triển Hà
Tây trong thời gian qua . Nhờ đẩy mạnh công tác này ngân hàng đã góp phần
tăng đáng kể nguồn vốn huy động qua các năm nh đã phân tích.
Nh vậy, qua phân tích ở trên ta có thể nhận thấy công tác huy động vốn đã
đạt đợc những thành tựu đáng kể đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên
công tác này vẫn còn nhiều hạn chế đòi hỏi ngân hàng Đầu t & Phát triển Hà Tây
cần phải có đợc các giải pháp hữu hiệu cho công tác này.