ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - Pdf 74

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
I. Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
1. Quá trình hình thành và phát triển:
Thành lập ngày 26/3/1988, hoạt động theo Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam, đến
nay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (AGRIBANK) hiện là
Ngân hàng thương mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư vốn phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng như đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế Việt
Nam.
AGRIBANK là ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ CBNV,
màng lưới hoạt động và số lượng khách hàng. Đến tháng 3/2007, vị thế dẫn đầu của
AGRIBANK vẫn được khẳng định với trên nhiều phương diện: Tổng nguồn vốn đạt gần
267.000 tỷ đồng, vốn tự có gần 15.000 tỷ đồng; Tổng dư nợ đạt gần 239.000 tỷ đồng, tỷ lệ
nợ xấu theo chuẩn mực mới, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế là 1,9%. AGRIBANK hiện có
hơn 2200 chi nhánh và điểm giao dịch được bố chí rộng khắp trên toàn quốc với gần
30.000 cán bộ nhân viên.
Là ngân hàng luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục
vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển màng lưới dịch vụ ngân hàng tiên
tiến. AGRIBANK là ngân hàng đầu tiên hoàn thành giai đoạn 1 Dự án Hiện đại hóa hệ
thông thanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) do Ngân hàng Thế giới tài trợ và đang
tích cực triển khai giai đoạn II của dự án này. Hiện AGRIBANK đã vi tính hoá hoạt động
kinh doanh từ Trụ sở chính đến hầu hết các chi nhánh trong toàn quốc; và một hệ thống các
dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ chuyển tiền điện tử, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc
tế, dịch vụ ATM, dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT. Đến nay, AGRIBANK
hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiên tiến,
tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước.
Là một trong số ngân hàng có quan hệ ngân hàng đại lý lớn nhất Việt Nam với trên
979 ngân hàng đại lý tại 113 quốc gia và vùng lãnh thổ tính đến tháng 2/2007. Là thành
viên Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Á Thái Bình Dương (APRACA),
Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Quốc tế (CICA) và Hiệp hội Ngân hàng Châu Á (ABA);
đã đăng cai tổ chức nhiều hội nghị quốc tế lớn như Hội nghị FAO năm 1991, Hội nghị

Chi nhánhSở giao dịch
Sơ đồ 2: Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam
Trụ sở chính
Chi nhánh loại 1, 2
Văn phòng đại diện
Đơn vị sự nghiệp
Chi nhánh loại 3
Phòng giao dịch
Sở giao dịch
Nguồn: http://www.agribank.com.vn/Agribank/Index.aspx
Ngày 7/3/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ , Ngân hàng
Nông Nghiệp Việt Nam hoạt động heo mô hình Tổng công ty Nhà nước với cơ cấu tổ chức
bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bọ máy giúp việc bao gòm bộ máy kiểm soát
nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập,
đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý và chức năng điều hành, Chủ tịch Hội
đồng quản trị không kiêm Tổng Giám đốc.
Với sự chỉ đạo quyết liệt của Ban lãnh đạo, sự đồng thuận cao giữa Hội đồng quản
trị, Ban Tổng giám đốc đã tiến hành sắp xếp lại mô hình tổ chức, hệ thống mạng lưới chi
nhánh, Công ty trực thuộc, đơn vị sự nghiệp, văn phòng đại diện đảm bảo nâng cao hiệu
quả hoạt động, đồng thời an toàn hệ thống và phát triển một cách hiệu quả nhất từ Trụ sở
chính đến các phòng giao dịch. Tới nay hệ thống tổ chức NHNo&PTNT Việt Nam đã từng
bước ổn định, phát triển hoàn thiện cụ thể:
Bảng 2.1 Sắp xếp mô hình tổ chức, hệ thống mạng lưới
STT Tên
Số lượng
31/12/2008 04/2009
1 Hội đồng quản trị 7 thành viên 7 thành viên
2
Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc

(Có biểu chi tiết kèm theo).
Trong 2 năm qua, các Ban (Phòng), Trung tâm tại Trụ sở chính hoạt động tương đối
phù hợp có hiệu quả, đã tham mưu giúp Ban lãnh đạo NHNo&PTNT Việt Nam chỉ đạo các
chi nhánh, Công ty, đơn vị sự nghiệp, văn phòng đại diện hoạt động đạt kết quả tốt.
3. Nhiệm vụ của Chi nhánh và tình hình thực hiện nhiệm vụ
Cùng nằm trong bối cảnh chung nền kinh tế và diễn biến phức tạp của thị trường Tài
chính - Tiền tệ trong nước, đặc biệt trên địa bàn Hà Nội trong năm 2009, Chi nhánh
NHNo&PTNT Bách Khoa đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn.
Được sự lãnh đạo - chỉ đạo, hỗ trợ của NHNo Việt Nam, cùng với tinh thần đồng
tâm vượt khó của toàn thể CBVC, người lao động; Kết thúc năm 2009, chi nhánh
NHNo&PTNT Bách Khoa đã cố gắng hạn chế tác động suy giảm nguồn vốn, giữ khách
hàng, mở rộng dịch vụ ngoài tín dụng, vẫn đảm bảo tự lực được tài chính và thu nhập
người lao động; Cơ sở vật chất, nhân lực tăng cường thêm một bước…
Tình hình thực hiện các chỉ tiêu KHKD.
Cùng nằm trong bối cảnh chung nền kinh tế và diễn biến phức tạp của thị trường Tài
chính – Tiền tệ trong nước, đặc biệt trên địa bàn Hà Nội trong năm 2009, chi nhánh
NHNo&PTNT Bách Khoa đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn
Được sự lãnh đạo – chỉ đạo, hỗ trợ của NHNo&PTNT Việt Nam, cùng với tinh thần
đồng tâm vượt khó của toàn thể CBVC, người lao động; Kết thúc năm 2009, chi nhánh
NHNo&PTNT Bách Khoa đã cố gắng hạn chế tác động suy giảm nguồn vốn, giữ khách hàng,
mở rộng dịch vụ ngoài tín dụng, vẫn đảm bảo tự lực được tài chính và thu nhập người lao
động; cơ sở vật chất, nhân lực tăng cường thêm một bước…
- Tổng nguồn vốn (cả nội, ngoại tệ) đến 31/12/2009 đạt 1260 tỷ đồng.
Trong đó:
Bảng 2.2 Kế hoạch và thực hiện về nguồn vốn
Chỉ tiêu Kế hoạch (tỷ đồng) Thực hiện
(tỷ đồng)
Tăng/ giảm (+/-) +/- (%)
Nội tệ 2060,417 989 -1071,42 -52%
Ngoại tệ 14,70101 14,554 -0,15701 -1%

Tỉ lệ Nợ xấu 2% Từ 1-3 % 10%
Trích lập dự phòng
(tỷ đồng)
5,196 9,01 15,227
Qua bảng 2.4 cho thấy: Tỷ lệ nợ xấu đã tăng lên rất cao so với năm 2008, các khoản
nợ quá hạn đã tăng lên rất cao, chất lượng tín dụng giảm. Nguyên nhân vẫn có thể là do
năm 2009 là một năm khó khăn chung của nền kinh tế, việc xuất nhập khẩu, buôn bán
trong nước gặp khó khăn khi người dân trong nước, quốc tế thắt chặt tiêu dùng. Khiến các
doanh nghiệp làm ăn không tốt. Dẫn đến việc chậm hoàn trả nợ lãi cho ngân hàng. Khiến
cho các khoản nợ xấu tăng lên từ 2% đến 10%. Và điều tất yếu là trích lập dự phòng rủi ro
tín dụng cũng tăng lên từ 5.196 tỷ đến 15,227 tỷ ( tương ừng với 193%) và không hoàn
thành kế hoạch đặt ra cho năm 2009
- Các dịch vụ ngoài tín dụng: dịch vụ bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh
toán quốc tế, nội địa, thẻ, đều phát triển, tăng trưởng khá so với năm 2008, từng bước góp
phần vào thu nhập của chi nhánh.
Bảng 2.5 Kết quả tài chính
Chỉ tiêu Thực hiện 2008 (tỷ
đồng)
Thực hiện 2009
(tỷ đồng)
Chênh
lệch (+/-)
Tăng/ giảm
(%)
Tổng thu 132,26 216,24 84,498 64
+ thu ngoài tín dụng 2,56 9,83 7,227 272
Tổng chi 119,633 202,180 82,547 69
Chênh lệch thu – chi chưa lương 35,956 84,498 48,542 135
Qua bản 2.5 cho thấy: Trong bối cảnh khó khăn như vậy nhưng chi nhánh đạt được
những kết quả tốt trong việc kinh doanh. Nhìn chung, tổng thu vẫn tăng so với năm 2008.

Ngãi (42); Yên Bái, Củ Chi, Hải Phòng, Hà Tây, Nam Định, Thanh Hóa, Sầm Sơn, Thừa
Thiên Huế (41); Phú Thọ, Hòa Bình, Phú Yên, Tuyên Quang, Hưng Yên, Ninh Bình, Nghệ
An, Thừa Thiên Huế, Bến Tre (40)
- Việc bố trí cán bộ
Hầu hết các Chi nhánh sau khi triển khai chương trình IPCAS chưa bố trí sắp xếp lại
cán bộ phù hợp; Đã tiến hành đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ hiện có, còn tình trạng
nhiều cán bộ chưa thích ứng kịp với công việc, nhiều vị trí công việc phải kiêm nhiệm
chưa được tách riêng đặc biệt là tại các Chi nhánh loại 3, phòng giao dịch. Vấn đề đặt ra
trong thời gian tới cần có sự đào tạo, bố trí sắp xếp cán bộ hợp lý đối với từng vị trí công
việc và tăng cường sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong thực hiện IPCAS
- Việc triển khai thực hiện chương trình quản lý nhân sự tập trung
Các Chi nhánh trong hệ thống đã triển khai chương trình quản lý nhân sự tập trung.
Thực hiện tốt chương trình này giúp cho Ban lãnh đạo NHNo&PTNT Việt Nam có thể nắm
bắt được tổng thể toàn bộ đội ngũ cán bộ của NHNo&PTNT Việt Nam cũng như đến từng
cán bộ theo trình độ, theo công việc được phân công. Thông qua đó có kế hoạch cụ thể về
đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của toàn hệ thống và điều tiết bổ
xung cán bộ cho phù hợp.
5. Đặc điểm về máy móc thiết bị và đặc điểm kinh doanh khác:
Trong năm qua NHNo&PTNT Việt Nam đã có bước tiến về công nghệ thông tin
trong Ngân hàng, tiếp nối những thành công từ những năm trước NHNo&PTNT Việt Nam
đã đạt được những thành tựu đáng tự hào đánh dấu bước tiến quan trọng về công nghệ
thông tin ngân hàng. Nổi bật là hoàn thành triển khai Dự án Hiện đại hóa Hệ thống Thanh
toán và Kế toán Khách hàng (IPCAS). Việc triển khai thành công hệ thống IPCAS đã xóa
bỏ tình trạng tồn tại nhiều hệ thống cũ phân tán với nhiều phiên bản phần mềm, công nghệ
lạc hậu, rủi ro khó kiểm soát NHNo&PTNT Việt Nam đã đạt được mục tiêu quan trọng là
thống nhất toàn hệ thống về chương trình phần mềm và quy trình công nghệ, dữ liệu toàn
quốc được xử lý tập trung, cho phép Trụ sở chính cũng như chi nhánh khai thác số liệu trực
tuyến hàng ngày phục vụ công tác quản trị, điều hành. Đây cũng là hệ thống công nghệ nền
tảng để NHNo&PTNT Việt Nam phát triển thêm nhiều kênh phân phối, nhiều sản phầm
dịch vụ ngân hàng hiện đại. Triển khai thành công hệ thống IPCAS giúp NHNo&PTNT

2007
Năm
2008
Năm
2009
Tổng số vị trí cần tuyển 71 100% 140 100% 231 100%
Trong đó:
Tín dụng, ql rủi ro 40 56.33% 67 47.8% 88 38.09%
Kế toán, thẻ 22 30.9% 56 40% 116 50.21%
Thanh toán quốc tế 4 5.63% 11 7.85% 21 9.09%
Luật, thư ký pháp chế 5 7.04% 6 4.28% 6 2.59%
( Nguồn: ban tổ chức cán bộ - năm 2009 )

Qua bảng số liệu 2.9 ta thấy số lượng vị trí cần tuyển dụng qua các năm 2007 – 2009
không ngừng tăng lên. Tăng từ 71 vị trí lên tới 140 vị trí với tốc độ tăng là 97% từ năm
2007 đến năm 2008. Và con số này từ năm 2008 đến năm 2009 là 65%. Sở dĩ là vậy vì do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status