Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
** Phân môn Ngọai Nhi Bộ Môn Ngọai, Đại Học Y Dược TP.HCM
PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ TỒN TẠI Ổ NHỚP QUA NGẢ SAU:
KẾT QUẢ BAN ĐẦU
Đào Trung Hiếu*, Lê Công Thắng*, Lê Tấn Sơn**, Phan Ngọc Duy Cần*
TÓM TẮT
Trong hai năm (2003-2004) tại Khoa Ngoại BV Nhi Đồng I chúng tôi điều trò 5 trường hợp tồn tại ổ
nhớp qua ngả sau với 3 mục đích: Phẫu thuật tạo hình hậu môn, trực tràng; tái tạo âm đạo; tái tạo niệu
đạo. Ba bệnh nhân phải kết hợp với thì bụng. Chiều dài của kênh chung từ 2- 6 cm (dưới 3 cm 1 trường
hợp, trên 3 cm 4 trường hợp). Tất cả bệnh nhân đều được tái tạo âm đạo ngay thì đầu và qua theo dõi
một năm 5 trường hợp đạt kết quả tốt.
SUMMARY
THE SURGICAL MANAGEMENT OF PERSITENT CLOACA WITH A POSTERIOR
SAGITTAL APPROACH: INITIAL OUTCOME
Dao Trung Hieu, Le Cong Thang, Le Tan Son, Phan Ngoc Duy Can
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 9 * Supplement of No 1 * 2005: 69 – 71
In 2 years (2003 and 2004) at the Department Children Ùs Hospital N
o
1; we operated 5 cases
persistent cloaca with a posterior sagittal approach for 3 aims: Anorectoplasty; vaginal reconstruction;
urethral reconstruction. Four patients required a laparotomy in addition. The length of the common
channel varied from 3cm to 6cm (below 3cm: 1 case, above 3cm: 3 cases). All of cases, the vagina was
reconstructed primarily. The follow up a year; results have been good: 5 cases..
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Tồn tại ổ nhớp là một dò dạng rất phức tạp đặc
trưng chủ yếu bởi sự hợp lưu giữa trực tràng, âm đạo
và niệu đạo vào một ống chung, điều trò phẫu thuật
cho loại dò dạng nay phải tiến hành nhiều kỹ thuật ở
vùng hậu môn trực tràng, tầng sinh môn trước và
- Ba trường hợp phối hợp với ngả bụng và tái tạo
âm đạo bằng đại tràng (trong đó 2 bằng trực tràng và
một bằng sigma)
Độ 1: rất ít hoặc dưới 2 lần trong tuần, không cần
thay quần lót.
Độ 2: thường xuyên, 1 lần trong một ngày, thỉnh
thoảng phải thay quần lót.
- Thời gian phẫu thuật 4 đến 6 giờ.
- Thời gian hậu phẫu trung bình 15 ngày.
Độ 3: liên tục.
- Đánh giá chức năng đi tiểu sau khi rút ống
thông và theo dõi hàng tháng: 4 trường hợp đều tiểu
tự chủ
+ Bón
Không bón
Độ 1: Bón, đáp ứng tốt với thuốc nhuận trường
- Đánh giá chức năng đi tiêu sau khi đóng hậu
môn tạm và theo dõi hàng tháng:
Độ 2: Bón phải thụt tháo đại tràng
Độ 3: Bón, điều trò nội khoa không hiệu quả.
+ Tiêu chảy
Không tiêu chảy
Độ 1: Tiêu chảy nhưng đáp ứng với chế độ ăn
thích hợp.
Độ 2: Tiêu chảy phải sử dụng thuốc.
Độ 3: Tiêu chảy không đáp ứng với điều trò nội
khoa.
+ Tiểu tự chủ
Độ 1: Bình thường.
Độ 2: Đái dầm về đêm.
hiệu rất quan trọng thường chỉ gặp trong tồn tại ổ
nhớp là bộ phận sinh dục ngoài nhỏ hơn ở bé gái bình
thường (small looking genitalia)
(2,3)
. Từ dấu hiệu nầy
trên bệnh nhân hậu môn không thủng cảnh báo các
phẫu thuật viên nhi truy tìm những yếu tố khác về
phương diện lâm sàng và cận lâm sàng để củng cố
thêm chẩn đoán và đề ra hướng điều trò thích hợp. Tất
cả bệnh nhân của chúng tôi đều kèm theo bộ phận
sinh dục ngoài nhỏ.
Ở giai đoạn nay, phẫu thuật làm hậu môn tạm là
điều cần thiết sau khi có chẩn đoán. Vấn đề ở đây là
nên làm hậu môn tạm ở vò trí nào để thuận lợi cho
phẫu thuật lần sau? Theo chúng tôi 4 trường hợp làm
hậu môn tạm ở đại tràng sigma gây khó khăn rất
nhiều, khi tái tạo âm đạo và tạo hình hậu môn trực
tràng nhất là quai đi còn quá ngắn. Do vậy chúng tôi
rằng để dễ dàng cho việc tái tạo âm đạo bằng đại tràng
- Một trường hợp tạo hình hậu môm trực tràng
tái tạo niệu đạo âm đạo qua ngả sau, tầng sinh môn
đơn thuần.
Chuyên đề Ngoại Chuyên Ngànhi
70
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
(chủ yếu là đại tràng sigma) thì vò trí hậu môn tạm ở
đại tràng ngang là hợp lý hơn cả.
Tuổi phẫu thuật: theo Alberto Pena tuổi phẫu thuật
Trong 5trường hợp tồn tại ổ nhớp của chúng tôi
đều áp dụng phương pháp trên để điều trò. Tác giả đả
nhận đònh rằng độ phức tạp của phẫu thuật và dự hậu
phụ thuộc vào chiều dài của kênh chung (common
channel), kích thước của âm đạo, chiều cao của trực
tràng và tính chất phức hợp cơ. Nếu chiều dài kênh
chung lớn hơn 3 cm âm đạo thường được tái tạo bằng
mảnh ghép da ở vùng tầng sinh môn, vòm âm đạo, đại
tràng. Trong 5 trường hợp của chúng tôi có 3 trường
hợp kinh chung trên 3 cm và âm đạo được tái tạo bằng
trực tràng và đại tràng sigma, một trường hợp dưới
3cm, khẩu kính âm đạo đủ rộng không cần tái tạo, chỉ
phẫu tích và đính vào da vùng tầng sinh môn.
Tuy nhiên, dù tái tạo âm đạo bằng bất kỳ kỹ thuật
nào, biến chứng hẹp âm đạo hay teo âm đạo thứ phát
do thiếu máu nuôi cũng đều có khả năng xảy ra (theo
Pena biến chứng hẹp 10,63% và teo thứ phát 2,12%)
(4)
.
Trong 5 trường hợp của chúng tôi chưa ghi nhận biến
chứng kể trên. Mặc dù vậy, đa số các tác giả đều cho
rằng để đánh giá thật sự phải chờ đợi bệnh nhân đến
tuổi dậy thì, sự bài tiết tốt hormone có thể sẽ là yếu tố
thuận lợi cho việc phát triển âm đạo.
Để tái tạo niệu đạo, chúng tôi sử dụng ngay
chính kênh chung, cuộn lại thành ống sau khi đã
phẫu tích. Vấn đề quan trọng là trong lúc phẫu tích
phải cực kỳ cẩn thận, tỉ mỉ tránh tổn thương phần
niệu đạo tân tạo bơiû lẽ thành sau của niệu đạo với
thành trước âm đạo rất sát sao ở phần ngoài. Trong 5