Biểu đồ 4.1: Tình hình huy động vốn
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
TMCP SÀI GÒN – CN AN GIANG
4.1. Tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang
Sự phát triển thị trường vốn tại Việt Nam trong những năm gần đây đã tạo nhiều sức ép lên
huy động vốn của ngành Ngân hàng. Ngay trong nội bộ ngành thì việc cạnh tranh trong hoạt động
huy động vốn giữa các Ngân hàng cũng diễn ra ngày càng gay gắt cả về quy mô lẫn hình thức.
Đứng trước tình hình này SCB đã nổ lực đẩy mạnh hoạt động huy động vốn của mình thông
qua việc phát triển mạng lưới Chi nhánh và các phòng giao dịch, cùng với việc tăng lãi suất cũng
như tăng cường các chương trình khuyến mãi, các sản phẩm huy động hấp dẫn. Và cụ thể là trong
thời gian qua tình hình huy động vốn tại SCB – An Giang đạt được kết quả cụ thể như sau:
Bảng 4.1: Tình hình huy động vốn của SCB – An Giang trong năm 2006 và 2007
Chỉ tiêu
06 tháng
năm
2006
Năm
2007
Chênh lệnh năm
2007/2 – 06 tháng
năm 2006
Giá trị Tỷ lệ
Tiền gửi thanh toán 10,926 36,604 7,376 68%
Tiền gửi tiết kiệm 10,865 67,705 22,988 212%
- Tiền gửi có kỳ hạn 10,338 67,047 23,186 224%
- Tiền gửi không kỳ hạn 527 658 (198) -38%
Tổng cộng 21,791 104,309 30,364 139%
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của SCB - An Giang)
ĐVT: Triệu đồng
Ta thấy nguồn vốn huy động trong năm 2006 là 21.791 triệu đồng, đến năm 2007, nguốn
vốn này lên đến 104.309 triệu đồng tăng 30.364 triệu đồng, ứng với tốc độ tăng là 139% so với
Trong những năm gần đây kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ cao. Sự
kiện Việt Nam gia nhập WTO là một cơ hội tạo đà đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh.
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển nhanh như vậy thì nhu cầu vốn cho nền kinh tế cũng tăng
mạnh là một tất yếu.
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, SCB đã không ngừng nâng cao năng lực, tái
cơ cấu và chấn chỉnh lại bộ máy hoạt động, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ cũng như quy trình
quản lý. Bằng cách tung ra các sản phẩm tín dụng hấp dẫn, linh hoạt, phù hợp với từng vùng, từng
nhóm đối tượng cụ thể, SCB đã cải thiện tình hình, nâng cao hiệu quả kinh doanh với tốc độ
nhanh.
Doanh số cho vay theo thời hạn
SCB – An Giang đầu tư tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn cho tất cả các TPKT trong các
lĩnh vực khác nhau như: công nghiệp, xây dựng, kinh doanh, dịch vụ,… và mục đích của cho vay
ngắn hạn là để bổ sung nhu cầu vốn lưu động, tài trợ nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, đầu tư
TSCĐ đối với cho vay trung dài hạn…. hoạt động cấp tín dụng tại SCB – An Giang đều tăng
trưởng qua các năm, với tốc độ tăng trưởng khá cao. Trong thời gian qua, SCB – An Giang đã đạt
được kết quả như sau:
Bảng 4.2: Doanh số cho vay theo thời hạn cho vay
06 tháng
năm 2006
Năm 2007
Chênh lệch năm
2007/2 – 06 tháng năm
2006
Giá trị Tỷ lệ
Ngắn hạn 23,717 171,607 62,087 262%
Trung và dài hạn 519 155,840 77,401 14,913%
Tổng 24,236 327,447 139,488 576%
(Nguồn: Phòng Tín dụng và bảo lãnh tại SCB - An Giang)
ĐVT: Triệu đồng
Doanh số cho vay tăng trưởng theo các năm. Cụ thể là trong năm 2007 đạt 327.447 triệu
gian thu hồi vốn lâu, thường có rủi ro tương đối lớn. Vì vậy, thận trọng trong việc thẩm định và
xét duyệt cho vay đối với Ngân hàng là một việc hết sức cần thiết.
Biểu đồ 4.3: Doanh số cho vay phân theo TPKT
Bên cạnh cho vay ngắn hạn đạt doanh số cao thì cho vay trung và dài hạn cũng đạt được
kết quả đáng kể như: trong năm 2007 DSCV tăng 77.401 triệu đồng, tốc độ tăng gần 15 lần so với
năm 2006. Với sự tăng trưởng này là do trong đầu tháng 10 năm 2007, Ngân hàng có xuất cho vay
một khách hàng lớn. Ngoài ra, DSCV tăng lên cho thấy nhu cầu vốn đầu tư của các đơn vị SXKD
trong tỉnh tăng cao, các phương án SXKD có tính khả thi và có tính thuyết phục về hiệu quả kinh
tế. Hơn nữa theo quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, cho phép
các NHTM được sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Nhờ sự
thuận lợi này đã góp phần đưa DSCV trung và dải hạn tăng lên.
Lãi suất cho vay đối với thể loại này cao hơn cho vay ngắn hạn, với phương thức trả lãi
hàng tháng và trả vốn gốc theo kỳ (3 tháng hoặc 6 tháng) nên phần nào hạn chế được rủi ro và thu
lợi nhuận cao.
Tóm lại, hoạt động cấp tín dụng ở các NHTM nói chung và SCB – An Giang nói riêng
thì tín dụng ngắn hạn luôn chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng doanh số cho vay. Do đó thu nhập của
Ngân hàng chủ yếu từ việc cấp tín dụng ngắn hạn. Ở mỗi phương thức cho vay ngắn hạn hay trung
dài hạn đều có những mặt tích cực của nó, vì vậy tùy vào khả năng cung ứng vốn của Ngân hàng ở
mỗi thời điểm, tùy vào nhu cầu của khách hàng cũng như xu hướng phát triển chung của nền kinh
tế mà Chi nhánh quyết định nên bổ sung vốn vào loại hình kinh doanh nào để cho vay ngắn hạn
tăng trưởng nhanh hay cho vay trung dài hạn. Vì thế, khi cho vay phải nhận thức tìm hiểu đầy đủ
về khách hàng, xem xét đánh giá kỹ trước khi quyết định cho vay.
Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế
Ta có số liệu về doanh số theo thành phần kinh tế cụ thể như sau:
Bảng 4.3: Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế
ĐVT
06 tháng
năm 2006
Năm 2007
Chênh lệch năm 2007/2
tăng lên gấp 2 lần so với năm 2006.
Trong thời gian qua DSCV doanh nghiệp đều chiếm tỷ trọng cao trong tổng DSCV. Từ đó
mà thu nhập của Chi nhánh từ hoạt động cấp tín dụng cũng chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu
nhập. Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng cần phải duy trì các khách hàng truyền thống, mở rộng quan
hệ với các khách hàng mới để đảm bảo tăng trưởng tín dụng trong thời gian tới.
Nhìn chung, tình hình cho vay tại Ngân hàng trong thời gian qua có doanh số cho vay đều
tăng, nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng này là do Ngân hàng rất chú trọng đến việc đầu tư tín
dụng, Ngân hàng đã mở thêm phòng giao dịch thu hút được nhiều khách hàng có nhu cầu vay vốn
đến giao dịch. Hơn nữa, sản phẩm vay của Ngân hàng đa dạng với nhiều hình thức như vay trả
góp, cầm cố, tín chấp…..và phong cách phục vụ của cán bộ nhân viên luôn vui vẻ, nhiệt tình, sẵn
sàng trao đổi hướng dẫn khách hàng khi có yêu cầu. Ngoài ra, thủ tục, hồ sơ đăng ký vay vốn đơn
giản, nhanh gọn. Do đó, Ngân hàng ngày càng thu hút được nhiều khách hàng đến giao dịch.
4.2.2. Phân tích doanh số thu nợ
Song song với nghiệp vụ cho vay thì hoạt động thu nợ cũng được tiến hành thường xuyên, liên
tục nhằm đảm bảo việc thu hồi vốn được đầy đủ, và hoạt động cho vay tiếp tục được duy trì và
Biểu đồ 4.4: Doanh số thu nợ theo thời hạn
phát triển. Vì vậy, việc thu nợ có hiệu quả hay không sẽ được thể hiện qua doanh số thu nợ. Ngoài
ra, DSTN còn thể hiện khả năng đánh giá của CBTD có chính xác không, đồng thời cũng phản ánh
chất lượng tín dụng của Ngân hàng và việc sử dụng vốn vay của khách hàng có đem lại hiệu quả
hay không.
Trong năm qua, tình hình thu nợ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang cũng
đạt được kết quả đáng khích lệ, cụ thể như sau:
Doanh số thu nợ theo thời hạn
Ta có bảng số liệu về tình hình thu nợ theo thể loại cho vay sau:
Bảng 4.4: Doanh số thu nợ theo thời hạn cho vay
06 tháng
năm 2006
Năm 2007
Doanh số thu nợ theo thành phần kinh tế:
Ta có bảng số liệu về thu nợ theo TPKT như sau:
Bảng 4.5: Doanh số thu nợ theo thành phần kinh tế
06 tháng
năm 2006
Năm 2007
Chênh lệch Năm
2007/2 – 06 tháng năm
2006
Giá trị Tỷ lệ
Doanh nghiệp 850 5,672 1,986 234%
Hộ SXKD cá thể 111 22,690 11,234 10,121%
Khác 103 6,594 3.194 3,101%
Tổng 1,064 34,956 16,414 1,543%
(Nguồn: Phòng Tín dụng và bảo lãnh tại SCB - An Giang)
ĐVT: Triệu đồng