THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ SỬ DỤNG VỐN CHO VAY HỘ NGHÈO Ở HÀ TÂY - Pdf 74

Luận văn tốt nghiệp
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
SỬ DỤNG VỐN CHO VAY HỘ NGHÈO Ở HÀ TÂY.
I/ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG TỚI ĐÓI NGHÈO
1. Đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh.
Hà Tây là một tỉnh ven đô có diện tích rộng 2198 km
2
, dân số khoảng
2,4 triệu người, có vị trí địa lý khá thuận lợi, được hình thành trên ba vùng
sinh thái miền núi, đồng bằng, trung du. Toàn tỉnh có 14 huyện thị, 324 xã,
939 doanh nghiệp với khoảng 53 vạn hộ gia đình trong đó có khoảng 85%
dân số sống ở vùng nông thôn và khoảng 49 vạn hộ sản xuất nông nghiệp.
Những năm gần đây Hà Tây đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo của chính phủ
thông qua các dự án lớn (mà một số trong đó đã được triển khai) trên địa bàn
tỉnh, từng bước hình thành chuỗi đô thị vệ tinh của thủ đô như Sơn Tây, Hoà
Lạc, Sân bay quốc tế Miếu Môn...cùng với đường cao tốc Láng- Hoà Lạc cơ
bản đã hình thành và đưa vào sử dụng tạo nên bộ mặt mới của tỉnh Hà tây.
Tuy nhiên đó mới chỉ là những thành quả bước đầu và Hà Tây hàng ngày vẫn
phải đối đầu với những nhiều vấn đề như: nền kinh tế của tỉnh vẫn còn ở
trong tình trạng của một nền sản xuất thuần nông, phụ thuộc nhiều vào thiên
nhiên, kinh tế công nghiệp chưa phát triển, kỹ thuật cộng nghệ còn lạc hậu.
Năm 2001 nền kinh tế của tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng khá và thể hiện ở
các mặt sau đây:
- Tốc độ tăng trưởng GDP được duy trì và phát triển tăng 7,5% cao hơn
so với tốc độ tăng trưởng của toàn quốc
- Sản xuất nông nghiệp phát triển tăng 4,1% cao hơn so với toàn quốc
(3,6%) có sản lượng quy thóc đạt 96,1 vạn tấn.
- Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 12% giao thông
điện lực, bưu điện phát triển thu hút được nhiều vốn đầu tư.
- Thương mại, du lịch có sự chuyển biến tích cực: xuất khẩu tăng 62%
so với cùng kỳ, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 55,6 triệu USD, tăng 23,5% so

Kết quả như sau:
- Toàn tỉnh có 4125 hộ nghèo = 7,18% so với tổng số hộ phân loại theo
thu nhập bình quân đầu người/tháng/năm.
- Thu nhập 45 ngàn đồng trở xuống (hộ quá nghèo) có 486 hộ chiếm
0,85% tổng số hộ trên 30 xã
2

Luận văn tốt nghiệp
- Thu nhập từ 80-dưới 100 ngàn đồng có 3165 hộ chiếm 5,5% .
- Thu nhập từ 100- 150 ngàn đồng có 29 hộ chiếm 0,05%
Trong 30 xã chọn mẫu có: 337 xã thuộc đối tượng xã hội, trong đó có
179 hộ đang được hưởng trợ cấp xã hội chiếm 53% so với số hộ đối tượng xã
hội nghèo.
Qua phân tích có nhiều nguyên nhân nghèo nhưng tập trung vào một số
nguyên nhân chính sau:
- Do thiếu kinh nghệm làm ăn là 1417 hộ chiếm 2,5% so với số hộ
nghèo.
- Do thiếu vốn sản xuất kinh doanh 2392 hộ chiếm 4,2%
- Do thiếu lao động 922 hộ
- Do bị ốm đau tai nạn 509 hộ.
Đặc biệt có 20 hộ đói nghèo là do mắc các tệ nạn xã hội.
Như vậy trong 30 xã chọn mẫu đại diện toàn tỉnh so với năm 2000 tỷ
lệ hộ nghèo giảm được 1,42% tương đương giảm 1456 hộ trong đó :
- 1252 hộ thoát nghèo lên trung bình
- 58 hộ từ diện quá nghèo thoát lên trung bình.
- 146 hộ từ hộ quá nghèo lên nghèo.
Nhưng do các nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan lại có 820
hộ mới rơi vào cảnh đói nghèo nên trong 30 xã chọn mẫu chỉ có 363 hộ giảm
tuyệt đối. Suy rộng trong 30 xã chọn mẫu có kết quả như sau:
- Khu vực thành thị giảm 27 hộ tương đương 1,4% so với số hộ nghèo

Huyện Tỷ lệ xã đói nghèo Ghi chú
Thị xã Hà Đông 9/9
Đan Phượng 16/16
Hoài Đức 22/22 tăng 4 xã
Thanh Oai 25/25 tăng 5 xã
Thường Tín 29/29 tăng 10 xã
Ứng Hoµ
11/30
S¬n T©y 8/15 t¨ng 3 x·
Phó Xuyªn 13/28 t¨ng 4 x·
4

Lun vn tt nghip
Phúc Thọ 10/23 tăng 3 xã
Mỹ Đức 6/23 tăng 1 xã
Thạch Thất 6/20 tăng 3 xã
Quốc Oai 3/20
Chơng Mỹ 4/33 tăng 1 xã
Ba Vì 1/32
Toàn tỉnh có 1172 hộ nghèo, nhà ở dột nát trong đó có 172 hộ quá nghèo,
nhà ở dột nát. Địa phơng còn nhiều nhà dột nát nh : Ba Vì 408 hộ ( 83 nhà hộ
quá nghèo), Mỹ Đức 202 hộ (72 nhà hộ quá nghèo), Quốc Oai 107 hộ (916 hộ
quá nghèo).
2.3. Nguyên nhân của đói nghèo.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo trong đó có một số nguyên
nhân chính nh sau:
- 24753 hộ do thiếu vốn sản xuất - Chiếm 52 % so với tổng số hộ nghèo.
- 17821 hộ do thiếu kinh nghiệm làm ăn - chiếm 37,4 % so với tổng số
hộ nghèo.
- 9468 hộ do thiếu lao động - chiếm 20% so với tổng số hộ nghèo.

trong đó chủ yếu là dư nợ cho vay doanh nghiệp quốc doanh và kinh tế tập
thể chiếm 89%. Nợ quá hạn là 7,8 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 16,8% tổng dư nợ. Kết
quả hoạt động tài chính lỗ 5,2 tỷ đồng. Có thể nói vào thời điểm đó ngân
hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tây đang trên bờ của sự phá
sản. Đứng trước thực trạng khó khăn trên trong những năm qua ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tây đã kiên trì đi theo đường lối đổi
mới của Đảng và Nhà nước từng bước khắc phục khó khăn, thực hiện xắp xếp
lại bộ máy tổ chức, tinh giảm biên chế, nghiên cứu thị trường và đối tượng
phục vụ. Ngân hàng đã từng bước xây dựng lại hệ thống mạng lưới giao dịch
rộng khắp gần với dân để có thể tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong
việc giao dịch với ngân hàng. Tới nay Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn Hà Tây đã có đến 67 điểm giao dịch gồm 14 ngân hàng huyện thị,
45 ngân hàng liên xã (loại IV) và 8 ngân hàng lưu động, tạo nên một mạng
lưới hoàn chỉnh có thể phục vụ tốt khách hàng bảo đảm an toàn vốn và tài
sản. Tính rộng khắp của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã
tạo ra đặc trưng để phân biệt với các loại ngân hàng khác.
Đến hết năm 2001 tổng nguồn vốn huy động là 2007 tỷ đồng tăng 495
tỷ so với năm trước với tốc độ tăng trưởng đạt 32,7% đạt 112% kế hoạch
năm. Là năm có tốc dộ tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay. Về cơ cấu
nguồn vốn có sự chuyển biến tích cực có lợi cho kinh doanh: Nguồn vốn có
6

Luận văn tốt nghiệp
lãi suất thấp đạt 367 tỷ tăng 115 tỷ so với năm 2000; nguồn vốn trung và dài
hạn 964 tỷ tăng 206 tỷ so với đầu năm chiếm tỷ trọng 48%. Tạo điều kiện cho
ngân hàng mở rộng đầu tư cho vay các dự án và xây dựng cơ sở hạ tầng cho
nông nghiệp nông thôn. Đặc biệt năm 2001 Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn còn thừa vốn và chuyển về Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam 550 tỷ để điều hoà vốn với các tỉnh khác.
Qua hơn chục năm hoạt động ngân hàng nông nghiệp và phát triển

Kế toán
tài chính ngân quỹ
Phòng
Tổ chức cán bộ
và đào tạo
Phòng Kiểm tra, kiểm toán nội bộ
Phòng
vi tính
Phòng Điện toán
Phòng Hành chính pháp chế
Phòng
Ngân hàng phục vụ người nghèo
Phòng Công đoàn
Phòng Kinh tế
Kế hoạch
Phó Giám đốc
phụ trách tín dụng
Phó Giám đốc
8

Luận văn tốt nghiệp
phụ trách ngân hàng phục vụ người nghèo
GIÁM ĐỐC
9

Luận văn tốt nghiệp
2. Ngân hàng phục vụ người nghèo (NHNg)
2.1. Ngân hàng phục vụ người nghèo quá trình hình thành và phát triển
Được thành lập theo quyết định số 525/QĐ/ TTg ngày 31/8/1995 của Thủ
tướng chính phủ và quyết định số 230/QĐ/ NH5 của thống đốc ngân hàng nhà

hộ nghèo
Ban xoá đói
giảm nghèo
Tổ vay vốn
và tiết kiệm
Chi nhánh ngân hàng nghười nghèo cơ sở do các chi nhánh ngân hàng nông nghiệp
cơ sở đảm nhiệm
Phòng kiểm soát
Trung tâm điều hành tác nghiệp ngân hàng phục vụ người nghèo
Phòng kế hoạch nghiệp vụ
Phòng kế toán
ngân quỹ
Tổ vay vốn
và tiết kiệm
11

Phòng kê toán ngâ
Luận văn tốt nghiệp
2.3. Chức năng của các phòng ban.
* Phòng kế hoạch nghiệp vụ
- Nghiên cứu tổng hợp, phân tích tình hình kinh tế trên địa bàn, khởi thảo kế
hoạch.
- Khởi thảo kế hoạch tín dụng.
- Nghiên cứu các dự án nhằm tăng trưởng vốn để mở rộng phạm vi hoạt
động.
- Thực hiện nhiệm vụ trung tâm tiếp thị và thông tin phòng ngừa rủi ro.
- Thẩm định các chương trình, dự án tín dụng, chọn lựa để lập kế hoạch theo
quy định.
- Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch từ cơ sở.
- Tổ chức theo dõi thống kê chuyên ngành có hệ thống về hoạt động tín

những hành vi làm trái quy định này.
3. Nhu cầu về vốn cho vay xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Tây .
Hà Tây cũng như bao tỉnh khác của Việt Nam, người dân phần đông là làm
nông nghiệp, nhiều vùng quanh năm ngoài hai vụ trồng lúa ra người nông dân
không biết làm gì, hơn nữa việc làm nông nghiệp lại hay rủi ro, vì vậy mà đời sống
của những người nông dân thuần tuý là rất khó khăn. Bằng một sào ruộng
khoán/đầu nhân khẩu thì đủ ăn đã là khá, làm gì có mà để tích luỹ lâu dài. Thế
nhưng trong cuộc sống còn biết bao thứ cần phải trang trải đó là không tính đến
13

Luận văn tốt nghiệp
lúc ốm đau, bệnh tật...Chính vì vậy người nông dân gặp phải không ít khó khăn.
Theo báo cáo thống kê của tỉnh, năm 2001 toàn tỉnh còn 47.664 hộ nghèo chiếm tỷ
lệ 8,94% so với tổng số hộ trong đó có 4.956 hộ quá nghèo, chiếm tỷ lệ 0,88%.
Dẫn đến đói nghèo như vậy thì có nhiều nguyên nhân, có hộ nghèo do không có
lao động lại ốm đau bệnh tật, có hộ nghèo do không biết cách làm ăn...Trong đó
một bộ phận không nhỏ những hộ nghèo có sức lao động nhưng lại thiếu vốn để
sản xuất. Để có thể đầu tư sản xuất người nông dân cần phải có một số vốn nhất
định, nếu đi vay ngoài thì họ phải chịu lãi suất cao dẫn đến đầu tư không có hiệu
quả. Trươc nhu cầu to lớn đó của nông dân (đặc biệt là nông dân nghèo) Đảng và
Nhà nước đã có những cơ chế chính sách về triệu đồng nhằm người giúp người
nông dân về vốn sản xuất với lãi suất thấp thông qua các chương trình, tiêu biểu
cho các chương trình đó là chương trình xoá đói giảm nghèo. Người nông dân đã
được hưởng nhiều ưu đãi từ những chương trình này. Ngân hàng phục vụ Người
nghèo là một đơn vị của nhà nước đứng ra chịu trách nhiệm trực tiếp cho người
nghèo vay vốn. Hiện nay khi vay vốn ở Ngân hàng phục vụ Người nghèo người
nông dân được hưởng mức lãi suất ưu đãi là 0,5%/tháng và không phải chịu bất cứ
một chi phí hành chính nào, ngoài ra còn không phải thế chấp tài sản. Thấy được
những sự quan tâm đó của Đảng và Nhà nước mà hiện nay có rất nhiều nông
nghèo đã đến vay vốn làm ăn tai Ngân hàng phục vụ Người nghèo. Ở Hà Tây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status