THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
XĂNG DẦU B12
I. Khái quát chung về công ty xăng dầu B-12
1. Quá trình hình thành công ty xăng dầu B12- Quảng Ninh:
Công ty tiếp nhận xăng dầu Quảng ninh (Tiền thân của Công ty xăng dầu
B12) được thành lập và chính thức hoạt động ngày 27/06/1973. Là công trình
đường ống dẫn dầu đầu tiên ở Việt nam do Liên xô (cũ) giúp ta xây dựng nhằm
tiếp nhận vận chuyển xăng dầu phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước và phát triển kinh tế xã hội.
Từ năm 1975 trở lại đây, cùng với nhịp độ phát triển kinh tế của cả nước &
khu vực, công trình đường ống dẫn dầu luôn được đầu tư mở rộng cả về quy mô và
cấp độ. với hệ thống trên 200 Km đường ống và 5 kho chứa có tổng dưng tích
146.000M3 trải dài trên 5 tỉnh & thành phố công ty xăng dầu B-12 thực sự giữ một
vị trí quan trọng trong PETROLIMEX Việt nam . bởi công ty có nhiệm vụ phải
tiếp nhận vận chuyển toàn bộ xăng dầu cho các nhu cầu kinh tế quôc phòng tại
khu vực phía bắc đồng thời trực tiếp cung ứng xăng dầu cho các nhu cầu kinh tế
tiêu dùng trên địa bàn tuyến ống đi qua. Ngoài ra, Công ty còn có nhiệm vụ dự trữ
quốc gia một lượng xăng dầu nhất định & kinh doanh , Dầu mỡ nhờn , GAS.
Trong công cuộc đổi mới đất nước đặc biệt từ năm 1990 trở lại đây khi nhà
nước chuyển nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường
có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN thì ngành XD nói chung &
công ty xăng dầu B-12 nói riêng cũng chuyển đổi một cách căn bản. Từ chỗ, xăng
dầu nhập khẩu theo kế hoạch chủ yếú từ Liên xô (cũ) theo hiệp định hoặc nghị
định thư giữa hai nhà nước được chuyển sang nhập khẩu theo cơ chế thị trường,từ
đó ngành XD thay đổi chế độ hạch toán & theo đó công ty Xăng Dầu B-12 cũng
thay đổi chế độ hạch toán từ hạch toán báo sổ sang chế độ hạch toán kinh tế độc
lập trong tổng hạch toán chung của toàn nghành xăng dầu với tổng số vốn như
sau.
+ Tổng số vốn đầu tư ban đầu : 877.770 ngàn đồng
Trong đó : - Vốn ngân sách : 843.705 ngàn đồng
- Vốn tự bổ xung : 34.065 ngàn đồng
chức tái xuất sang Trung Quốc với khối lượng khoảng trên 220.000 M
3
Tổ chức bảo quản lượng xăng dầu dự trữ nhà nước tại kho của công ty bình quân
khoảng 52.000m
3
/tháng.
Ngoài chức năng trên công ty còn có nhiệm vụ đảm bảo đầy đủ đáp ứng kịp
thời nhu cầu xăng dầu trong mọi tình huống, là công cụ hữu hiệu điều tiết & bình
ổn gía cả trên thị trường tại khu vực phía bắc
*/ Đặc điểm các mặt hàng và ngành nghề kinh doanh:
+ Công ty trực tiếp kinh doanh Cảng biển (Cảng chuyên dùng).
+ Kinh doanh các loại xăng dầu, xăng Ôtô, Diezel, FO, TC-1, Z-AI, Dầu
hoả, dầu mỡ nhờn các loại.
+ Làm dịch vụ giữ hộ hàng gửi (Hàng dự trữ ) hàng của các doanh nghiệp
khác kinh doanh xăng dầu, qua Cảng và tuyến ống B12, làm dịch vụ đo lường, vận
tải sau chiết khấu.
Bảng số 1 Một số chỉ tiêu kinh tế công ty đã thực hiện qua các năm
ST
T
Chỉ tiêu Đ. Vị tính Thực hiện
2000 2001 2002
1. Tổng doanh thu Tỷđồng 3.986,771 3.993,386 4078,144
2. Lợi nhuận Tỷ đồng 5,766 7,000 5,435
3. Nộp ngân sách Tỷ đồng 1.138,500 1.143,600 1.480,52
4. Thu nhập bình quân đ/ng /tháng 1.135.600 1.517.500 1.795.000
5. Nguồn vốn kinh doanh Tỷ đồng 117,97 121,95 137,31
(Nguồn :Báo cáo quyết toán tài chính các năm 2000,2001,2002)
2.2 Mạng lưới kinh doanh và tổ chức bộ máy:
*/ Mạng lưới kinh doanh của công ty:
Hình 01: Quy trình công nghệ bơm chuyển xăng dầu của công ty
TỔNG KHO
THƯỢNG LÝ
Hệ thống kho chứa tại cảng dầu B-12 có thể chứa được 4 loại hàng với tổng sức
chứa 37000 M
3
+ Chi nhánh , xí nghiệp, kho trạm cửa hàng và bến xuất Ôtô Stec
a/ Chi Nhánh:
- Chi nhánh xăng dầu Hải dương : Trụ sở đóng tại thị xã Hải dương.chi nhánh trực
tiếp quản lý một kho trung chuyển xăng dầu có sức chứa 7200M
3
, gần 100 Km
đường ống ngầm để vận chuyển xăng dầu cho công ty xăng dầu khu vực I ( Hà
nội ) và các công ty xăng dầu Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh.
Bến xuất ô tô Stéc : dùng để xuất hàng cho mạnh lưới bán lẻ với 17 cửa hàng & hệ
thống đại lý của chi nhánh trên địa bàn tỉnh Hải dương đồng thời chi nhánh có
nhiệm vụ cung ứng đầy đủ hàng cho các nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Thái
bình & Hưng yên thông qua mạng lưới bán lẻ của hai tỉnh trên.
- Chi nhánh xăng dầu Hưng Yên : Trụ sở đóng tại thị xã Hưng Yên được thành lập
ngay sau khi tỉnh Hưng yên được tái lập . chi nhánh trực tiếp quản lý 32 Km đường
ống dẫn xăng dầu & 12 cửa hàng bán lẻ trực tiếp bán lẻ, bán buôn cho các nhu cầu
kinh tế tiêu dùng tại tỉnh Hưng yên .
b/ Xí nghiệp :
- Xí nghiệp xăng dầu Quảng ninh : Trụ sở đóng tại P.Hà khẩu Thành Phố Hạ
long Tỉnh Quảng ninh. Xí Nghiệp (XN) trực tiếp quản lý kho xăng dầu có sức chứa
70.000M
3
&gần 70 Km đường ống dân dầu nhằm cung cấp xăng dầu cho các tuyến
sau,01 Bến xuất Ôtô stec có khả năng xuất trên 100 xe/ngày và 11 cửa hàng xăng
dầu trực tiếp phục vụ cho các nhu cầu khu vực miền tây tỉnh Quảng ninh ngoài ra
XN còn có một kho gas & DMN cung cấp cho các nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn
Cơ cấu bộ máy quản lý kinh doanh của công ty thuộc dạng trực tuyến chức năng
được thể hiện qua hình 02.
(Hình 02: cơ cấu bộ máy quản lý của công ty xăng dầu B12)
Ban giám đốc
Ban giám đốc
Phòng
kinh
doanh
Phòng
Kế toán
Phòng
QLKT
đầu tư
Phòng
Xây dựng cơ bản
Phòng tổ chức cán bộ
LĐTL
Phòng tin
học
Phòng
Thanh tra bảo vệ
Phòng kỹ thật xăng dầu
Phòng hành chính
XNXD
Quảng Ninh
Cảng
Dầu
B-12
XNXD
A318
1. Xăng dầu sáng M
3
1.818.957 1.877.149 2.197.497
2. Kinh doanh cảng biển VNĐ 2.498.404.4711 2.789.352.531 2.815.415.324
3. Kinh doanh dầu mỡ
nhờn
Lít 599.398.900 666.421 785.000
4. Kinh doanh Gas Tấn 882 1.016 1.114
Hiện nay, công ty đã mở rộng các cửa hàng bán lẻ với hệ thống các xí nghiệp,
chi nhánh, cảng dầu, công ty còn có 68 cửa hàng trực tiếp kinh doanh xăng dầu và
mạng lưới đại lý tạo thành một mạng liên hoàn đảm bảo cho việc xuất nhập tồn
chứa vận chuyển và cung ứng xâưng dầu cho toàn bộ các nhu cầu kinh tế quốc
phòng cho các tỉnh tại khu vực phía Bắc.
2.5. Mô hình tổ chức công tác kế toán của phòng kế toán công ty
Phòng kế toán công ty là một trong 9 phòng ban của công ty. Phòng kế toán
công ty chịu sự chỉ đạo trực tiếp của phòng kế toán Tổng công ty xăng dầu Việt
nam và ban giám đốc công ty. Vì công ty là một đơn vị hạch toán độc lập có các xí
nghiệp và chi nhánh phụ thuộc, nên hình thức tổ chức công tác kế toán tại công ty
theo hình thức vừa tập trung vừa phân tán, các nghiệp vụ hạch toán (phản ánh, ghi
chép, lưu trữ chứng từ, hệ thống sổ sách kế toán và hệ thống báo cáo...) đều được
thực hiện tại phòng kế toán công ty và tại phòng kế toán của các xí nghiệp trực
thuộc.
Việc lập báo cáo quyết toán của công ty thực hiện tổng hợp báo cáo quyết toán
của khối văn phòng công ty trực tiếp kinh doanh và báo cáo của các chi nhánh xí
nghiệp trực thuộc.
-Trực thuộc công ty, xí nghiệp, chi nhánh là hệ thống các của hàng bán lẻ đây
là các đơn vị hạch toán báo sổ. Các đơn vị này có hệ thống sổ sách kế toán theo dõi
chi tiết mang tính chất đăng ký chứng từ phát sinh và thống kê...Theo quy định của
công ty xí nghiệp và chi nhánh quản lý. Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đây
đều được hạch toán kế toán trên hệ thống sổ kế toán tại phòng kế toán các xí
khoản kế toán ban hành kèm theo quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày
1/11/1995của bộ trưởng bộ tài chính. Để thuận lợi cho việc quản lý công ty mở
thêm tài khoản cấp3 và cấp 4 cho những tài khoản cần theo dõi chi tiết.
-Hình thức tổ chức kế toán: phân tán (văn phòng công ty và các chi nhánh, xí
nghiệp đều hạch toán kế toán ).
Hiện nay, công ty đang áp dụng hình thức kế toán nhật ký chứng từ đây là một hình
thức kế toán đang được áp dụng phổ biến rộng rãi.Ngoài ra ,vì thực hiện trên máy
vi tính nên còn có dạng nhật ký sổ cái .
+ Niên độ kế toán bắt đầu từ ngày 01 tháng 01, kết thúc ngày 31 tháng 12
hàng năm;
+ Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán: đồng Việt Nam (ngoại tệ tự
do chuyển đổi USD quy theo tỷ giá hạch toán, doanh thu và các khoản phải thu,
phải trả theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng );
+ Phương pháp kế toán tài sản cố định: Hạch toán tài sản cố định theo
nguyên giá và giá trị còn lại ,phương pháp khấu hao đường thẳng (tuyến tính).
+ Phương pháp kế toán hàng tồn kho: Xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ theo
giá hạch toán Tổng công ty quy định (nguồn hàng tạm nhập tái xuất theo giá đích
danh (thực tế- theo tờ khai TNTX)); hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê
khai thường xuyên.
Quy trình tổ chức công tác kế toán (hình bên).
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm tra
II. Thực trạng báo cáo tài chính và việc phân tích tình hình tài chính của
công ty.
1. Tình hình thực tế về báo cáo tài chính, phân tích tình hình tài chính của công
ty Xăng dầu B-12
Chứng từ gốc và
các bảng phân
chính chưa được quan tâm đúng mức nên việc phân tích còn hạn chế . Theo đó
,công tác bồi dưỡng nghiệp vụ phân tích tài chính cho cán bộ đảm nhận công tấc
này chưa được quan tâm đúng mức. Đây cũng là vấn đề ảnh hưởng tới chất lượng
phân tích .
•
Về nội dung và phương pháp phân tích
Nội dung phân tài chính tại công ty còn sơ sài, mới chỉ dựa trên một số các chỉ
tiêu tài chính như tỷ suất lợi nhuận / vốn kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận trên doanh
thu,doanh thu,lợi nhuận, thu nhập cán bộ công nhân viên. Như vậy mảng nội dung
phân tích khái quát hoạt động tài chính doanh nghiệp (phân tích diễn biến nguồn
vốn và sử dụng vốn; phân tích tình hình đảm bảo cho vốn hoạt động sản xuất kinh
doanh ... ) đều bị bỏ ngỏ. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán tức thời, khả năng
thanh toán lãi vay chưa được tính toán phân tích một cách cụ thể. Mặc dù, công ty
hoạt động chủ yếu bằng vốn đi vay và chiếm dụng vốn. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu
về hiệu quả sử dụng VLĐ, sử dụng TSCĐ đến mức nào cũng chưa được quan tâm .
Tuy nhiên, dựa trên một số mục trong thuyết minh báo cáo tài chính công ty
cũng đã lập các báo cáo chi tiết theo mẫu biểu của bộ tài chính và như vậy đã góp
phần cung cấp thêm được nhiều thông tin cho việc phân tích tài chính.
•
Về phương pháp phân tích :
Phương pháp chủ yếu được công ty sử dụng trong phân tích tài chính là phương
pháp tỷ lệ. Ngoài ra, công ty cũng đã kết hợp với việc so sánh các tỷ lệ tài chính
qua một vài năm (thường là hai năm ).
Tóm lại, để công tácphân tích tài chính thực sự phát huy vai trò trong quản trị tài
chính doanh nghiệp trước mắt công ty cần phải đổi mới nhận thức, tư duy về phân
tích tài chính .
2. Phân tích tình hình tài chính của công ty Xăng dầu B-12 thông qua các báo
cáo tài chính .
Công việc này cung cấp cho chúng ta những thông tin tài chính trong kỳ là khả
quan hay không khả quan .
hàng 216,68 tỷ đồng chiếm 72,68%, giảm việc dự trữ hàng tồn kho 26,53 tỷ đạt
8,9%. Trích khấu hao TSCĐ được 15,31 tỷ đồng chiếm 5,13%, giảm TSLĐ khác
0,23 tỷ (0,28%), tiết kiệm chi phí XDCB 5,26 tỷ (1,76%), tăng chênh lệch đánh giá
lại tài sản 13,89 tỷ đạt 4,65%. Ngoài ra lợi nhuận chưa phân phối đạt 1,74 tỷ
(1,704%), giảm vốn đầu tư XDCB 0,8 tỷ đồng (0,27%) ,giảm khoản thuế và các
khoản phải nộp 0,05 tỷ (0,016%) .
-Tổng nguồn vốn 298,09 tỷ đồng công ty đã sử dụng phần lớn vào việc trả nợ với
Tổng công ty 256,39 tỷ đồng chiếm 86,01 % tăng cường đầu tư vào TSCĐ 16,64
tỷ đồng (5,58%), tăng vốn bằng tiền 21,03 tỷ (7,05%). Ngoài ra, công ty còn trả
nợ các nguồn khác 3,44 tỷ (1,15%) nợ dài hạn 0,09 tỷ (0,03%).
*Năm 2002, nguồn vốn và sử dụng vốn tăng 299,16 tỷ đồng. Nguồn vốn tăng cũng
do tăng các khoản phải trả nội bộ chiếm 45,11% (134,98 tỷ đồng ), trích khấu hao
13,97 % (41,82 tỷ ), rút vốn bằng tiền 9,74% chiếm 29,15 tỷ, người mua trả tiền
trước 22,84 tỷ (7,63%), tăng nguồn vốn kinh doanh 15,36 tỷ (5,13%). Ngoài ra,
công ty còn huy động từ việc chenh lệch đánh giá lại tài sản 10,47 tỷ đồng (3,5 %),
từ các qũy dự phòng 3,07 tỷ chiếm 13,05 %, từ quỹ khen thưởng phúc lợi 0,57 tỷ
đồng (0,19 %), giảm TSLĐ khác 0,23 tỷ (0,07%).
- Với tổng số vốn 299,16 tỷ đồng công ty đã sử dụng phần lớn vào việc cung cấp
tín dụng cho khách hàng, mặc dù tỷ trọng này có giảm so với năm 2000 đạt 144,36
tỷ đồng chiếm 48,25% và dự trữ hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao 82,43 tỷ đồng đạt
27,55% ,tăng cường vào việc đầu tư vào TSCĐ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh 55,17 tỷ đồng (18,44%). Ngoài ra, còn trả nợ dài hạn 0,36 tỷ đồng (0,12%)
và phải trả các khoản khác 0,4 tỷ đồng (0,13%).
Sở dĩ, trong các năm 2000, 2001, 2002 có sự thay đổi về các khoản phải thu
phải trả, hàng tồn kho là vì trong các năm này công ty đang kinh doanh trong tình
trạng bất thường do giá cả thế giới có sự biến động mạnh, mặt khác theo sự chỉ đạo
của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam về việc đạt giá trần cho xăng dầu để ổn định
giá cả.Tuy nhiên, qua 3 năm ta thấy công ty đã cố gắng nỗ lực thực hiện quản lý
sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nguồn vốn tăng lên đáng kể cơ sở vật chất kỹ
thuật được mở rộng tạo điều kiện thuận lợi giúp công ty đứng vững nắm bắt kịp