BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ: NGUYỄN THU THỦY
TÊN BÁO CÁO:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SĨC NGƯỜI BỆNH SAU ĐẶT VỊNG
NÂNG PESSARY TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
NĂM 2020
CHUYÊN NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG SẢN PHỤ KHOA
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TIẾN SỸ NGUYỄN THỊ MINH CHÍNH
Nam Định, năm 2020
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Lời cảm ơn ................................................................................................................... 3
Lời cam đoan ............................................................................................................... 4
Danh mục viết tắt ......................................................................................................... 5
Danh mục bảng ............................................................................................................ 6
Danh mục biểu đồ, sơ đồ, hình ảnh .............................................................................. 7
Đặt vấn đề .................................................................................................................... 8
nghiệp, sản phụ đã giúp đỡ tơi trong q trình học tập và hồn thiện chun đề.
Tơi xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, ngày 01 tháng 08 năm 2020
NGUYỄN THU THỦY
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, do chính tơi thực
hiện, tất cả số liệu trong báo cáo này chưa được công bố trong bất kỳ cơng trình nào
khác. Nếu có sai trái tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm.
Tác giả
NGUYỄN THU THỦY
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ÂĐ
Âm đạo
BN
Bệnh nhân
BQ
CTC
Cổ tử cung
POP-Q
Pelvic Organ Prolapse Quantification system
PT
Phẫu thuật
PPĐVN
Phương pháp đặt vòng nâng
SSD
Sa sinh dục
TC
Tử cung
(WHO) - TCYTTG
(World Health Organization) - Tổ chức y tế thế giới
VN
tuy nhiên nhiều bệnh nhân trong nhóm tuổi này có thể mắc các bệnh lí nội khoa đồng
thời hoặc những tình trạng bệnh nặng khác khiến họ có thể khơng được chỉ định phẫu
thuật; hay một số trường hợp khác : sa tái phát nhiều lần, không chấp nhận rủi ro phẫu
thuật hoặc bệnh nhân trẻ tuổi muốn sinh thêm..Vì vậy điều quan trong cho các nhà phụ
khoa sàn chậu hoc la vẫn nên tiếp tục đánh giá và chọn lựa bảo tồn STC.
Trong các phương pháp điều trị bảo tồn thì đặt vòng nâng Pessary âm đạo được sử
dụng nhiều nhất để làm giảm , cải thiện các triệu chứng STC va thường được lựa chọn
cho sa tạng ban đầu va sa tái phat, đây là phương pháp it xâm lấn, chi phí thấp, được
xem là lựa chọn đầu tay của hơn 86% nhà phụ khoa và hơn 98% nhà niệu phụ khoa
Hoa Kì ( nghiên cứu Rabin 2009).vai trị của Pessary vừa chẩn đốn vừa điều trị, có
thể được sử dụng ngắn hạn hay dài hạn hoặc thay đổi theo từng trường hơp bệnh nhân
và tùy thuộc vào mục đích sử dụng.
Hàng ngày công tác tại khoa Khám Phụ Khoa tự nguyện tiếp nhận nguồn bệnh
nhân sa tạng chậu, tôi đã chứng kiến rất nhiều trường hợp bệnh nhân là các cụ nhiều
tuổi đến khám và điều trị. Như trường hợp CụĐỗ Thị Xiêmsinh năm 1922( Ở Ninh
Bình) sa tử cung độ 4, viêm đường tiết niệu, sau khi đặt vòng nâng Pesary cụ rất hài
lòng và tự đặt, tháo vòng. Hay cụNguyễn Thị Đào ( ởSóc Sơn, Hà Nội) sa tử cung độ 3,
gây khó chịu, đau rát, cuộc sống bị ảnh hưởng rất nhiều, sau khi được tư vấn đặt đặt
vòng nâng Pesary cụ thấy thoải mái và rất hài lịng. Những niềm vui đó đã thơi thúc tơi
cho ra ý tưởng và hồn thành chun đề này.Để góp phần cung cấp thông tin tạo sự tin
tưởng về kiến thức- kỹ năng – thái độ cũng như tìm ra những tồn tại trong chăm sóc đối
tượng người bệnh này.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành thực hiện chun đề: "Thực trạng cơng
tác chăm sóc phụ nữ sau đặt vòng nâng Pessary tại Khoa khám phụ khoa Tự
nguyện - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội" nhằm mục tiêu cơ bản sau:
Thực trạng cơng tác chăm sóc phụ nữ sau đặt vòng nâng Pessary tại Khoa khám
phụ khoa Tự nguyện - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
nhánh bên của động tĩnh mạch chậu trong) và mô liên kết nâng đỡ ( mạc nội
chậu ). Vì vậy , bệnh lí bẩm sinh hoặc mắc phải của ba tạng chậu này luôn liên
quan mật thiết với nhau. Mục tiêu phối hợp ba chuyên khoa là điều trị bệnh
chuyên khoa này và không gây hậu quả cho hai chuyên khoa kế cận [24] . Khi
một tạng chậu bị sa, nhất là trên phụ nữ đã trưởng thành , thì các tạng cịn lại ít
nhiều cũng bị ảnh hưởng. Thăm khám trên lâm sàng, ta vẫn thường gặp STC
luôn đi kèm theo rối loạn (són tiểu, tiểu gấp..),đại tiện ( táo bón)..
Hình 1.1 phát triển phơi thai của các tạng chậu. ba tạng chậu có chung
nguồn gốc là Ổ nhớp [23]
1.2 Hình minh họa đáy chậu là một vùng duy nhất
- Vùng đáy chậu nữ bao gồm tất cả các cấu trúc nằm bên trong khung chậu từ
khớp mu đến xương cụt và từ thành chậu bên này sang thành chậu bên kia. Nó
bao gồm khơng chỉ ống tiết niệu dưới, ống sinh sản và ống tiêu hóa dưới, mà
cịn có các thành phần sợi cơ thần kinh nâng đỡ , hệ cơ đáy chậu gồm khối cơ
nâng và khối cơ sàn chậu. khối cơ nâng cung cấp sự nâng đỡ cho tất cả ba tạng
chậu và xuyên qua bởi niệu đạo , âm đạo và hậu mơn. Vì vậy khi nó bị nhão
yếu sẽ dẫn đến khiếm khuyết nâng đỡ của bất kì hoặc tất cả các tạng mà cơ này
nâng đỡ . Rối loạn chức năng cơ có thể do tổn thương dãn hoặc rách. Tuy
nhiên, nguyên nhân thông thường nhất là tổn thương thối hóa thần kinh do
sinh đẻ hoặc chấn thương vùng lưng dưới , hậu quả là liệt bán phần nhóm cơ
do thần kinh bị tổn thương chi phối. Tổn thương thần kinh thẹn có thể dẫn đến
rối loạn chức năng của cơ thắt niệu đạo, cơ thắt hậu môn, và rối loạn cảm giác
và vận động vùng đáy chậu ( rối loạn chức năng đa cơ quan).
- Các tạng chậu được bao phủ bởi những lớp dày tương đối của mô liên kết cơ
thần kinh , được đặt tên là mạc nội chậu. Mạc này cung cấp sự nâng đỡ chung
chằng ngang và phần sau có lỗ niệu đạo đi qua. [20]
Đáy chậu sau (phần hậu mơn)
- Đáy chậu sau có cấu trúc ít phức tạp hơn đáy chậu trước, ở giữa hậu môn , cơ
thắt hậu môn và hố ngồi - trực tràng hai bên. Từ nông đến sâu là hai lớp; lớp
nông và lớp sâu.
- Lớp nông gồm da và hậu môn, tổ chức dưới da. Tổ chức dưới da liên tiếp với
phần tổ chức mỡ ở hố ngồi- trực tràng.
- Lớp sâu hay hố ngồi trực tràng là một vùng chứa nhiều tổ chức mỡ gồm các
thành phần: thần kinh hậu mơn, bó mạch trực tràng dưới.
- Hố ngồi trực tràng có hình tam giác có ba thành: thành trong, thành ngoài,
thành dưới. thành trong tạo nên bởi các cơ: cơ nâng hậu môn, cơ ngồi- cụt, cơ
thắt ngồi hậu mơn. Thành ngồi có mặt trong ụ ngồi và cân bịt. thành dưới là
da và khơng có cân tách biệt [20]
- Nút đáy chậu
- Nút đáy chậu có nút đáy chậu nông và nút đáy chậu sâu:
- Nút đáy chậu nông bao gồm các thớ xơ cơ, là nơi bám trụ của các cơ ỏ giữa
hậu môn và niệu đạo. Bao gồm hai cơ ngang nông là cơ thắt vân hậu môn và
thớ cơ hành - hậu môn. Tổn thương nút đáy chậu rách - đứt sẽ gây ảnh hưởng
đến nhiều cơ của đáy chậu và gây STC.
- Nút đáy chậu sâu bao gồm các thớ xơ cơ, nơi bám trụ của các cơ ở sâu ;mảnh
treo cơ trực tràng niệu đạo, cơ ngang sâu, bó trước của cơ nâng hậu môn.
- Nút đáy chậu nông và nút đáy chậu sâu thực tế là một tổ chức dính chặt vào
nhau, gọi là nút trung tâm. Khi các cơ bị nhẽo, nút trung tâm bị hạ thấp là
nguyên nhân chính gây STC [20]
1.2. Sa tạng chậu
1.2.1 Định nghĩa và dịch tễ học
- Một hội thảo chuyên đề về thuật ngữ được tổ chức bởi Viện Quốc gia về sức
khỏe ( National Intitutes of Health –NIH) bàn về các rối loạn chức năng sàn
chậu nữ pelvic floor disorders –PFDs) đã định nghĩa STC là sự sa xuống của
thành âm đạo >, = về phía màng trinh.
(tuổi cao, giảm ostrogen); áp suất ổ bụng tăng mạn tính (bệnh phổi tắc nghẽn mãn
tính, táo bón, béo phì), chấn thương vùng chậu, yếu tố di truyền (chủng tộc, rối
loạn mô liên kết), cắt tử cung, cột sống đôi.
1.2.2.1 Các rủi ro liên hệ với sản khoa
Trong hầu hết các trường hợp, sinh đẻ là một yếu tố thường gặp nhưng chưa hẳn
là nguyên nhân đầy đủ của bệnh.
- Sinh nhiều: Một nghiên cứu ở nữ cho thấy 34,3% STC thành trước, 18,6% sa
thành sau âm đạo và 14,3% sa tử cung. Trong nghiên cứu này sinh theo đường âm
đạo là yếu tố rủi ro thường gặp nhất. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc
sinh đẻ đã làm gia tăng đáng kể khuynh hướng phụ nữ phát triển STC. Ví dụ,
Theo hội nghiên cứu nâng đỡ sàn chậu (Pelvic Organ Support Study – POSST)
:thì khi sinh càng nhiều tỷ lệ sa càng cao (nghiên cứu Swift, 2005) thêm vào đó
rủi ro sa tạng chậu tăng 1,2 lần cho mỗi lần sinh theo đường âm đạo.
- Các rủi ro khác liên hệ với sản khoa: vẫn còn đang tranh luận giữa các yếu tố
bao gồm cắt khâu tầng sinh môn, tổn thương rách cơ thắt hậu mơn, tê ngồi màng
cứng, dùng forceps, kích thích sinh bằng oxytocin. Đây là các yếu tố rủi ro chưa
được chứng minh xác định.
- Sinh mổ theo yêu cầu: về mặt lý thuyết nếu tất cả phụ nữ đều sinh mổ thì sẽ ít
rối loạn chức năng sàn chậu hơn như mất tự chủ tiểu tiện và STC. Hầu hết các
nhà nghiên cứu đồng ý rằng cần nhiều nghiên cứu lâm sàng hơn nữa để xác định
các mặt lợi hại chính của sinh mổ chọn lọc dự phòng rối loạn chức năng sàn chậu.
Vào thời điểm hiện nay các yêu cầu sinh mổ chọn lọc là phụ thuộc vào sự quyết
định mang tính cá nhân.
1.2.2.2 Tuổi
- Tuổi cao cũng là thuận lợi cho phát triển sa tạng chậu. Theo nghiên cứu của
POSST 100% rủi ro STC gia tăng theo mỗi thời kỳ. Phụ nữ tuổi từ 20 đến 59 tỷ lệ
STC tăng gấp đôi, nguyên nhân gia tăng là do sinh lý lứa tuổi và sự thoái biến cũng
như là làm giảm sản sinh Estrogen.
quan trọng nhất để giữ TC không bị sa. Các trường hợp rách cơ vịng hậu mơn,
màng cơ giãn mỏng, nhân trung tâm của tầng sinh môn bị phá huỷ dẫn tới sa
thành âm đạo sa tử cung.
1.3.3 Nguyên nhân STC
- Bình thường các tổ chức cơ vịng hậu mơn, cơ nâng hậu môn, tổ chức liên kết
và dây chằng TC- cùng, dây chằng vệ-bàng quang, dây chằng rộng vùng chậu
hông đóng vai trị giữ các bộ phận trong tiểu khung chống lại trọng lực và áp
lực ổ bụng. khi các thành phần đó tổn thương, khơng đảm bảo được nhiệm vụ
nâng đỡ sẽ dẫn tới STC. [26]
- Mang thai và sinh đẻ
Thay đổi hormone, tăng cân, trọng lượng của thai nhi ( đặc biệt là thai to) là
những yếu tố ảnh hưởng khi mang thai, kèm theo việc đẻ đường dưới chuyển
dạ kéo dài (giai đoạn II kéo dài), sử dụng forcep hay giác hút làm kéo căng và
tổn thương cấu trúc dây chằng nâng đỡ đáy chậu. do đó chửa đẻ quá nhiều và
liên tục rất dễ gây STC .[26] [29]
- Mãn kinh / người già:
Estrogen đóng vai trị quan trọng trong việc duy trì sức chống đỡ của đáy chậu
. Khi mãn kinh, estrogen giảm cộng thêm những tác động của q trình sinh đẻ
trước đó và tuổi già làm đáy chậu trở nên yếu đi.
+ Áp lực ổ bụng: các yếu tố như béo phì, ho kéo dài ( liên quan đến hút thuốc ,
hen phế quản, viêm phế quản) nâng nhấc vật nặng ( đặc biệt sau đẻ), khối
chiếm chỗ ở khung chậu ( u xơ tử cung) làm tăng áp lực ổ bụng, tác động kéo
dài gây yếu đáy chậu.
+ Yếu tố về gen: một vài phụ nữ sinh ra đã có đặc điểm sức nâng đỡ sàn chậu
kém những người phụ nữ này có nguy cơ cao STC.
+ PT vùng tiểu khung: những phụ nữ trước đó có PT vùng tiểu khung có nguy
cơ cao hơn bị STC.
cộng sự (1995) cảm giác về “ khối nhơ và cái j đó rớt ra ngồi âm đạo” có giá trị
chẩn đốn STC 81%, và thiếu triệu chứng này chọn lọc âm tính là 76%.
-Tiền sử mổ sa tạng, hoặc các PT ổ bụng tăng nguy cơ thất bị điều trị do các dải
dính và giải phẫu vùng bị biến dạng nghiêm trọng. Việc cắt bỏ tử cung được biết
đến như một yếu tố rủi ro của STC. Cắt bỏ TC để lại khiếm khuyết ở đỉnh thành
trước AĐ và việc đóng kín lại hồn tồn khơng phải là việc dễ thực hiện, ngay cả
với các phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm.
- Tiền sử sản khoa gồm sinh thường hay sinh mổ, trọng lượng thai nhi, rách to, hoặc
các chấn thương tầng sinh mơn..hoặc các bệnh lí thần kinh vùng chậu, chấn thương
vùng lưng trước đó; bệnh Parkinson.. cũng góp phần gây bệnh lí mất tự chủ và triệu
chứng STC.
1.2.2 Triêu chứng STC
Các triệu chứng STC nên được đánh giá cẩn thận để xác định đúng là chúng gây
nên bởi nguyên nhân sa tạng hay các nguyên nhân khác.
- Triệu chứng khối phồng: hai triệu chứng hay gặp nhất là cảm giác nặng vùng chậu
hoặc nhìn thấy khối sa vùng chậu. Các triệu chứng này dường như xấu hơn khi sa
tạng tiến triển ( Ellerkmann, 2001).
- Triệu chứng đường tiểu: bệnh nhân STC thường có triệu chứng rối loạn đường
tiểu cùng lúc gồm : tiểu khơng kiểm sốt khi gắng sức, tiểu khẩn cấp, bí tiểu, nhiễm
trùng tiểu, hoặc rối loạn thốt tiểu. Mặc dù các triệu chứng này có thể là do STC
hoặc bị trầm trọng hơn bởi STC thì cũng không nên giả định rằng điều trị PT hoặc
không PT sẽ chữa khỏi được các triệu chứng.Thêm vào đó, việc đặt tạm thời vòng
nâng pessary trước PT nếu cải thiện triệu chứng rối loạn tiểu tiện sẽ báo trước được
kết quả của PT điều trị sa.
- Triệu chứng đường tiêu hóa dưới : táo bón và triệu chứng mất tự chủ hậu môn
thường gặp trong bệnh STC, BN dùng tay đè ép vào thành sau AĐ, thể đáy chậu
hoặc đoạn dưới trực tràng để thoát phân là triệu chứng rối loạn đại tiện thường gặp
- Đặc điểm của bệnh thường gặp ở người 40-50 tuổi trở lên, bệnh tiến triển
chậm, có thể vài năm đến hàng chục năm.
- Tiền sử thường đẻ nhiều, đẻ dày, không được đỡ đẻ an toàn, sau đẻ lao động
nặng sớm.
- Triệu chứng cơ năng gồm khối sa vùng âm hộ, tức nặng bụng dưới, kèm theo
có thể có rối loạn đại tiện tiểu tiện.
- Khám thực thể xác định kích thước, mức độ, nội dung khối sa, tình trạng tầng
sinh mơn, đánh giá vùng tiểu khung có khối u, có dính hay khơng.
1.3.2 Chẩn đốn phân biệt:
- Sa TC với phì đại và kéo dài cổ tử cung do viêm dính
- Các túi thừa niệu đạo với sa bàng quang.
- Lộn lòng tử cung với polyp CTC, u âm đạo.
1.4 Điều trị
Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm điều trị nội khoa và điều trị
ngoại khoa với cùng mục tiêu là phục hồi chức năng giải phẫu và duy trì chức
năng sinh lí của sàn chậu. Việc lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp tùy theo
từng bệnh nhân ( mức độ sa, số tạng sa, độ tuổi, tình trạng sức khỏe, mong muốn
của từng người bệnh ) và khả năng thực hiện tại từng cơ sở y tế. Hiện nay chưa
có phương pháp điều trị nào là hồn hồn hảo 100%, và do vậy việc tư vấn cho
bệnh nhân những mặt lợi hại của từng phương pháp điều trị là thực sự hết sức
cần thiết.
1.4.1 Điều trị nội khoa
- Điều trị nội khoa bao gồm thay đổi thói quen sinh hoạt, tập bàng quang , tập vật
lí trị liệu sàn chậu, sử dụng nội tiết tại chỗ, sử dụng vòng nâng âm đạo.. Mục tiêu
của điều trị nội khoa là nâng cao chất lượng cuộc sống , khơi phục chức năng tiêu
tiểu có kiểm sốt, duy trì được quan hệ tình dục, điều trị dự phịng và hạn chế tái
phát.
- Điều trị thay đổi cách sống : chính là thay đổi hành vi, BN học cách thay đổi các
Pessary khá cao. Biến chứng khi sử dụng Pessary thường không nguy hiểm, và
triệu chứng hay gặp nhất là tiết dịch âm đạo. theo Cundiff và cs 2000 thống kê
trên 359 bác sĩ là thành viên Hội Niệu Phụ Khoa Hoa Kì : 77% sử dụng Pessary là
lựa chọn đầu tay; 92 % khẳng định Pessary giúp làm giảm các triệu chứng STC,
89% chỉ định cho sa thành trước , 60% cho sa thành sau, 74% cho sa vùng đỉnh.
1.4.2 Điều trị ngoại khoa
Chỉ định Sa tạng chậu độ III-IV, có triệu chứng, biến chứng ảnh hưởng tới chất
lượng cuộc sống bệnh nhân, đã thất bại sau điều trị bảo tồn 3-6tháng; và bệnh
nhân yêu cầu phẫu thuật.
- Mục đích PT : nhằm phục hồi hệ thống nâng đỡ TC, giải phóng các khối sa ở
AĐ và cải thiện triệu chứng do rối loạn chức năng sàn chậu gây ra. Việc lựa chọn
kĩ thuật điều trị trong PT dựa vào tuổi, số tạng sa, độ sa, tiền sử có PT ngả AĐ,
bụng chưa, có bệnh lí nội khoa đi kèm khơng; ngồi ra cịn phụ thuộc vào kinh
nghiệm của kĩ thuật viên, điều kiện cơ sở trang thiết bị và nguyện vọng của người
bệnh.
- Nguyên tắc điều trị ngoại khoa : là giảm tối đa phá hủy cấu trúc nâng đỡ,giảm
tối đa diện tích mảnh ghép tổng hợp, và mảnh ghép tổng hợp sử dụng khi phẫu
thuật phải được vùi lấp hoàn toàn.
- Biến chứng của PT : Máu tụ, nhiễm trùng,lộ mảnh ghép,tiểu khơng kiểm sốt,
tiểu khó bí tiểu,đau vùng bẹn,biến chứng của nội soi…
- Quan điểm bảo tồn tử cung của các nhà sàn chậu học trong điều trị STC:
Nguyên tắc PT sửa chữa STC là không làm phá vỡ cấu trúc nâng đỡ vùng chậu.
TC sa chỉ là diễn tiến thụ động mà nguyên nhân gây STC là do suy yếu hoăc
khiếm khuyết các cấu trúc nâng đỡ ( bản cơ nâng, mạc nội chậu và các dây chằng)
,và và việc cắt bỏ ‘ gánh năng ‘ tử cung sẽ có 2 điều bất lợi : 1- làm tăng nguy cơ
sa thêm các tạng còn lại : bàng quang, trực tràng, mỏm cắt.. 2- thành âm đạo ngắn
sau cắt TC, làm giảm hiệu quả của điều trị đặt vòng Pessary trong các trường hợp
sa lại.
hơn.[13],[32].
- Hiện nay dụng cụ nâng đỡ STC chủ yêu được làm bằng silicone- vật liệu mềm,
dẻo dễ sử dụng; có khoảng 200 hình dạng kích thước khác nhau; là chất trơ nên
có độ bền cao,có khả năng chống thấm tốt,khơng thấm nước do đó khơng bị hấp
thu mùi hoặc chất tiết từ âm đạo, ít gây kích ứng; và có thể làm sạch nhiều lần.
Pessary có thể được sử dụng để ngăn chặn các khối sa trở nên tồi tệ hơn, làm
giảm mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng sa để tránh hoặc trì hỗn phẫu
thuật.[13][35].
- Nguy cơ suốt đời cho sa tạng vùng chậu hoặc các PT trong đại tiểu tiện không tự
chủ cho phụ nữ trong độ tuổi 80 là 11.1% và có đến 30% phụ nữ sẽ cần phải PT
lại STC [34]. Bên cạnh đó, việc điều trị sa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
bao gồm cả mong muốn của BN. Trước đây, điều trị bảo tồn sa đã được dành
riêng cho những người sa nhẹ, sức khỏe yếu không đủ điều kiện đẻ tiến hành PT
hoặc những phụ nữ muốn có thêm con [13]. Vì vậy việc nghiên cứu ứng dụng
dụng cụ nâng đỡ sa sinh dục là cần thiết.
1.5.2 Vòng nâng Pessary
Đặt vịng nâng Pessary có tác dụng như một tấm nâng, giữ phần đỉnh của sa
tạng trở về vị trí nằm trên hồnh chậu. Nếu thích hợp và duy trì được chúng sẽ
cải thiện tốt chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, thường dùng nhiều nhất ở
người già, người quá yếu và người bị tái phát nhiều lần. Ở những bệnh nhân trẻ
và hoạt động nhiều cũng có thể có lợi, bệnh nhân có thể mang vịng nâng vào
những lúc đó nhưng khơng thường xun. Tuy nhiên, người bệnh phải có ý thức
tránh làm bệnh nặng thêm bằng cách phải hạn chế và điều trị các yếu tố có thể
làm bệnh phát triển như béo phì, sinh theo đường âm đạo, táo bón, bệnh phổi tắc
nghẽn mãn tính, phẫu thuật vùng chậu, …
Hiện tại, có hơn 20 loại vịng nâng đang được sử dụng phổ biến với nhiều kích
thước và hình dạng khác nhau, chúng là loại silicon mềm gấp lại được. Khoang
âm đạo khơng những ba chiều mà cịn là khoang động thay đổi không những
điều trị bảo tồn sa tạng chậu bằng cách đặt vòng nâng.
1.6.1 Chỉ định :
- Sa tái phát sau phẫu thuật
- Điều trị thử, đánh giá trước PT
- Từ chối, trì hỗn PT
- Cịn muốn sinh thêm
- Mang thai
- BN già yếu, nhiều bệnh lý
1.6.2 Chống chỉ định
- Viêm âm đạo, viêm vùng chậu
- Xuất huyết AĐ chưa rõ nguyên nhân
-Nhạy cảm với latex
-Không thể tự chăm sóc
- Bệnh lýđơng máu
-Thiểu dưỡng âm đạo (tương đối
1.7 Chọn vòng nâng
Ngày nay, dụng cụ nâng đỡ STC chủ yêu được làm bằng silicone, cao su hay
nhựa nhưng silicone được sử dụng nhiều vì tuổi thọ sử dụng kéo dài hơn.[35]. Hầu
hết vòng nâng làm từ silicon sẽ được bao phủ một lớp keo kháng khuẩn, làm giảm
tiết dịch, mùi, nhiễm trùng và có ưu điểm là độ bền và có thể cho vào lị hấp được.
Đây là phương pháp ít nguy hiểm và ít xâm hại nhất cho người bệnh nên luôn được
xem là lựa chọn đầu tiên để làm giảm triệu chứng sa tạng chậu bằng cách giữ yên
các tạng tại chỗ.[13][35].Để đạt hiệu quả tốt nên trọn đặt vịng nâng lớn nhất có thể
được mà khơng gây khó chịu cho người bệnh.
Có hai việc căn bản cho việc chọn vịng nâng, đó là: 1-lỗ âm đạo đã giãn
hoặc còn nâng đỡ tốt. 2- mức độ STC kể cả các khiếm khuyết đặc biệt của thành âm
đạo và độ khỏe của cơ sàn chậu nhìn chung. Ngồi ra, việc lựa chọn kiểu vòng nâng
tủy thuộc vào 2 cấu trúc quan trọng: 1- ống và lỗ ra âm đạo có dạng hình trụ - khơng
loe dạng phễu cho phép 2, 3 ngón tay đút lọt. 2- thể sàn chậu còn nguyên vẹn, dày
chắc và dài. Một cách tổng quát STC có triệu chứng độ 1, 2 nên được điều trị bởi