THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ HOÁN ĐỔI NGOẠI HỐI Ở VIỆT
NAM
I . BỐI CẢNH THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1. Đặc trưng thị trường tài chính thế giới
Từ thập kỉ 70 đến nay , đây là giai đoạn phát triển vượt bậc của các trung tâm tài
chính lớn trên thế giới cả về qui mô, số lượng , chất lượng loại hình dịch vụ cũng
như mức độ liên kết giữa các thị trường . Trong đó có một số điểm đáng chú ý là :
1.1. Xu hướng toàn cầu hoá thị trường tài chính.
Xu huớng quốc tế hoá thị trường tài chính phát triển từ sau chiến tranh thế giới
II , khi nguồn vốn USD đổ từ Mĩ đi khắp nơi trên thế giới, còn các nhà đầu tư nước
ngoài lại tập trung vào tín phiếu và trái phiếu kho bạc Mĩ . Thông qua thị trường
vốn quốc tế, nhà kinh doanh dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn bổ sung từ nước ngoài
khi việc tiếp cận khu vực vốn nội địa ngày càng khó khăn và phức tạp . Nhà đầu tư
tài chính lựa chọn được cơ hội sinh lời cao hơn , đồng thời đa dạng hoá danh mục
đầu tư , giảm thiểu rủi ro. Nguồn vốn có xu hướng chu chuyển từ quốc gia có ít cơ
hội đầu tư và lợi nhuận thấp sang những quốc gia có nhiều cơ hội và tỉ suất lợi
nhuận đem lại cao hơn. Đặc biệt trong những năm gần đây khu vực châu Á nổi lên
như một khu vực có nhiều tiềm năng , tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu hút dòng
vốn đầu tư từ nhiều nơi, tuy cuộc khủng hoảng tài chính năm 97 đã làm chững lại
và có phần suy giảm song đây vẫn là khu vực đầy hứa hẹn đối với những nhà đầu
tư quốc tế .
Thị trường tài chính , đặc biệt là của các quốc gia phát triển ngày càng mở rộng
và liên kết chặt chẽ hơn . Xu hướng tự do hoá và quốc tế hóa tài chính với các định
chế riêng được khuyến khích phát triển. Các hoạt động cho vay, luân chuyển
nguồn vốn giữa các khu vực , các quốc gia ngày càng rộng mở . Kết quả là các
biến số kinh tế vĩ mô của các quốc gia phụ thuộc và chịu ảnh hưởng sâu sắc lẫn
nhau hình thành mối quan hệ đa chiều , có tính chất tương tác .
1.2. Tỉ giá ngày càng biến động mạnh và khó kiểm soát.
Dưới tác động của làn sóng khoa học và công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ
thông tin điện tử cũng như của qúa trình tự do hoá, nhiều biến đổi đã xảy ra trong
lĩnh vực tài chính –tiền tệ trong những thập kỉ cuối thế kỉ XX. Những biến đổi đó
Cố định
mềm
Thả
nổi
Tất cả các nước
25
(16%)
98
(62%)
36
(23%)
45
(24%)
63
(4%)
77
(42%)
Các nước công
nghiệp phát triển
và các nước có thị
trường mới nổi
3
(5%)
36
(65%)
16
(29%)
14
(25%)
15
Nguồn : IMF . Annual Report 2000 ; Stanley Fischer “ Exchange Rate Regimes” Is the Biporlar
View Correct ”Finance & Development , June 2001
1.3. “ Đa cực hoá” các đồng tiền và thị trường tài chính - tiền tệ thế giới
Trật tự hai cực trước đây bị phá vỡ , kinh tế thế giới phát triển không đồng
đều giữa các quốc gia và các khu vực, làm xuất hiện trật tự kinh tế mới theo hướng
đa cực . Đô la Mĩ giữ vai trò là đồng tiền chủ đạo trong hệ thống tài chính – tiền tệ
quốc tế. Xét trên khía cạnh lí thuyết , đồng tiền đóng vai trò chủ đạo là đồng tiền
đóng vai trò thước đo giá trị quốc tế, phương tiện thanh toán quốc tế và công cụ dự
trữ quốc tế , nói cách khác , đó phải là đồng tiền của nước có tỉ trọng kinh tế và
thương mại lớn nhất thế giới. Hiện nay đôla Mĩ vẫn là đồng tiền được mua buôn
bán nhiều nhất trên các thị trường ngoại hối quốc tế . Trong khoảng thời gian từ
1989-2001, tỉ trọng của đô la Mĩ trong các giao dịch ngoại hối quốc tế luôn chiếm
tới 82-90,4% . Tuy nhiên bên cạnh đồng USD, các đồng tiền khác như DEM ,
EUR, GBP, JPY cũng là những đồng tiền mạnh , ổn định và có mặt thường xuyên
trong các giao dịch ngoại hối quốc tế, đấy là những đồng tiền có sức cạnh tranh với
đồng USD, cho thấy xu thế đa cực hoá các đồng tiền ngày một rõ nét. Những thị
trường tài chính sôi động nhất hiện nay là NewYork , Frankfurt , London, Zurich,
Tokyo...Các khu vực tài chính quan trọng trong tương lai gồm Mĩ, EU , Nhật Bản ,
Trung quốc , ASEAN , Mĩ la tinh....
1.4. Xu hướng thiết lập các đồng tiền chung trong khu vực
Tự do hoá thương mại quốc tế, việc giảm hàng rào thuế quan, hạn ngạch ,
tạo sự thông thoáng, mở rộng hành lang mậu dịch , khiến cho các nước tiến đến
gần nhau hơn trong xu hướng hội nhập chung . Đặc biệt là đối với một số quốc gia
có vị trí địa lí gần nhau, có trình độ kinh tế xã hội tương tự nhau đã đi đến thành
lập các khu vực tự do thương mại , không chỉ nhằm mục đích hỗ trợ cùng phát
triển mà còn tạo sự đối trọng đối với các khu vực khác. Việc thành lập khu vực
mậu dịch tự do làm phát sinh một số vấn đề tài chính – tiền tệ quan trọng , như vai
trò chủ đạo của một đồng tiền mạnh và ổn định trong khối , có khả năng cạnh tranh
với các đồng tiền có vị thế trên thị trường ngoại hối, các đồng tiền chung lần lượt
ra đời. Một số khu vực quan trọng là :
giá tự do.
Điều chỉnh tỉ giá qua các năm
Lần điều chỉnh 13/ 10/1997 16/02/1998 07/ 08/1998 26/02/1999
Tỉ giá 11.175 11.800 12.998 13.889
Biên độ (+/-%) 10,0 10,0 7,0 0,1
Mức lạm phát 14% 5,6% 10% 6,8%
( Nguồn : NHNN )
Cơ chế tỉ giá chính thức còn nặng về hành chính, chưa linh hoạt với biến động
của thị trường tiền tệ , trong khi đó , nền kinh tế phát triển , các nhân tố thị trường
phát huy tác dụng , các quan hệ hợp tác giao lưu kinh tế mở rộng , đặc biệt là hợp
tác quốc tế, đòi hỏi có những chuyển biến thích hợp trong cơ chế điều hành tỉ giá
và thống nhất giữa tỉ giá chính thức và tỉ giá liên ngân hàng nhằm ổn định thị
trường ngoại tệ và sau đó là ổn định nền kinh tế , điều hoà các mối quan hệ giữa
các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế .
Ngày 25/ 02 /1999, NHNN Việt Nam chính thức công bố : Quyết định số
64/1999/QĐ-NHNN 7 về việc công bố tỉ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam với các
ngoại tệ, và Quyết định số 65 về việc qui định nguyên tắc xác định tỉ giá mua bán
ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ . Nói chính xác
thì tỉ giá không còn là công cụ mà là mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ
thông qua kênh giá tài sản. Cơ chế mới này linh hoạt ở chỗ : thứ nhất , nó phản ánh
chính xác và linh hoạt giá trị thực tế sức mua đối ngoại của VND ; thứ hai, Nhà
nước có thể can thiệp thị trường ngoại hối chủ động hơn bằng các biện pháp kinh
tế thay vì chỉ sử dụng các biện pháp hành chính như trước . Từ ngày 26 / 02/ 1999
NHNN công bố hàng ngày tỉ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng giữa VND/ USD . Căn cứ vào đó tổng giám đốc hoặc giám đốc các tổ
chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ xác định tỉ giá mua bán ngoại tệ theo
nguyên tắc: đối với USD không được vượt quá 1% so với tỉ giá NHNN công bố
ngày giao dịch gần nhất trước đó ; đối với các ngoại tệ khác do các TCTD tự xác
định. Từ đầu năm 1999 , tỉ giá hối đoái tăng khá đều đặn , bám sát tỉ giá thực , thị
trường ngoại hối tương đối ổn định.
vốn khả dụng làm cho thị trường nội tệ liên ngân hàng hầu như không còn hoạt
động.
Từ 1/1/1996, NHNN chỉ qui định trần lãi suất cho vay ,và giới hạn chênh lệch
lãi suất cho vay – tiền gửi bình quân tối đa là 0,35 %/ tháng , từ đó các ngân hàng
thương mại tự qui định lãi suất cụ thể . Việc xoá bỏ qui định về chênh lệch lãi suất
đầu năm 1998 và việc kiểm soát lãi suất tiết kiệm ngoại tệ năm 2000 , đã tạo cơ sở
tự do hoá lãi suất . Trong năm 1999 và 2000 , giảm liên tục trần lãi suất cho vay ,
do những dấu hiệu giảm phát và tình hình mất cân đối cung - cầu tín dụng trong
nền kinh tế, tuy nhiên không đạt được mục tiêu thống nhất chính sách lãi suất và
kích cầu đầu tư.
Ngày 2/ 8/2000, Thống đốc NHNN ban hành : Quyết định 241/2000/QĐ-
NHNN1 công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở ấn định lãi suất cho vay bằng VND. QĐ
243 công bố biên độ lãi suất USD , các ngoại tệ khác do tổng giám đốc hoặc giám
đốc tổ chức tín dụng quyết định . Lãi suất cơ bản xác định trong từng thời kì , phụ
thuộc chính sách tài chính –tiền tệ quốc gia, cung cầu vốn trong nền kinh tế và lãi
suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng . Lãi suất thị trường dần có chiều
hướng tăng trở lại, các NHTM cũng giải quyết được vốn dư thừa bằng tín phiếu
kho bạc, đầu tư ngân sách ; cầu tín dụng trong nền kinh tế đều tăng, đặc biệt trong
hoạt động XNK ...Từ tháng 6-2001 , Ngân hàng Nhà nước chính thức thực hiện cơ
chế tự do hoá lãi suất ngoại tệ , tiếp đến tháng 6-2002 thực hiện cơ chế lãi suất cho
vay thoả thuận Đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Theo đó,
các TCTD được quyền chủ động trong qui định cụ thể lãi suất tiền gửi và lãi suất
cho vay của mình trên cơ sở cung cầu vốn , quan hệ với khách hàng .
Một loạt những thay đổi và biến động trong việc điều chỉnh lãi suất đồng nội tệ
và ngoại tệ cùng với cơ chế điều hành linh hoạt cuả NHNN đã mở rộng quyền
chủ động của các TCTD , tạo được liên hệ giữa lãi suất nội tệ và ngoại tệ, lãi suất
USD trong nước và lãi suất USD trên thị trường quốc tế ( cụ thể là lãi suất SIBOR
trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Singapore). Tuy vốn vào ra ngân hàng chủ
yếu là ngắn hạn, chưa phù hợp nhu cầu nguồn vốn lớn, ổn định trung và dài hạn
cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nhưng nhìn chung ngân
bằng cung – cầu
Bên cạnh mặt góp phần bình ổn tỉ giá và đáp ứng nhu cầu ngoại tệ trong nước ,
trung tâm giao dịch ngoại tệ cũng bộc lộ những yếu kém : Phạm vi hẹp , đa phần
chỉ bó gọn ở giao dịch trực tiếp giữa NHNN (Chi nhánh Hà Nội) và các doanh
nghiệp...
* Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (INTERBANK)
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Việt Nam (Interbank Foreign Exchange
Market) được thành lập theo quyết định 203/ QĐ-NH9 và quyết định 203/ QĐ-
NH13 về qui chế tổ chức và hoạt động của Interbank-là thị trường của các ngân
hàng , nơi diễn ra hoạt động mua bán ngoại tệ giữa các NHTM với nhau hoặc giữa
NHTM với NHNN, do NHNN tổ chức và điều hành . Ngày 01/10/1994 , thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng chính thức đi vào hoạt động với 7 loại tiền tệ được mua
bán chủ yếu : USD, DEM, GBP, FRF, JPY, HKD,VND. Các loại giao dịch ngoại
hối được phép thực hiện trên thị trường gồm có : giao dịch giao ngay, kì hạn và
hoán đổi (3/5 nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối cơ bản , chưa có giao dịch tương lai
và quyền chọn ). Doanh số tối thiểu cho mỗi giao dịch là 50.000 USD hoặc các loại
tiền khác tương đương , tỉ giá áp dụng là tỉ giá mua và tỉ giá bán trên cơ sở tỉ giá
bình quân USD/VND do NHNN công bố trong biên độ nhất định tuỳ từng thời kì ,
lúc cao lên đến +/- 10%, lúc thấp là +/-0,1% . Giao dịch được thực hiện qua điện
thoại , telex, fax, hoặc mạng vi tính . Các tổ chức tín dụng thành viên phải mở tài
khoản ngoại tệ và nội tệ tại sở giao dịch ( SGD ) NHNN , cuối mỗi ngày giao dịch
viên phải báo cáo tình hình mua bán ngoại tệ trên thị trường , trạng thái ngoại hối
cho SGD. Trong ngày , nếu các TCTD không tự cân bằng được trạng thái ngoại
hối thì liên hệ với NHNN với tư cách là người mua bán cuối cùng nhằm đảm bảo
tuân thủ qui chế của NHNN . So với trung tâm giao dịch ngoại tệ thì thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng là một bước phát triển đáng kể .
Doanh số giao dịch bình quân tháng trên Interbank
Năm 1997 1998 1999 2000
Doanh số giao dịch
(tr USD )
Trước hết xin bàn về sự ra đời của nghiệp vụ hối đoái hoán đổi tại Việt Nam ,
liệu sự ra đời của nó có phù hợp và cần thiết không trong điều kiện hiện nay ? Nhìn
lại một cách tổng quát , Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường còn sơ
khai, thị trường tiền tệ mới được hình thành, thị trườngchứng khoán chưa được
quan tâm một cách đúng mức, thị trường ngoại hối rời rạc với những giao dịch nhỏ
lẻ, manh mún. Các NHTM chủ yếu chỉ tiến hành nghiệp vụ giao ngay phục vụ nhu
cầu thanh toán của khách hàng và kinh doanh tiền gửi nước ngoài . Tuy vậy cũng
có thể nhận thấy từ khi tiến hành công cuộc đổi mới cho đến nay , nước ta đã đạt
nhiều thành tích to lớn trên mọi lĩnh vực , đặc biệt trên mặt trận kinh tế. Tốc độ
tăng trưởng trong những năm gần đây luôn ở mức cao, thương mại trong nước
cũng như hoạt động ngoại thương đang trên đà khởi sắc, kim nghạch XNK gia tăng
theo từng năm . Sự tăng trưởng về kinh tế đã tác động tích cực lên thị trường tài
chính , buộc nó phải tự vận động trong một guồng quay chung , bắt nhịp cùng với
kinh tế đất nước trong giai đoạn chuyển mình . Cánh cửa Việt Nam đang mở rộng
cho bạn bè quốc tế , các hoạt động chuyển giao công nghệ , thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài và đặc biệt là hoạt động giao thương diễn ra trên diện rộng , khiến nhu
cầu sử dụng ngoại tệ trong giao dịch tăng mạnh và ngày càng có chiều hướng phổ
biến hơn . NHNN một mặt có chính sách quản lí ngoại hối thích hợp , một mặt
khuyến khích tạo điều kiện cho thị trường ngoại hối Việt Nam hình thành và đi vào
hệ thống để phục vụ cho nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân . Đặc
biệt là việc áp dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới , phù hợp với yêu cầu
của thời đại và xu thế chung của thị trường tài chính khu vực và quốc tế . Các giao
dịch kinh tế có yếu tố nước ngoài gia tăng về qui mô với các hợp đồng thương mại
có giá trị lên tới hàng triệu USD khiến các nhà kinh doanh XNK Việt Nam cũng
như các thương nhân nước ngoài tại Việt Nam không chỉ quan tâm đến các dịch vụ
ngân hàng truyền thống liên quan đến hoạt động thanh toán mà còn quan tâm đến
các công cụ bảo hiểm và phòng ngừa rủi ro tỉ giá , đảm bảo an toàn cho nguồn vốn
ngoại tệ , ứng biến với những tình hình tài chính thất thường có thể xảy ra . Đứng
trước đòi hỏi mới , NHNN phải nghiên cứu tạo lập và áp dụng những sản phẩm
ngoại hối phái sinh có tính bảo hiểm rủi ro cao nhằm đa dạng hoá các sản phẩm
thiếu hụt vốn hay khi lãi suất của các đồng tiền khác nhau có sự biến động . Như
vậy sẽ hình thành nên một mạng lưới hỗ trợ về vốn giữa các NHTM . Đối với
NHTW hoán đổi sẽ là một công cụ hữu ích trong việc can thiệp và điều tiết thị
trường khi cần thiết .
Xuất phát từ những lợi ích thiết thực và phù hợp với thực tiễn đó , nghiệp vụ
hoán đổi ngoại hối đã được chính thức áp dụng với một mức độ nhất định ở Việt
Nam và NHNN đã có những qui định pháp lí nhằm điều chỉnh loại hình giao dịch
này trong từng giai đoạn khác nhau , phù hợp với môi trường kinh tế –tài chính-
văn hoá -xã hội nước ta . Dần từng bước phát triển đưa giao dịch hoán đổi thực sự
trở thành một công cụ không thể thiếu trên thị trường ngoại hối trong nước, phát
huycao độ vai trò của nó .
2. Các qui định pháp lí về nghiệp vụ hoán đổi ngoại tại Việt Nam .
Ở trên khoá luận đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến bối cảnh tài chính –
tiền tệ trên thế giới và trong nước, giới thiệu những biến động và thay đổi về tỉ giá
và lãi suất, sự ra đời và hoạt động của thị trường liên ngân hàng, phần nào phân
tích đến vai trò và sự cần thiết ra đời của loại hình giao dịch này tại Việt Nam. Đây
là những nhân tố có tác động và ảnh hưởng mạnh đến thị trường hối đoái nói
chung và cụ thể hơn là đến các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối trong đó có nghiệp
vụ hoán đổi .
Tại Việt Nam , nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối chính thức ra đời từ khi NHNN
ban hành qui chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số
17/1998/QĐ- NHNN7 ngày 10/ 01/1998. Theo đó, giao dịch hối đoái hoán đổi
được định nghĩa là giao dịch hối đoái bao gồm đồng thời hai giao dịch : giao dịch
mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác
(chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kì hạn thanh toán của
hai giao dịch khác nhau và tỉ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm kí
hợp đồng.
Quyết định này đã tạo điều kiện cho các NHTM Việt Nam triển khai việc thực
hiện các giao dịch hoán đổi ngoại tệ tại Việt Nam. Liền đó năm 1998 là năm thị
trường ngoại hối nước ta có nhiều biến động do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
hàng . Không phải ngân hàng nào cũng đủ năng lực để tiến hành giao dịch , ở Việt
Nam chỉ có những Ngân hàng thương mại có đủ các điều kiện sau sẽ được NHNN
xem xét cấp giấy phép kinh doanh giao dịch hối đoái hoán đổi :
Có quyết định của Thống đốc NHNN cho phép kinh doanh ngoại hối.
Có hệ thống thông tin báo cáo thống kê tốt , nắm được trạng thái ngoại tệ
của các chi nhánh và toàn bộ hệ thống trong ngày.
Có qui chế qui định trạng thái ngoại tệ cho các bộ phận kinh doanh ngoại
hối trong hệ thống .
Báo cáo đầy đủ thường xuyên về doanh số , trạng thái ngoại tệ cho NHNN.
Có đội ngũ cán bộ được đào tạo , thông thạo về nghiệp vụ giao dịch hoán
đổi ngoại hối .
2.2.3. Đồng tiền trong giao dịch hoán đổi
Giao dịch hối đoái hoán đổi được phép tiến hành giữa ngoại tệ với đồng Việt
Nam, ví dụ như : USD/VND, EUR/VND.., hoặc giữa các ngoại tệ với nhau như
USD / EUR . Trong trường hợp cần thiết , NHNN sẽ qui định các đồng tiền không
được phép giao dịch.
2.2.4. Kì hạn của giao dịch hối đoái hoán đổi
* Giao dịch hoán đổi giữa ngân hàng thương mại với nhau hoặc với các tổ chức
kinh tế là pháp nhân Việt Nam có kì hạn : tối thiểu là 7 ngày ( Ban đầu là 1 tháng
và tối đa là 6 tháng kể từ ngày kí hợp đồng giao dịch.)
* Giao dịch hoán đổi Đô -Đồng giữa NHNN và các Ngân hàng thương mại được
thực hiện với các kì hạn: 7, 15, 30, 60, và 90 ngày.
2.3.Các qui định mang tính kĩ thuật