THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẠI VIỆT
2.1 Khái quát về tình hình sử dụng vốn lưu động trong Công ty cổ phần
Đại Việt
2.1.1 Tổng quan về công ty cổ phần Đại Việt
Công ty Cổ Phần Đại Việt ra đời theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
số: 0103002976 ngày 8 tháng 10 năm 2001 của phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế
hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội.
Tên công ty: Công ty Cổ Phần Đại Việt
Tên giao dịch: DAI VIET JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt: DVC., JSC
Địa chỉ trụ sở chính: Số 13 ngõ 174, phố Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng,
Thành phố Hà Nội.
Công ty Cổ Phần Đại Việt được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, tổ
chức và hoạt động theo Luật Công ty trên cơ sở các thành viên tự nguyện tham gia
góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu rủi ro và lỗ tương ứng với phần vốn
góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty theo tỷ lệ cổ phần của công
ty mình sở hữu hoặc đại diện của các chủ sở hữu..
SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CÔNG TY
P. Kế toán
P. Kỹ thuật
Kế toán kho
Kế toán thanh toán
Đại hội đồng cổ đông
Ban Giám đốc
Hội đồng quả trị
Ban kiểm soát
+ Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, bao gồm
tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết.
+ Quản trị công ty:
+ Hội đồng quản trị: do đại hội đồng bầu, là cơ quan thường trực của Đại Hội
danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh do Đại Hội đồng bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức; báo cáo Hội đồng quản trị và các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.
+ Các phòng nghiệp vụ:
+ Phòng kế toán: Hạch toán các nghiệp vụ phát sinh không chỉ cho công ty
mà còn cho các khách hàng của công ty. Quản lý lượng hàng hoá nhập bán. Đây là
phòng có chức năng rất quan trọng của công ty trong quá trình kinh doanh, bám sát
quá trình đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác ,kịp thời phục vụ cho GĐ
ra quyết định đúng đắn .
+ Phòng kinh doanh: phụ trách việc kinh doanh, mua bán, Marketing, trao đổi
hàng hoá, linh kiện máy tính, máy văn phòng và các sản phẩm dịch vụ khác mà
công ty cung cấp.
Phòng kinh doanh làm nhiệm vụ bán hàng, tạo ra doanh thu và lợi nhuận
chính cho công ty. Mục tiêu của phòng kinh doanh là làm tốt khâu bán hàng, mở
rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tổ chức quảng bá hình ảnh, sản phẩm của công
ty trên thị trường.
Bên cạnh đó , theo xu hướng chung của thị trường, phòng kinh doanh có
nhiệm vụ theo sát những biến động của thị trường về giá cả, nhu cầu để tư vấn đa
dạng hoá sản phẩm, mặt hàng kinh doanh đáp ứng nhu cầu khách hàng trong lĩnh
vực chủ yếu về thiết bị công nghệ thông tin.
+ Phòng kỹ thuật: phụ trách công viêc lắp đặt, cài đặt hệ thống, bảo hành, bảo
trì các sản phẩm dịch vụ do công ty cung cấp.
+ Phòng kế toán: gồm có kế toán kho và kế toán thanh toán. Kế toán thanh
toán quản lý chi tiêu chung trong công ty, các phát sinh chi tiêu hàng ngày, từ đó
tập hợp đến cuối kì, đối chiếu nguồn thu, các khoản phải thu, các khoản phải trả,
các khoản chi phí phát sinh trong kì do hoạt động kinh doanh. Báo cáo tổng hợp, tổ
chức ghi chép phản ánh một cách chính xác, kịp thời về hiện trạng bán hàng,
nguồn thu từ hoạt động bán hàng. Trong công viêc của kế toán thanh toán có nhiệm
vụ của kế toán công nợ: Theo dõi hợp đồng kinh doanh, để chốt thời điểm thanh
toán tiền hàng của khách hàng, đồng thời theo dõi hoạt động bán hàng, tiêu thụ sản
chỉ còn 15,17% và 14,19%
Trong cơ cấu vốn kinh doanh, vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn 80% đến
90% . Điều này đã phần nào nói lên được đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh
thương mại như Công ty cổ phần Đại Việt.
2.1.2.2 Cơ cấu nguồn vốn
Bảng số 02: Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của Công ty cổ phần Đại Việt
(năm 2005 - 2007)
Đơn vị tính: triệu đồng.
Chỉ tiêu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số tiền Tỷ trọng % Số tiền Tỷ trọng % Số tiền Tỷ trọng %
Nguồn vốn 628,5 100 956 100 1317,75 100
Nợ phải trả 328,5 52,27 641 67,05 952,75 72,3
Nợ ngắn hạn 228,5 36,35 541 56,59 802,75 60,92
Nợ dài hạn 100 15,91 100 10,46 150 11,38
Vốn chủ sở hữu 300 47,73 315 32,95 365 27,7
Lợi nhuận không
chia
15 1,57 50 3,79
Vốn góp 300 47,73 300 31,38 315 23,9
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán năm 2005, 2006, 2007 của Công ty cổ phần Đại Việt)
Ta thấy trong năm 2005, vốn chủ sở hữu chiếm 47,73% nguồn vốn kinh
doanh, nợ phải trả chiêm 52,27%. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu và nợ phải trả là gần ngang
bằng nhau, điều đó cho thấy phần nào về sự chủ động nguồn vốn kinh doanh của
doanh nghiệp, không quá phụ thuộc vào nguồn vốn đi vay.
Nhưng đến năm 2007, do nhu cầu mở rộng thị trường, công ty đã tăng số
vốn kinh doanh lên 1.317.750.000đ và các khảon nợ của công ty cũng theo đó tăng
lên. Năm 2007 nợ phải trả của công ty là 952.750.000đ chiếm 72,3% tổng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp. Nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn. Với
tình hình kinh doanh hiện nay, việc tăng các khoản nợ ngắn hạn sẽ ảnh hưởng
triệu đồng so với năm 2005, năm 2007 tổng doanh thu là 4756,6 triệu đồng tăng
64,55% tương ứng 2890,75 triệu đồng so với năm 2006. Đồng thời với việc tăng
doanh thu, giá vốn hàng bán cũng tăng. Xem xét giá vốn hàng bán ta thấy năm
năm sau tăng bình quân 65% so với năm trước. Với tốc độ tăng giá vốn như vậy
so sánh với tốc độ tăng doanh thu thì tốc độ tăng giá vốn hàng bán gần ngang
bằng với tốc độ tăng doanh thu , chứng tỏ công ty chưa thực sự đạt hiệu quả cao
trong kinh doanh.
Chi phí năm 2005 khoảng 14% thì sang 2006 và 2007 chi phí chỉ còn
khoảng 11% so với doanh thu.
Ngoài ra, trong hai năm qua các hoạt động kinh doanh của công ty lại đang
có dấu hiệu tăng lên cụ thể là: lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh năm 2006 tăng
đáng kể so với năm 2005 là 90%, năm 2007 so với 2006 là 59,3%. Điều này cho
thấy công ty kinh doanh có hiệu quả.
Tóm lại, tuy còn nhiều khó khăn nhưng nhờ sự cố gắng của toàn bộ cán bộ
công nhân viên công ty kinh doanh và xây dựng nhà đã khắc phục mọi khó khăn
để kết quả kinh doanh năm 2007 đạt kết quả rất tốt. Và với sự nỗ lực này của công
ty chúng ta có thể hoàn toàn tin tưởng hoạt động kinh doanh của Công ty trong các
năm tiếp theo sẽ đạt kết quả tốt hơn.
2.2.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Đại
Việt
2.2.2.1 Vốn và nguồn vốn kinh doanh của Công ty cổ phần Đại Việt
Công ty cổ phần Đại Việt là một doanh nghiệp thương mại nên yếu tố vốn
luôn là một vấn đề quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Sự cần
thiết của vốn và tính ổn định của nguồn vốn luôn được doanh nghiệp chú trọng
quan tâm. Trong bảng số 2 thể hiện cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của doanh
nghiệp trong 3 năm 2005 dến 2007, trên cơ sở đó ta thấy:
• Nguồn vốn thường xuyên = vay dài hạn + vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn thường xuyên năm 2005 = 100 + 300 = 400 triệu đồng chiếm tỷ
trọng 63,64% tổng nguồn vốn.
Nguồn vốn thường xuyên năm 2006 = 100 + 315 = 415 triệu đồng chiếm tỷ