Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn
tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải có lãi. Để đạt được mục tiêu
này nhà quản trị phải lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức
thực hiện những quyết định đó nhằm đặt mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận,
không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thị trường. Trong hoạt động sản xuất cũng như kinh
doanh, có rất nhiều vấn đề nảy sinh mà phần lớn là các vấn đề về tài chính.
Do đó, cơ sở của hầu hết mọi quyết định quản trị đều dựa trên những kết
luận rút ra từ những đánh giá về mặt tài chính trong hoạt động của doanh
nghiệp và bằng các công cụ khác nhau.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là cơ sở quan trọng giúp
nhà quản trị thực hiện tốt chức năng của mình.Việc thường xuyên tiến hành
phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp và các cơ quan
chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, kết quả sản xuất
kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp cũng như xác định một cách đầy đủ,
đúng đắn nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình
tài chính. Qua đó, giúp người sử dụng thông tin có thể đánh giá được tiềm
năng, hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như rủi ro và triển vọng trong
tương lai của doanh nghiệp, để họ có thể đưa ra các giải pháp hữu hiệu,
những quyết định chính xác nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh
tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo kế toán rất hữu ích đối với việc quản trị doanh nghiệp đồng thời
là nguồn thông tin tài chính cơ bản đối với người ngoài doanh nghiệp. Do
đó, sự phân tích tài chính trước hết tập trung vào các số liệu được cung cấp
trong các báo cáo kế toán kết hợp thông tin bổ sung của các bộ phận quản
lý. Chính vì thế, việc lập các báo cáo này một cách có hệ thống, số liệu phản
- 1 -
Luận văn tốt nghiệp
ánh kịp thời sẽ là cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp với các đối tác liên
hình tài chính là nhiệm vụ cần thiết và quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối
chiếu và so sánh số liệu về tình hình tài chính hiện hành với quá khứ thông
qua hệ thống các phương pháp và công cụ khác nhau nhằm đánh giá tiềm
năng, hiệu quả cũng như những rủi ro và triển vọng của doanh nghiệp trong
tương lai .
Một doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế luôn là đối tượng của nhiều
nhóm người khác. Để có thể đưa ra các quyết định đúng đắn trong hoạt động
kinh doanh của mình, nhằm đem lại tối đa lượng tài sản cho bản thân thì họ
luôn đặt ra nhu cầu hiểu biết về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mà
cụ thể là tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo kế toán rất hữu ích
đối với việc quản trị doanh nghiệp, đồng thời là nguồn thông tin tài chính cơ
bản đối với người ngoài doanh nghiệp. Do đó, sự phân tích tài chính trước
hết tập trung vào các số liệu được cung cấp trong các báo cáo kế toán kết
hợp thông tin bổ sung của các bộ phận quản lý. Đáp ứng nhu cầu của các chủ
thể sử dụng kết quả của việc phân tích tài chính doanh nghiệp, bản thân phân
- 3 -
Luận văn tốt nghiệp
tích chỉ ra những thay đổi chủ yếu và những chuyển biến theo xu hướng
trong những mối quan hệ kinh tế xuất phát từ quá trình hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
Như vậy, từ các thông tin tài chính chi tiết hay những con số thống kê,
phân tích thực sự là “việc làm cho các con số biết nói” để có thể quyết định
một cách trực tiếp và hiệu quả. Chính vì thế, phân tích báo cáo tài chính của
doanh nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như ban
giám đốc, các nhà đầu tư, cổ đông, các chủ nợ, khách hàng, các nhà cho vay
tín dụng, nhân viên ngân hàng, các cấp quản lý, bảo hiểm... Mỗi nhóm người
này có nhu cầu thông tin khác nhau do vậy, mỗi nhóm có xu hướng tập trung
vào các khía cạnh khác nhau trong bức tranh tài chính của đơn vị. Mặc dù
mục đích của họ là khác nhau nhưng thường liên quan đến nhau và do vậy
năng này liên quan trực tiếp đến việc thanh toán vốn sẽ diễn trong tương lai.
Như vậy trước khi cho vay, người cho vay phải nghiên cứu khả năng
thanh toán của doanh nghiệp để trả lời các câu hỏi:
-Tình hình tài chính của doanh nghiệp là mạnh hay yếu ?
-Doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ đến hạn hạn hay không ?
-Doanh nghiệp có thực hiện được doanh thu thoả đáng so với vốn đầu tư vào
tài sản lưu động và cố định hay không ?
-Doanh nghiệp có thể đạt mức lợi nhuận là bao nhiêu trước khả năng không
thể đáp ứng chi phí cố định như lãi suất, tiền thuê nhà đất, các khoản chi trả
cố định khác...?
Nếu doanh nghiệp thua lỗ, các tài sản sẽ mất giá trị bao nhiêu so với con
số trong bảng tổng kết tài sản trước khi các chủ nợ được bảo hiểm chấp nhận
thiệt hại. Từ những phân tích trên, các chủ nợ sẽ xem xét, dự báo được mức
độ rủi ro đối với các khoản cho vay, cân nhắc giữa doanh lợi và rủi ro, đi đến
quyết định có cho vay hay không ...
- Đối với nhà đầu tư
Đây là các doanh nghiệp, các cá nhân quan tâm trực tiếp đến tính toán
các giá trị doanh nghiệp, họ giao vốn cho doanh nghiệp sử dụng và sẽ cùng
- 5 -
Luận văn tốt nghiệp
chịu mọi rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải. Thu nhập của nhà đầu tư là tiền
chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Hai yếu tố này chịu ảnh
hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp .Các nhà đầu tư lớn thường
dựa vào các nhà chuyên môn những người chuyên phân tích tài chính,
chuyên nghiên cứu kinh tế về tài chính để phân tích làm dự báo triển vọng
của doanh nghiệp.
Đối với các nhà đầu tư hiện tại cũng như các nhà đầu tư tiềm năng thì
mối quan tâm trước hết của họ là việc đánh giá những đặc điểm đầu tư của
doanh nghiệp . Các đặc điểm này có yếu tố rủi ro, sự hoàn hảo, lãi cổ phần
hoặc tiền lời, sự bảo toàn vốn, khả năng thanh toán vốn, sự tăng trưởng và
- Xác định mục tiêu phân tích
Mỗi chủ đề đều có những yêu cầu khác nhau đối với công tác phân tích
tài chính. Vì vậy, họ cần đi sâu vào những nội dung khác nhau trong quá
trình phân tích. Xác định mục tiêu phân tích sẽ giúp nhà phân tích sử dụng
những phương pháp thích hợp và tập trung vào những vấn đề cụ thể hơn.
Những người sử dụng khác nhau sẽ đưa ra các quyết định khác nhau theo
những mục đích khác nhau :
- Quyết định quản lý doanh nghiệp
- Quyết định mua bán tín phiếu
- Quyết định chấp nhận hay từ chối tín dụng
- Quyết định mua toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp
...
Phân tích tài chính của nhóm người sử dụng khác nhau đòi hỏi phải đáp
ứng vấn đề chuyên môn của mỗi nhóm.
- Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và
thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá
trình dự đoán tài chính nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những
thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và các thông tin khác nhau,
những thông tin về số lượng và giá trị trong đó: các thông tin kế toán phản
- 7 -
Luận văn tốt nghiệp
ánh tập trung trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp, là những thông tin đặc
biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo
cáo kế toán trong doanh nghiệp .
- Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của quá trình phân tích tình hình tài chính là quá trình
xử lý thông tin đã thu thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông
tin ở góc độ nghiên cứu khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác
nhau phục vụ mục tiêu phân tích đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp
lượng tương đối và tượng đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế
toán liên tiếp.
Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực, các tỷ lệ của đại lượng tài
chính trong quan hệ tài chính. Sự biến đổi các tỷ lệ là sự biến đổi của các đại
lượng tài chính .Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định các
định mức để nhận xét, đánh giá tinh hình tài chính trên cơ sở so sánh các tỷ
lệ của doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu.
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp các tỷ lệ tài chính được phân
thành các nhóm tỷ lệ tài chính đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản
theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm, tỷ lệ về khả
năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng
lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời.
Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều tỷ lệ phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận
của hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ
phân tích người phân tích lựa chọn các nhóm tỷ lệ khác nhau để phục vụ
mục tiêu phân tích của mình.
II. Báo cáo kế toán tài chính tài liệu chủ yếu sử dụng trong phân tích
tình hình tài chính doanh nghiệp
1.Khái niệm và vai trò của báo cáo kế toán tài chính
+Báo cáo tài chính là những bản báo cáo được lập dựa vào nhưng bản
báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ
- 9 -
Luận văn tốt nghiệp
sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm nhất
định. Các báo cáo tài chính phản ánh một hệ thống tình hình tài sản của đơn
vị tại những thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng
vốn trong thời hạn nhất định. Đồng thời được giải trình giúp cho các đối
tượng sử dụng thông tin tài chính nhận biết được thực trạng tài chính, tình
hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để ra quyết định phù hợp.
thực hiện nghiệp vụ với Nhà nước và khách hàng.
- 11 -
Luận văn tốt nghiệp
2. Yêu cầu và trách nhiệm, thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính
Theo quyết định 167/ Bộ Tài Chính tất cả các doanh nghiệp phải lập và
gửi các báo cáo tài chính theo đúng quy định của chế độ kế toán doanh
nghiệp. Riêng báo cáo lưu chuyển tiền tệ tạm thời chưa quy định là báo cáo
bắt buộc phải lập và gửi nhưng khuyến khích các doanh nghiệp lập và sử
dụng các báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
+ Yêu cầu đối với báo cáo tài chính
- Báo cáo tài chính phải được lập đúng mẫu theo quy định của Bộ tài
chính đã ban hành như các bảng CĐKT, báo cáo kết quả kinh doanh,
thuyết minh báo cáo tài chính.
- Báo cáo tài chính phải đảm bảo độ chính xác nghĩa là các thông tin số
liệu trên báo cáo phải phản ánh đúng thực trạng tài sản, nguồn vốn
cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.
- Báo cáo tài chính phải đảm bảo tính khách quan đó là việc báo cáo tài
chính được công khai cho các cơ quan chức năng, các nhà đầu tư…
- Báo cáo tài chính phải được trình bày một cách rõ ràng, dễ hiểu đảm
bảo cho quá trình kiểm tra, đối chiếu được thuận lợi.
+Thời hạn lập và gửi báo cáo tài chính doanh nghiệp:
Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phải lập và gửi vào cuối quý, cuối
năm tài chính cho các cơ quan quản lý Nhà nước và cho các doanh nghiệp
cấp trên theo quy định. Trường hợp có công ty con ( công ty trực thuộc ) thì
phải gửi kèm bản sao báo cáo tài chính cùng quý, cùng năm của công ty con.
- Đối với các doanh nghiệp Nhà nước. Các doanh nghiệp hạch toán độc
lập và hạch toán phụ thuộc Tổng công ty, và các doanh nghiệp hạch toán độc
lập không nằm trong các Tổng công ty, thời hạn gửi báo cáo tài chính năm
chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Đối với Tổng công
ty, thời hạn gửi báo cáo tài chính chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc
x x x x x
2.Doanh nghiệp
có vốn ĐTNN
Năm
x x x x
3.Các loại doanh
nghiệp khác
Năm
x x
3.Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính
- Báo cáo tài chính quy định cho các doanh nghiệp bao gồm 4 biểu mẫu sau:
+Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN)
+Bảng kết quả hoạt động kinh doanh (Mẫu số B02-DN)
+Lưu chuyển tiền tệ ( Mẫu số B03-DN)
+Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B09- DN)
• Ngoài ra ,để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế tài chính,yêu cầu chỉ đạo
điều hành các nghành,các Tổng công ty ,các tập đoàn sản xuất, liên hiệp xí
nghiệp, các công ty liên doanh ... có thể quy định thêm các báo cáo tài chính
chi tiết khác.
a. Bảng cân đối kế toán
•
Khái niệm và kết cấu của bảng cân đối kế toán
- 13 -
Luận văn tốt nghiệp
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài
sản tại một thời điểm nhất định, là tài liệu quan trọng để phân tích đánh giá
một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và
triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
Báo cáo hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản
ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toán của
doanh nghiệp chi tiết theo từng hoạt dộng kinh doanh chính và các hoạt động
kinh doanh khác, tình hình thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước về thuế và
các khoản phải nộp khác.
♣
. Kết cấu của bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 3 phần :
Phần I :Lãi ,lỗ.
Phần này phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh ,hoạt động tài chính và hoạt động bất thường.
Phần II:Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước.
Phần này phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế,
phí,lệ phí và các khoản phải nộp khác.
Phần III : Thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ, thuế GTGT được hoàn
lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa.
Phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ đã khấu trừ, còn được khấu trừ cuối
kỳ; thuế GTGT được giảm, đã giảm và còn được giảm cuối kỳ thuế GTGT
hàng bán nội địa còn phải nộp đầu kỳ, thuế GTGT đầu ra phát sinh, thuế
GTGT hàng bán nội địa đã nộp vào Nhà nước và còn phải nộp cuối kỳ.
* Nguồn gốc số liệu để lập báo cáo
- Căn cứ vào báo cáo kết quả kinh doanh của kỳ trước
- Căn cứ vào sổ kế toán trong kỳ dùng cho các tài khoản từ loại 5 cho đến
loại 9 và tài khoản 133 “ Thuế GTGT được khấu trừ’’.Tài khoản 333 “ Thuế
và các khoản phải nộp Nhà nước’’.
c. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- 15 -
Luận văn tốt nghiệp
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần :
Phần I: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh:
- 16 -
Luận văn tốt nghiệp
Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như tiền bán hàng tiền thu
từ các khoản phải thu thương mại, các chi phí bằng tiền như tiền trả cho
người cung cấp (trả ngay trong kỳ là khoản tiển trả cho các khoản nợ từ kỳ
trước ), tiền thanh toán cho công nhân viên về tiền lương và BHXH ...các
khoản chi phí khác bằng tiền (chi phí văn phòng phẩm, công tác phí ...)
Phần II : Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư .
Phản ánh dòng tiền thu vào và chi ra có liên quan trực tiếp đến hoạt động
đầu tư của doanh nghiệp .
Hoạt động đầu tư bao gồm :
-Đầu tư cơ sở vật chất cho bản thân doanh nghiệp hoạt động xây dựng cơ
bản, mua sắm TSCĐ.
-Đầu tư vào các đơn vị khác dưới hình thức góp vốn liên doanh, đầu tư
chứng khoán, cho vay không phân biệt đầu tư ngắn hạn hay dài hạn. Dòng
tiền lưu chuyển được tính toàn bộ các khoản thu do thanh lý, bán TSCĐ, thu
hồi các khoản đầu tư vào các đơn vị khác ... và các khoản chi mua sắm, xây
dựng TSCĐ, chi để đầu tư vào các đơn vị khác .
Phần III. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính
Phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt
động tài chính của doanh nghiệp. Hoạt động tài bao gồm các nghiệp vụ làm
tăng, giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp góp vốn,
vay vốn (không phân biệt vay dài hạn hay vay ngắn hạn ), nhận vốn liên,
doanh phát hành cổ phiếu, trái phiếu trả nợ vay ...
Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi liên
quan như tiền vay nhận được, tiền thu được như góp vốn liên doanh bằng
tiền, do phát hành cổ phiếu trái phiếu bằng tiền, thu lãi tiền gửi.
- Đối với báo cáo quý, các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại
doanh nghiệp phải thống nhất trong cả niên độ kế toán. Nếu có sự thay đổi
phải trình bày lý do thay đổi.
-Trong các biểu số liệu, các cột số liệu thể hiện số kế hoạch của kỳ báo
cáo, cột số thực hiện kỳ trước thể hiện số liệu của kỳ ngay trước kỳ báo cáo.
- Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp chỉ
sử dụng trong thuyết minh báo cáo tài chính năm.
- 19 -
Luận văn tốt nghiệp
Theo chế độ kế toán hiện hành thì căn cứ vào 4 chuẩn mực kế toán đã ban
hành theo Quyết định số 149/2000/QĐ/BTC ngày 31-12-2001 của bộ tài
chính (mẫu B09-DN ) đã được giải thích và bổ xung một số chỉ tiêu.
Các báo cáo tài chính doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau,
mỗi sự thay đổi một chỉ tiêu trong báo cáo này hoặc trực tiếp hay gián tiếp
ảnh hưởng tới báo cáo kia, trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáo tài chính
phải được bắt đầu từ báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền
tệ kết hợp với bảng cân đối kế toán kế toán để đọc kiểm tra bảng cân đối kế
toán này .
III.Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ cung cấp một cách
tổng quát nhất tình hình trong kinh doanh của doanh nghiệp là khả quan hay
không. Điều đó cho phép chủ doanh nghiệp thấy rõ thực chất của quá trình
sản xuất kinh doanh và dự đoán được khả năng phát triển hay chiều hướng
suy thoái của doanh nghiệp. Qua đó, có những giải pháp hợp lý để quản lý.
Thứ nhất -Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trong doanh
nghiệp.
- Phân tích diễn biến vốn và sử dụng vốn là quá trình xem xét và đánh giá
sự thay đổi các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên BCĐKT về nguồn vốn và
cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tài trợ =
Tổng số nguồn vốn
- 21 -
Tổng tài sản
Tỷ suất thanh toán tổng quát =
Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Luận văn tốt nghiệp
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của
doanh nghiệp bởi vì hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đều có được đầu tư
bằng số vốn của mình.
Tình hình tài chính của doanh nghiệp lại được thể hiện rõ qua khả năng
thanh toán. Nếu doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán thì tình hình tài
chính sẽ khả quan và ngược lại. Do vậy, khi đánh giá tình hình tài chính của
doanh nghiệp không thể không xem xét khả năng thanh toán đặc biệt là khả
năng thanh toán ngắn hạn. Để đo khả năng thanh toán ngắn hạn khi phân tích
cần tính và so sánh các chỉ tiêu :
Tổng số TSLĐ
Tỷ suất thanh toán nợ hiện hành =
Tổng số nợ ngắn hạn
Tỷ suất này cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn (phải thanh
toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh ) của doanh nghiệp là
cao hay thấp. Nếu chỉ tiêu này xấp xỉ bằng một thì doanh nghiệp có đủ khả
năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính bình thường
hoặc khả quan .
Tổng số vốn bằng tiền
Tỷ suất vốn bằng tiền của vốn lưu động =
các khoản phải thu =
Bình quân các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số dư và các khoản phải thu và hiệu
quả của việc đi thu hồi nợ. Nếu các khoản phải thu được thu hồi nhanh thì số
vòng luân chuyển và các khoản phải thu sẽ cao và và công ty ít bị chiếm
dụng vốn.Tuy nhiên, số vòng luân chuyển các khoản phải thu nếu quá cao sẽ
không tốt vì có thể ảnh hưởng đến khối lượng hàng tiêu thụ.
- 24 -
Số ngày để trung bình Số dư bq các khoản phải thu x 360
để thu hồi các khoản =
phải thu Doanh thu thuần
Luận văn tốt nghiệp
Chỉ tiêu này cho thấy để thu hồi các khoản phải thu cần một thời gian là
bao nhiêu ? Nếu số ngày này lớn hơn thời gian bán chịu quy định cho khách
hàng thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm và ngược lại.
Để có cơ sở đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trước mắt và
triển vọng trong thời gian tới cần đi sâu phân tích nhu cầu và khả năng thanh
toán của doanh nghiệp .
Đồng thời trên cơ sở bảng phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán cần
tính ra chỉ tiêu “ Tỷ suất và khả năng thanh toán".
3. Phân tích tình hình bảo đảm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh.
a. Phân tích tình hình vốn lưu động thường xuyên
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài
sản bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Việc bảo đảm đầy đủ nhu
cầu về tài sản là vấn đề cốt yếu để bảo đảm cho quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành liên tục và có hiệu quả. Để hình thành hai loại tài sản
này phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn