PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CHI NHÁNH AN GIANG - Pdf 75

PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI
GÒN CHI NHÁNH AN GIANG
4.1 Cơ cấu nguồn vốn và thực trạng tình hình huy động vốn hiện nay của ngân hàng.
4.1.1 Tình hình nguồn vốn
Như chúng ta đã biết vốn là yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh, là nhân tố không thể thiếu
được trong quá trình kinh doanh của các tổ chức sản xuất kinh doanh. Ngân hàng cũng vậy, muốn
đem lại hiệu quả kinh tế cao trước tiên cần phải có nguồn vốn dồi dào, bởi vì hiện nay nước ta đa
phần là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thường xuyên bị thiếu hụt vốn trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh. Để giải quyết tình trạng thiếu vốn này, giải pháp tốt nhất là họ đến ngân hàng xin
vay vốn. Do đó, để đứng vững trên thị trường thì ngân hàng cần phải có nguồn vốn đủ lớn để đáp
ứng cho họ. Bên cạnh đó, muốn chiếm được thị phần, mở rộng thị trường và quy mô ngân hàng
cần phải nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng các hình thức huy động vốn để thu hút lượng tiền
nhàn rỗi trong dân cư, các doanh nghiệp để phân phối lại cho các tổ chức sản xuất kinh doanh
đang thiếu hụt về vốn. Nguồn vốn của ngân hàng ngày càng dồi dào càng khẳng định vị trí vững
chắc của mình trong nền kinh tế thị trường.
Là một chi nhánh cấp 1 trực thuộc hội sở, do đó nguồn vốn hoạt động chủ yếu của SCB An
Giang là nguồn vốn huy động tại chỗ và do hội sở điều chuyển vốn về. Nguồn vốn tại chỗ được
ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức như tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm…. Dân cư và
các tổ chức kinh tế là các đối tượng huy động chủ yếu của ngân hàng. Nhờ biết chủ động khai thác
nguồn vốn tại chỗ nên vốn huy động của SCB - An Giang trong gần hai năm qua đã tăng lên đáng
kể cụ thể như sau:
Hình 4.1: Cơ cấu nguồn vốn của SCB An Giang
Ta thấy nguồn vốn hoạt động của chi nhánh tăng đáng kể, vào cuối năm 2006 tổng nguồn vốn
chỉ có 31.500 triệu đồng thì đến năm 2007 nguồn vốn đã tăng đến 350.236 triệu đồng. Tổng nguồn
vốn năm 2007 tăng thêm 318.736 triệu đồng gấp hơn 10 lần so với năm 2006. Sự tăng trưởng
nguồn vốn này có được là do vốn huy động tăng gấp 3,8 lần so với năm 2006 chứng tỏ chi nhánh
ngày càng mở rộng thị trường hoạt động và có uy tín trên địa bàn tỉnh An Giang. Những ngày đầu
hoạt động SCB An Giang chỉ thu hút khách hàng trong địa bàn thành phố Long xuyên và các
huyện lân cận do đó nguồn vốn huy động không cao. Đến đầu năm 2007 thấy được tiềm năng của
lượng vốn nhàn rỗi ở Thị xã Châu Đốc, SCB đã phát triển thêm phòng giao dịch Châu Đốc do đó
lượng vốn huy động tăng đáng kể, tuy nhiên lượng vốn huy động tại chi nhánh không đủ đáp ứng

đồng lên đến 243.692 triệu đồng do vốn huy động không đủ đáp ứng doanh số cho vay. Điều này
chứng tỏ ngân hàng ngày càng có nhiều khách hàng vay và được nhiều người biết đến.
Mặc dù có sự hỗ trợ về nguồn vốn điều hòa từ Hội sở nhưng chi nhánh cần chú trọng quan tâm
hơn đến công tác huy động vốn, chủ động khai thác nguồn vốn tại chỗ đưa vào hoạt động có hiệu
quả, góp phần làm cho nguồn vốn huy động của chi nhánh thêm dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Để làm
được điều này ngân hàng cần phải có thêm nhiều loại hình huy động với mức lãi suất hấp dẫn
mang tính cạnh tranh, các chương trình khuyến mãi, dự thưởng, xem xét loại bỏ bớt những thủ tục
rườm rà phức tạp…. nhằm thu hút được ngày càng nhiều lượng tiền nhàn rỗi từ trong dân, các tổ
chức kinh tế và hộ sản xuất.

Nguồn vốn chủ sở hữu của chi nhánh rất thấp, qua số liệu từ các quý cho thấy nguồn vốn này
chiếm chưa được 5% trên tổng nguồn vốn. Nguyên nhân là do ngân hàng mới thành lập, và đây là
một chi nhánh nên nguồn vốn chủ sở hữu rất thấp, bởi mọi tài sản hoặc nguồn vốn chủ yếu là do
Hội sở quản lý.
4.1.2 Phân tích tình hình huy động vốn
Như chúng ta đã biết vai trò của các NHTM trong nền kinh tế là đi vay để cho vay, điều
chuyển nguồn vốn từ người thừa tiền sang người thiếu tiền. Chính vì vậy muốn hoạt động ổn định,
bền vững ngân hàng cần phải có những chính sách nhằm thu hút thật nhiều khách hàng đến gửi
tiền và vay tiền. Do đó nguồn vốn huy động giữ một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra lợi
nhuận cho ngân hàng, là một trong ba nguồn tạo nên tổng nguồn vốn phục vụ cho quá trình hoạt
động kinh doanh của chi nhánh.
Trước tình hình hiện nay các ngân hàng đều ráo riết tranh thủ các nguồn vốn từ trong dân, do
đó việc cạnh tranh giữa các ngân hàng trở nên mạnh mẽ, gay gắt hơn, SCB cũng không ngoại lệ,
để tồn tại và phát triển được, ngân hàng cũng đã nghiên cứu và tung ra rất nhiều sản phẩm phù hợp
với nhu cầu khác nhau của các tầng lớp dân cư. Bên cạnh đó lạm phát ngày càng tăng cao, chính
yếu tố này làm cho lãi suất huy động của ngân hàng không ngừng tăng cao để đảm bảo tiền lãi
khách hàng được hưởng mang con số thực dương, đây cũng tạo nên khó khăn cho ngân hàng, vì
chi phí đầu vào tăng cao, dẫn đến lãi suất cho vay cao và các chính sách thắt chặt tiền tệ kiềm hãm
lạm phát đã buộc các ngân hàng phải thu hút được nhiều vốn hơn, đảm bảo tỷ lê dự trữ bắt buộc

67.047
658
2. Tiền gửi thanh toán 10.926 22.881 36.604
Tổng cộng 21.791 65.005 104.309
Nguồn: Phòng kế toán ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
Qua số liệu ta thấy tổng vốn huy động qua các quý đều tăng và vốn huy động của từng loại
tiền gửi cũng tăng theo qua mỗi 6 tháng. Trong đó tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn đóng vai trò chủ
đạo. Tiền gửi tiết kiệm tăng dần qua các quý, do ngân hàng đã bắt đầu có nhiều chương trình
khuyến mãi thu hút được nhiều khách hàng.
Tuy nhiên trong 6 tháng cuối năm 2006 tình hình huy động vốn còn chậm và chưa thu hút
được tiềm năng trên địa bàn. Nguyên nhân là do mới khai trương nên còn ít người biết đến SCB.
Tiền gửi tiết kiệm tuy đa dạng thu hút được khách hàng, nhưng con số này chưa cao do lãi suất
của SCB so với các NHTM tại An Giang tương đương nhau. Có nhiều khách hàng sau khi trao đổi
với nhân viên thì cho rằng quà tặng khuyến mãi của SCB chưa mới lạ cũng giống như những ngân
hàng khác nên chưa thu hút được khách hàng. Do đó để thu hút và lôi kéo khách hàng, bên cạnh
việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn, cần có chính sách khuyến mãi
quà tặng đa dạng. Ngoài ra đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng cần tăng cường tiếp thị, quảng
cáo, nhằm lôi kéo khách hàng có tiềm năng về vốn và các khu vực đông dân cư để đưa sản phẩm
tiết kiệm của SCB đến với khách hàng nhiều hơn.
Cũng từ bảng 4.2 bảng số liệu về tình hình huy động vốn ta thấy qua gần 2 năm hoạt động
ngân hàng đã có sự tăng trưởng khá mạnh mẽ về nguồn vốn có kỳ hạn, tuy nhiên nguồn vốn tiết
kiệm không kỳ hạn lại chiếm một tỷ lệ rất thấp, không đáng kể trong tổng nguồn vốn.
Để hiểu rõ nguyên nhân tại sao loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn lại ít được khách hàng ưa
chuộng, ngược lại loại tiền gửi tiết kiệm cò kỳ hạn lại thu hút khách hàng nhiều như vậy ta bắt đầu
phân tích cụ thể tình hình huy động vốn đối với từng loại hình huy động
4.1.2.1 Đối với loại tiền gửi tiết kiệm
Loại tiền gửi này chủ yếu huy động được từ mọi người dân trong tỉnh, họ gửi nhằm mục
đích thu được lợi tức, ngoài ra họ gửi tiền còn vì mục tiêu an toàn cho đồng vốn của mình. Tiền
gửi tiết kiệm của chi nhánh các quý qua tăng rõ rệt, cụ thể năm 2006 là 10.865 triệu đồng, chỉ sau
một năm hoạt động nguồn vốn này đã tăng lên đáng kể với tốc độ tăng truởng 5,23 lần thành

vừa được quay số trúng thưởng, nhận thêm lì xì, được tặng quà ngày tết…do đó khi có lượng tiền
mặt nhàn rỗi hàng năm thì khách hàng quyết định đến ngân hàng gửi tiết kiệm để sinh lợi. Sự tăng
trưởng của loại tiền gửi này cho thấy thu nhập của người dân ngày càng tăng cao và họ đã tạo
được thói quen khi chưa có nhu cầu sử dụng trong thời gian sắp tới họ sẽ cân đối nguồn vốn của
mình và gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao.
Từ những lý do nêu trên ta thấy đây chính là nguồn vốn mục tiêu mà ngân hàng cần hướng tới
vì tính ổn định của nó, ngân hàng có quyền chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này trong cho
vay sinh lợi. Vì vậy ngân hàng không ngừng cải tiến, sửa đổi và đưa ra những sản phẩm mới mang
tính cạnh tranh để thu hút được thật nhiều lượng vốn này.
Để thuận lợi cho khách hàng, ngân hàng đã tạo ra nhiều loại sản phẩm tiền gửi tương ứng với
mỗi mức lãi suất khác nhau và kỳ hạn khác nhau. Biểu lãi suất đối với tiền gửi tiết kiệm thông
thường của ngân hàng sẽ được giới thiệu trong phần phụ lục của đề tài.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Đối với loại tiền gửi này, khi khách hàng có một số tiền tạm thời nhàn rỗi trong thời gian ngắn
mà chưa dùng đến, họ dùng tiền này gửi vào ngân hàng để hưởng lãi và đảm bảo an toàn hơn khi
để ở tại nhà. Tuy nhiên qua bảng số liệu ta cũng thấy được trong cơ cấu nguồn vốn huy động từ
tiền gửi tiết kiệm thì kênh huy động chủ yếu là từ nguồn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, còn tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn chỉ chiếm một phần rất nhỏ, lý do là lãi suất thu được từ nguồn tiền này rất
thấp, lãi suất chỉ bằng khoảng 1/3 lãi suất của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và một lý do nữa là
khoảng tiền gửi tiết kiệm chỉ cá nhân mới được gửi không dùng để thanh toán nên đa phần khách
hàng thích gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn hơn, hoặc họ sẽ gửi vào tài khỏan tiền gửi thanh toán thay
cho tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn vì sẽ thuận tiện và sễ dàng hơn trong việc thanh toán, chuyển
tiền, rút gửi tiền mà vẫn hưởng lãi suất ngang nhau..
Nếu nguồn vốn này tăng dần theo các năm thì tốt do chi phí trả lãi thấp nhưng do đặc điểm
của hình thức huy động này là có thể rút tiền bất cứ lúc nào nên chi nhánh rất khó trong việc chủ
động được nguồn vốn hay nói cách khác phần vốn huy động này đưa vào lưu thông không được
thuận lợi, vì thế các tổ chức tín dụng thường không đưa ra mức lãi suất cao và chi nhánh phải dự
phòng quỹ an toàn để đảm bảo tính thanh khoản của mình và tính toán cơ cấu đầu tư hợp lí, vì vậy
nguồn vốn từ hình thức huy động này không phải là nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng hướng tới.
Từ những lý do nêu trên ta thấy nguyên nhân chủ yếu làm cho nguồn vốn huy động của loại

tỉnh An Giang nên muốn phát triển hơn nữa, chiếm được nhiều thị phần hơn nữa tại địa bàn, ngân
hàng cần phải nổ lực hết mình, phát huy những ưu điểm hiện có và hạn chế, khắc phục những
khuyết điểm mà khách hàng chưa hài lòng. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả huy động vốn, chi
nhánh cần phải khẩn trương nghiên cứu thực hiện các loại thể thức tiết kiệm mới: tiết kiệm có kỳ
hạn có lãi và có thưởng, tiết kiệm có lãi suất gắn với quy mô vốn gởi (tiền gởi càng lớn, lãi suất
càng cao), đẩy mạnh công tác mở tài khoản cá nhân. Bên cạnh đó, cán bộ nhân viên ngân hàng cần
phải nhiệt tình giúp đỡ, giải thích, hướng dẫn khách hàng gửi loại tiền phù hợp và có lợi cho họ.
4.2 Giới thiệu các sản phẩm tiền gửi của ngân hàng TMCP Sài Gòn
Việc cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trong giai đoạn hội nhập và mở cửa thị trường
tài chính theo các điều kiện của WTO đặt ra yêu cầu nhất thiết các ngân hàng trong nước phải chủ
động đầu tư phát triển công nghệ, mở rộng mạng lưới, phát triển sản phẩm dịch vụ mới phục vụ
nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Vào WTO SCB sẽ gặp nhiều thách thức không chỉ từ sự
mạnh lên của các ngân hàng trong nước mà còn từ các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài, nhất
là những ngân hàng có uy tín lâu đời trên thế giới và những ngân hàng đã có thời gian lâu dài hoạt
động tại Việt Nam. Như vậy trong thời gian tới cạnh tranh trên thị trường tài chính tiền tệ, nhất là
công tác huy động vốn sẽ ngày càng gay gắt. Vì thế để tăng cường sức cạnh tranh, củng cố thương
hiệu, uy tín, ngân hàng TMCP Sài Gòn cần đưa ra những chính sách phù hợp, những chương trình
khuyến mãi nhằm giữ vững và thu hút thêm khách hàng.
Hiện nay, SCB đang sử dụng rất nhiều sản phẩm tiền gửi để HĐV, những chương trình khuyến
mãi, những chính sách ưu đãi nhằm thu hút khách hàng như: “Tiền gửi rút gốc từng phần hưởng
lãi suất bậc thang”, “Lãi suất tăng, điều chỉnh tăng”, “tích lũy hưu trí”, “tặng thêm lãi suất đối với
người từ 50 tuổi trở lên”, “ gửi tiền nhận lãi ngay” đáp ứng và thu hút được những yêu cầu khác
nhau của khách hàng, phù hợp với nhiều loại hình nhiều lứa tuổi do đó ngân hàng đã thu hút được
một lượng vốn đáng kể từ các sản phẩm này.
4.2.1 Tích lũy hưu trí
Nguồn thu nhập chính ở tuổi trên 50 là từ con cái, phần tiền hưu trí và tích lũy sau bao nhiêu
năm vất vả, SCB thấu hiểu và ghi nhận những điều đó vì vậy đã cho ra đời sản phẩm tiết kiệm
“Tích lũy hưu trí”. Sản phẩm này sẽ giúp cho số tiền tích lũy của khách hàng ngày càng gia tăng
và cả người thân sẽ có một cuộc sống nhàn hạ mà vẫn đảm bảo nguồn tài chính trong thời gian
nghỉ hưu

với lãi suất hiện hành của sản phẩm do SCB công bố vào thời điểm tái tục.
Quà tặng
Tặng quà cho một người thụ hưởng và chủ hợp đồng từ 50 tuổi trở lên nhân các sự kiện trong
năm: ngày Quốc tế Người cao tuổi, ngày của Mẹ, ngày của Cha, lễ Vu lan.Tặng quà trên cơ sở số
dư của sổ đối với cả sổ mở trước & trong thời gian xảy ra sự kiện. Trường hợp sổ tiết kiệm “tích
lũy hưu trí” có nhiều Người thụ hưởng thì sẽ tặng quà cho người thụ hưởng có tuổi cao nhất. Tặng
tiền mặt theo tỷ lệ tương ứng với kỳ hạn tích luỹ của sổ vào ngày đáo hạn của sổ nếu khách hàng
không rút vốn trước hạn. Khách hàng có thể chọn nhận quà từng lần vào các sự kiện bằng hiện vật
hoặc quy đổi thành tiền mặt nhận một lần vào ngày kỷ niệm hợp đồng hàng năm.
Các ưu đãi khác
Được gia hạn định kỳ gửi tiền. Được vay để gửi tiền với lãi suất vay thấp hơn 0,01%/tháng so
với lãi suất cho vay cầm cố do SCB áp dụng tại thời điểm vay. Được vay cầm cố tối đa đến 100%
giá trị gốc của sổ tại thời điểm cầm cố tùy theo thời hạn còn lại của sổ và theo quy định hiện hành
của SCB về cho vay cầm cố. Được vay ưu đãi cho các nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh của
Khách hàng hoặc của Người thụ hưởng hoặc của cả hai, vay tổ chức hôn nhân cho con, vay cho
con đi du học,…: giảm 0,01%/tháng so với lãi suất cho vay do SCB áp dụng tại thời điểm vay.
Được rút trước hạn từng phần tối đa 02 lần/năm, giá trị mỗi lần rút tối đa bằng 90% số dư tại thời
điểm rút
Dịch vụ hỗ trợ
Ưu đãi khi có nhu cầu mua ngoại tệ cho mục đích du lịch, chữa bệnh. Ưu đãi khi sử dụng dịch
vụ chứng minh tài chính cho con đi du học. Có thể vay để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời với
thủ tục đơn giản. Được mở tài khoản thanh toán miễn phí. Cấp miễn phí 01 thẻ ATM SCB link
cho Chủ hợp đồng hoặc Người thụ hưởng với mỗi sổ tiết kiệm “Tích lũy hưu trí”.ung cấp miễn phí
các dịch vụ SMS Banking, Internet Banking, Phone Banking của SCB. Sử dụng dịch vụ Ủy nhiệm
chi thường xuyên: an toàn, tiện lợi.
Thủ tục
Khách hàng chỉ cần cung cấp giấy tờ tuỳ thân, đồng thời cung cấp giấy khai sinh/ CMND/ hộ
chiếu/ sổ hộ khẩu hoặc các giấy tờ tương đương của người thụ hưởng.
Bảng 4.2: Biểu lãi suất tiền gửi tích lũy hưu trí
Thời gian (*) Lãi suất (**)

Bảng 4.3: Tình hình huy động vốn tiền gửi tích lũy hưu trí
của SCB An Giang trong quý IV
ĐVT: Triệu đồng
Tháng Doanh số huy động
Tháng 10 10
Tháng 11 15
Tháng 12 25
Tổng cộng 50
Nguồn: Phòng kế toán ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang
Tình hình huy động trên được thể hiện qua biểu đồ sau:

Từ biểu đồ trên ta thấy lượng tiền qua huy động từ sản phẩm này qua các tháng đều tăng mặc
dù con số này không cao do sản phẩm này còn mới mẻ, khách hàng chưa hiểu hết những ưu điểm
của nó nhưng sản phẩm này vẫn có tăng qua các tháng cho thấy ngân hàng đã tiếp thị tốt sản phẩm
đến khách hàng và khách hàng cũng thấy được lợi ích có được từ sản phẩm này.
Tháng đầu tiên khi áp dụng sản phẩm này ngân hàng chỉ huy động được 10 triệu đồng do hình
thức gửi này còn mới và xa lạ đối với khách hàng. Nhưng đến tháng thứ 2 của quý thì lượng vốn
huy động từ sản phẩm này đã tăng lên 50% thành 15 triệu đồng. Đến tháng 12 của năm chi nhánh
đã huy động với tốc độ tăng 67% từ sản phẩm, đạt 35 triệu đồng. Tổng huy động lũy kế tính đến
hết tháng 12 năm 2007 là 50 triệu đồng.
Mặc dù hình thức huy động này cũng thu hút được vốn huy động nhưng so với các hình thức
gửi tiền khác thì hình thức này chiếm tỷ trọng còn rất thấp do sản phẩm còn mới nên chưa quen
thuộc với khách hàng vì thế chưa hấp dẫn được họ. Do đó ngân hàng cần phải nổ lực hơn nữa
trong quá trình giới thiệu sản phẩm đến với khách hàng, hướng dẫn họ lựa chọn hình thức gửi tiền
phù hợp sao cho vừa mang lại lợi ích cho khách hàng đồng thời cũng mang lại lợi ích cho ngân
hàng.
4.2.2 Tiết kiệm thông thường tặng thêm lãi suất đối với chủ thẻ tiết kiệm từ 50 tuổi trở lên
Tiết kiệm thông thường
Tiết kiệm thông thường là hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn, không
giới hạn về thời gian gửi và số tiền gửi. Đây là phương pháp gửi tiết kiệm đơn giản và thuận tiện.

hạn. Đối với loại tiền gửi lĩnh lãi hàng tháng, hàng quí và hàng năm, nếu khách hàng rút vốn trước
hạn, SCB sẽ khấu trừ phần lãi đã rút và chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn.
Trường hợp chủ sở hữu sổ tiết kiệm không đi rút tiền được thì có thể ủy quyền cho người khác
lĩnh thay. Người được ủy quyền phải xuất trình các giấy tờ: Thẻ Tiết kiệm,
giấy ủy quyền, giấy chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu của người được ủy quyền. Tặng thêm
lãi suất 0.6%/ năm cho chủ sổ tiết kiệm VNĐ và 0.15%/năm cho chủ sổ Tiết kiệm USD từ 50 tuổi
trở lên gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, với số tiền tối thiểu 10.000.000 đồng (hoặc 700
USD) theo hình thức lĩnh lãi định kỳ và cuối kỳ.
Nếu chủ sổ tiết kiệm rút vốn trước hạn sẽ không được hưởng lãi suất tặng thêm.
Ưu điểm của sản phẩm
Có lãi suất kỳ hạn 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần… thay vì gom vào nhóm
không kỳ hạn. Lãi suất cao, linh hoạt theo kỳ hạn gửi tiền và số tiền nhàn rỗi của khách hàng, do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status