THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM - Pdf 75

THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM
I.Tình hình chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam:
Tính đến hết năm 2000 đã có 3210 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam được cấp giấy phép đầu tư, với tổng vốn đầu tư hơn 43 tỷ USD (kể cả những
dự án tăng thêmvốn). Trừ những dựa án kết thúc đúng thời hạnvà bị giải thể trước
thời hạn, còn 2628 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư dăng ký trên 36,2 tỷ USD,
trong đó số vốn đầu tư đã thực hiện gần 18 tỷ USD. Vốn FDI chiếm gần 30% tổng
vốn đầu tư phát triển toàn xã hội hàng năm. Các dự án FDI đã góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nước ta, tạo ra nhiều ngành nghề mới, năng lực sản xuất mới,
góp phần duy trì nhịp độ tăng trưởng ổn định của nền kinh tế, giải quyết việc làm
trực tiếp cho hơn 35000 lao động và gián tiếp tạo việc làm cho khoảng 1 triêụ lao
động khác, thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực, củng cố nâng cao vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể rút ra một số nhận xét sau đây về
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian qua:
1. Những mặt tích cực:
1.1 Đầu tư trực tiếp nươc ngoài bổ xung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá, hiện đại hoá đất nước:
Với số vốn đầu tư đã thực hiện gần 18 tỷ USD (không kể các dự án đã hết hạn và
giải thể) trong đó vốn nươc ngoài đưa vào 16,2 tỷ USD, các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài đã góp phần đáng kể vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong các năm
qua. Theo đánh giá chung, thời kỳ từ 1991-2000, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
chiếm vị trí thứ hai trong các nguồn vốn đầu tư phát triển, chỉ sau vốn đầu tư tư
nhân và dân cư. Bình quân hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm xấp xỉ
30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. đây thực sự là một động lực quan trọng thúc đẩy
tăng trưởng nhanh nền kinh tế nước ta trong những năm qua.
Thực tế đã chứng minh chủ trương thu hút vốn đầu tư nươc ngoài với việc ra đời
của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987 của Đảng và Nhà nước ta thời
gian qua là đúng đắn kịp thời, đã bổ xuang nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát
triển , góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước,
tạo ra thế và lực cho phát triển kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và hiên

án
TVĐT
Vốn pháp
định
Vốn TH
Công nghiệp 1645 19280024747 8742763072 10866713943
CN dầu khí 29 3154826867 2094106347 2352553089
CN nhẹ 643 4050567442 1785345319 2068900083
CN nặng 635 6651802851 2803768210 3544807321
CN thực phẩm 134 2281086756 953693264 1299284498
Xây dựng 204 3141740831 1105849932 1601168952
Nông-lâm nghiệp 347 2108141856 926855682 1212345030
Nông,lâm nghiệp 297 1947652537 847397904 1116966496
Thuỷ sản 50 160489319 79457778 95378534
Dịch vụ 636 14902861034 6613801142 5636907641
GTVT-Bưu diện 93 2571985689 2027825866 849117701
KS-Du lịch 124 3500631355 1137540592 1863632847
Tài chính-NH 50 567250000 536650000 509535324
Văn hoáYT – GD 89 535295935 231733217 146095289
Khu đô thị mới 3 2466674000 675183000 394618
XD văn phòng 118 3896332758 1401784415 1656030769
XD hạ tầng KCN 13 816040849 278951009 460988264
Dịch vụ khác 146 548650439 324133025 151112829
Tổng
2628 36219027637 16238419878 17715966614
Đơn vị tính: USD.
Nguồn: Vụ QLDA- Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.3.Thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuất khẩu của đất nước
tăng thêm nguồn thu cho ngân sách:
Thực tế, từ năm 1991 đến nay, tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp

giầy, điện tử, hàng nông lâm thuỷ sản chế biến. Mặt khác, thông qua việc nậo các
loại thuế, các doanh nghiẹp có vốn đầu tư nước ngoài đã có đóng gópđáng kể cho
ngân sách nhà nước.
Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn đang trong
thời kỳ miẽn giảm thuế thu nhập dong nghiệp hoặc chưa thực sự có lãi. Phần lớn
vật tư nhập khẩu để tạo tài sản cố định hình thành doanh nghiệp được miễn giảm
thuế nhập khẩu. Nhiều doanh nghiệp thời gian gần đây được điều chỉnh giảm tiền
thuê đất. Vì vậy, đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trừ dầu
thô) cho ngân sách Nhà nuớc mới chỉ đạt 6-7% số thu ngân sách hàng năm.
1.4 Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập quốc dân nội
địa:
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Thế giới, tính đến cuối năm 2000
khu vực FDI đã thu hút 350000 lao động trực tiếp làm việc tại các doang nghiệp và
gián tiếp tạo việc làm cho khoảng 1 triệu lao động trong các lĩnh vực dịch vụ, xây
dựng, cung ứng vật tư, bán hàng…Tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI có
khoảng 6000 cán bộ quản lý, 25000 cán bộ kỹ thuật và 150000 công nhân lành
nghề. Số người do các dong nghiệp tự đào tạo tay nghề chiếm hơn 60% tổng số lao
động. Khoảng 73% số lao động làm việc trong các khu vực sản xuất công nghiệp.
Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với mức lương bình quân xấp xỉ 70
USD/người/tháng, tổng thu nhập của người lao động trong khu vực này lên đến
300 triệu USD/năm.
1.5 Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới và quá trình hội
nhập quốc tế của nước ta:
Trước và một vài năm sau khi có luật đầu tư nước ngoài (1987-1990), nước ta
đứng trước những thách thức kho khăn cực kỳ to lớn (Hệ thống xã hội chủ nghĩa
Đông Âu tan rã, các nguồn viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt từ Liên
Xô chấm dứt, Mỹ vẫn tiếp tục bao vây cấm vận, cơ sở vật chất kỹ thuật của nước ta
còn hết sức nghèo nàn, lạc hậu…). Trong bối cảnh đó, cùng với chính sách đối
ngoại đúng đắn của Nhà Nuớc ta, đầu tư nước ngoài đã góp phần tạo ra thế và lực
mới cho đất nước. Trong thời kỳ 1991-2000 đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành

đầu, bên Việt nam không những không có khả năng tăng tỷ lệ góp vốn của mà còn
phải bán bớt cổ phần cho phái nứoc ngoài để bảo toàn vốn, dẫn đến xu hướng
chuyển doanh nghiệp liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngaòi.
Việc thu hút công nghệ cao qua các dự án FDI chưa có kết quả. Số hợp đồng
được phê duyệt chuyển giao công nghệ còn quá ít. Thực tế Nhà nước chưa có
chính sách khuyến khích thoả đáng đối với dự án sử dụng công nghệ cao để tạo ra
sản phẩm có giá trị. Việc giám định, đánh giá công nghệ, thiết bị nhập khẩu đang là
vấn đề khó khăn do thiếu chuyên gia có năng lực và am hiểu trong lĩnh vực này.
Nguy cơ ngày càng tụt hậu về công nghệ đang là một thực tế đáng lo ngại.
2.2 Vấn đề lao động và tiền lương còn nhiều bất cập:
Công tác chuẩn bị đội ngũ lao động cung ứng cho các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài chưa được các ngành và các địa phương quan tâm đúng mức. Cơ
quan làm nhiệm vụ cung ứng lao động thường không chịu trách nhiệm về phẩm
chất người lao động nên không có uy tín đối với doanh nghiệp. Do vậy, hầu hết các
doanh nghiệp đều đòi hỏi được tự tuyển lao động. Chất lượng lao động của ta còn
thấp, trình độ học vấn chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thiếu khả
năng đáp tiếp nhận công nghệ mới. Mâu thuẫn giữa việc áp dụng công nghệ tiên
tiến với việc giải quyết việc làm cho người lao động ddang trở nên nan giải đối với
nhiều doanh nghiệp liên doanh.
Hiện nay, do thuế thu nhập cá nhân quá cao, đồng thời chi phí đào tạo công nhân
Việt Nam lớn, nên tuy tiền lương danh nghĩa người lao động nhận được hàng tháng
thấp nhưng chi phí lao động ở Việt Nam đã vào mức cao so với các nước trong khu
vực, làm giảm sức cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài.
Đội ngũ cán bộ quản lý Việt nam trong các nghiệp liên doanh (Tổng giám đốc,
phó tổng giám đốc, kế toán trưởng) chưa được đào tạo đầy đủ về chuyên môn,
pháp luật và ngoại ngữ (do cơ chế cứ có đất là liên doanh với nước ngoài không
phân biệt ngành nghề kinh doanh) nên không quản lý được doanh nghiệp liên
doanh, bị bên nước ngoài chèn ép, từ đó làm nẩy sinh mâu thuẫn nội bộ khó hoà
giải, ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3 Đầu tư nước ngoài còn tập trung chủ yếu vào một số địa phương có điều kiện

Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu, chiếm
tới 50,2% số dự án 64,7% vốn đầu tư đã được cấp giấy phép. Quy mô vốn đầu tư
bình quan mỗi dự án là 18,7 triệu USD, trong đó có những dự án đầu tư đòi hỏi
hàng tỷ USD như dự án liên doanh lọc dầu Việt – Xô tại Quảng Ngãi có vốn đầu tư
1,3 tỷ USD, dự án khu đô thị Nam Thăng Long Hà Nội vốn đầu tư tới 2,1 tỷ USD.
Đến hết tháng 12 năm 2000 đã có 1035 dự án Liên doanh đựoc cấp giấy phép
với tổng vốn đầu tư gần 22 tỷ USD, trong đó vốn đã thực hiện đạt hơn 9,7 tỷ USD,
tạo ra gần 150000 việc làm. Xuất phát từ định hướng thu hút đầu tư của Nhà nước,
hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng như
sản xuất xi măng, sắt thép, phân bón, hoá chất, lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử...đều là
doanh nghiệp liên doanh. Các doanh nghiệp liên doanh đã góp phần vực dậy nhiều
ngành công nghiệp Việt Nam bị suy thoái do mất thị trường Liên Xô (cũ) và Đông
Âu tan rã, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt nam theo hướng công nghiệp hoá, cung
cấp nhiều sản phẩm quan trọng cho nền kinh tế mà trước đây vẫn phải nhập khẩu.
Thông qua việc cử cán bộ tham gia vào các doanh nghiệp liên doanh, Việt nam đã
tiếp thu được công nghệ mới, kiến thức và kinh nghiệm quản lý của nước ngoài.
Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật của Việt nam làm việc trong các doanh
nghiệp liên doanh đã trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt và thích nghi với cơ
chế thị trường. Nhiều cán bộ sau khi làm việc trong các doanh nghiệp liên doanh
đã được bổ nhiệm nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan quản lý và
doanh nghiệp Nhà Nước.
1.2 Những mặt còn tồn tại:
Bên cạnh những đóng góp tích cực đối với nền kinh tế nêu trên, đầu tư theo hình
thức doanh nghiệp liên doanh tại Việt nam đã bộc lộ rõ những hạn chế sau:
Khả năng góp vốn của các doanh nghiệp Việt Nam là rất thấp, bình quan chỉ
chiếm chưa đầy 30% vốn pháp định và bằng khoảng 10% vốn đầu tư của các
doanh nghiệp liên doanh, vốn góp chủ yếu bằng giá trị quyền sử dụng đất. Thông
thường toàn bộ vốn vay của liên doanh do bên nước ngoài thu xếp, nhiều trường
hợp lãi suất cao và điều kiện vay rất khắt khe, trở thành gánh nặng của doanh
nghiệp, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc gia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status