CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM
I. CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG XÉT TRÊN KHÍA CẠNH KINH TẾ
1. Kết quả sản xuất và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Trong hai thập niên qua (1986 - 2006), kể từ khi áp dụng những chính sách cải cách kinh tế toàn diện với nội
dung cốt lõi là sự kết hợp của tự do hóa, ổn định hóa, thay đổi thế chế, cải cách cơ cấu và mở cửa ra nền kinh tế thế
giới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận.
1.1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Năm 1986 đánh dấu quá trình đổi mới kinh tế, từ chỗ hầu như không có tăng trưởng trong giai đoạn 1976 –
1985, bước sang giai đoạn 1986 – 1990, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi và phát triển, tuy tốc độ chưa cao. Từ
năm 1990 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam tăng cao, trung bình hàng năm đạt 7%. Tính chung từ
1986 - 2005, tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm là 6,98%, tăng gấp 3,6 lần so với đầu giai đoạn. Chỉ số xếp hạng
GDP của Việt Nam cũng được cải thiện rõ rệt, từ vị trí thứ 124 thế giới năm 2002 tăng lên thứ 39 vào năm 2005.
Năm 1999, do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, tốc độ tăng trưởng GDP của
Việt Nam đã giảm xuống còn 4, 8%. Tăng trưởng giảm sút thể hiện ở hầu hết các ngành kinh tế chủ chốt như công
nghiệp, dịch vụ và xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, đến năm 2000, nền kinh tế đã có sự hồi phục nhanh chóng, tốc độ
tăng trưởng kinh tế đã đạt ở mức 6,8% và liên tiếp tăng trong các năm tiếp theo đạt 7,0% (năm 2002); 7,3% (năm
2003); 7,6% (năm 2004); 8,4% (năm 2005).
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1998 - 2005
Trong những năm gần đây, so với các nước trong khu vực ASEAN, tăng trưởng GDP của Việt Nam vào loại cao
nhất trong khu vực, còn so với các nước Đông Á, tăng trưởng GDP của Việt Nam đứng thứ 2 sau Trung Quốc. Tuy
nhiên, quy mô nền kinh tế của ta còn nhỏ bé, nên dù tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng thực lực nền kinh tế của ta
còn yếu và hạn chế.
1.2. GDP bình quân đầu người
Tăng trưởng kinh tế cao kéo theo thu nhập bình quân đầu người cũng được cải thiện đáng kể, tăng từ 140 USD năm
1990 lên 483 USD năm 2003, đạt 545 USD năm 2004 và 640 USD năm 2005 (tăng gấp 2,65 lần so với năm 1986).
Tính bình quân trong giai đoạn 1986 – 2005, tốc độ GDP đầu người tăng trung bình là 5,28%. Tuy nhiên, thu nhập bình
quân đầu người của Việt Nam còn thấp, vẫn còn chênh lệch khá lớn so các nước trong khu vực. Năm 2005, GDP bình
quân đầu người của Việt Nam là 638 USD trong khi Thái Lan đã đạt 2. 740 USD; Trung Quốc đạt 1.740 USD và
Malaixia là 9.700 USD. Theo dữ liệu triển vọng kinh tế thế giới 2006 của IMF, nếu tính theo sức mua tương đương
PPP năm 2005 thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng lên là 3.025 USD, trong khi Trung Quốc là 7.204
USD, cao gấp 2,38 lần; Thái Lan là 8.319 USD, cao gấp 2,75 lần; Hàn Quốc là 20.590 USD, gấp 6,8 lần và Nhật Bản
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
%
nong nghiep CN - XD Dich vu
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế
giai đoạn 2000 – 2005
Đơn vị: %
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
GDP 6,79 6,89 7,08 7,26 7,57 8,43
Nông – lâm – thủy sản 4,63 2,98 4,17 3,25 3,30 4,04
Công nghiệp – xây dựng 10,07 10,39 9,48 10,35 10,25 10,65
Dịch vụ 5,32 6,10 6,54 6,57 7,25 8,48
Nếu xét theo giá trị tăng thêm, tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực nông nghiệp nước ta theo giá thực tế đã giảm từ
38% năm 1986 xuống còn khoảng 20% năm 2005. Tỷ lệ giá trị gia tăng khu vực công nghiệp đã tăng lên từ 28,8%
năm 1986 lên trên 40% năm 2005. Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ cũng tăng lên từ 33% năm 1986 lên 38,5% năm
2005. Tỷ lệ cơ cấu ngành của Việt Nam năm 2005 gần giống tỷ lệ cơ cấu ngành của Malaixia những năm 80 và của
Thái Lan những năm 70.
Tuy nhiên, khi so sánh với một số nước ở Đông Á thấy rằng, tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam
vẫn chưa thể đạt đến mức là một nước có nền kinh tế phát triển. Ví dụ như Nhật Bản tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm
2% GDP, ngành dịch vụ chiếm tới 61%; Hàn Quốc tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 6% GDP, dịch vụ chiếm tới 51%.
đứng trước nguy cơ tỷ trọng sẽ giảm trong thời gian tới. Ngành lâm nghiệp sử dụng nhiều đất nhất trong tất cả các
ngành kinh tế nhưng chỉ đóng góp 1,2% vào GDP (số liệu năm 1999).
Tăng nhanh tỷ trọng giá trị dịch vụ là xu thế chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước phát triển,
phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ công nghệ và phát triển nền kinh tế tri thức. Trong khi đó ở Việt
Nam, tỷ trọng giá trị dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế tăng với tốc độ chậm, thậm chí còn có xu hướng giảm trong
một số năm gần đây. Điểm yếu của khu vực dịch vụ nước ta chính là cơ cấu ngành dịch vụ và tỷ trọng các phân
ngành còn có sự chênh lệch lớn. Các ngành dịch vụ cơ bản (khách sạn, nhà hàng, vận tải, kho bãi, thông tin liên
lạc…) có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các phân ngành dịch vụ khác lại gần như không có sự tăng trưởng.
Trong 10 năm (1995 - 2005), tỷ trọng của các ngành dịch vụ cơ bản chỉ chiếm dao động khoảng 46%, phân ngành
khách sạn, nhà hàng trong nhiều năm vẫn giữ ở mức 7,9%, trong khi đó phân ngành thương nghiệp và sửa chữa vật
phẩm tiêu dùng tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, 40,1%. Ngành vận tải và thông tin liên lạc là hai ngành tác động
trực tiếp và không thể thiếu đối với các ngành sản xuất cũng chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn là 9,2% năm 1995 và
tăng lên 9,6% trong năm 2004. Các dịch vụ cao cấp như ngân hàng, tài chính, chuyển giao công nghệ đang trong
giai đoạn hình thành nên năng lực cạnh tranh vẫn còn thấp kém. Tỷ trọng ngành dịch vụ khoa học công nghệ mới
chỉ chiếm 1,4 - 1,5%, ngành bảo hiểm cũng chỉ chiếm 2% GDP (năm 2005), dự báo năm 2006 cũng chỉ tăng lên
2,5%.
1.3.2. Cơ cấu kinh tế nhìn từ góc độ tổng cầu
Nếu nhìn nhận từ phía tổng cầu, ta thấy mức tăng trưởng cao mà nền kinh tế đạt được trong thời gian qua là do tỷ
lệ tiêu dùng đã giảm, tiết kiệm nội địa tăng dẫn đến đầu tư trong nước tăng lên.
Việt Nam tuân theo quy luật phát triển chung của các nền kinh tế. Theo đó, tỷ lệ tiêu dùng trong GDP giảm dần
và thường giảm nhanh trong giai đoạn đầu của sự phát triển, tiết kiệm dành cho tích lũy đầu tư sẽ tăng lên. Tỷ lệ tiêu
dùng của nước ta từ trên 98% năm 1986 giảm xuống còn 70,1% GDP vào năm 2005; tỷ lệ tiết kiệm nội địa đã tăng
lên từ 1,17% (1986) lên 29,9% (2005); tỷ lệ đầu tư tích lũy tài sản trong GDP tăng từ 11,96% (1986) lên trên 38%
(2005). Tuy nhiên, tốc độ giảm tỷ lệ tiêu dùng của Việt Nam còn chậm, trung bình dịch chuyển là 1,5% hàng năm,
trong khi của Thái Lan là 4,2%; Malaixia là 6,5%. Tỷ lệ tiêu dùng của Việt Nam vẫn còn cao, chiếm 70,1% (năm
2005), tương đương với tỷ lệ của Thái Lan năm 1987 so với Malaixia thì năm đạt tỷ lệ đó còn lùi lại khá xa.
Biểu đồ 3: Tỷ trọng tiêu dùng, tích luỹ tài sản trong nước, tiết kiệm nội địa trong GDP trong giai đoạn 1986 –
2004
Nguồn: Tạp chí Quản lý Kinh tế số 7 ( tháng 4-2006)
Một đặc trưng trong cơ cấu tổng cầu của Việt Nam đó là tỷ lệ nguồn vốn nước ngoài hay nguồn tiết kiệm nước
Việt Nam vẫn còn lạc hậu. Hiện tại cơ cấu kinh tế của Việt Nam giống như cơ cấu kinh tế của một số quốc gia
ASEAN đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX.
1.4. Lạm phát
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ hai chiều mật thiết với nhau. Một nền kinh tế tăng trưởng cao
thông thường sẽ kéo theo lạm phát cũng tăng. Một nền kinh tế nếu lạm phát thấp, không có lạm phát hoặc thiểu phát
(lạm phát âm) thì nền kinh tế đó cũng rất trì trệ và tăng trưởng thấp. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng nghĩa đất nước
đó phải đối mặt với vấn đề lạm phát gia tăng, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.
Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua hầu hết các loại lạm phát như lạm phát phi mã trong thời kỳ 1986 - 1988 với tỷ
lệ lạm phát trung bình năm đạt 463,9%/năm; lạm phát cao trong thời kỳ 1989 - 1992, với tỷ lệ lạm phát bình quân
năm tương ứng là 46,7%/năm; lạm phát thấp trong thời kỳ 1996 - 1999 và 2001 - 2003 với tỷ lệ lạm phát tương ứng
là 4,4%/năm và 4,3%/năm; thậm chí là giảm phát trong năm 2000 (-0,6%). Tuy nhiên, trong hai năm 2004 - 2005
khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao 7,79% (năm 2004) và 8,5% (năm 2005) thì lạm phát của Việt Nam cũng
tăng lên ở mức 9,5% (năm 2004) và 8,4% (năm 2005), cao hơn cả tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Bảng 3: Tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam
giai đoạn 1998 – 2005
Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tăng trưởng GDP 5,8 4,8 6,8 6,8 7,0 7,3 7,6 8,4
Lạm phát 7,8 4,1 -1,7 0,8 1,5 3,0 9,5 8,4
Lạm phát thường được hiểu là sự gia tăng liên tục của mức giá chung theo thời gian hay là sự sụt giảm liên tục
sức mua của đồng tiền trong một khoảng thời gian nhất định. Yếu tố gây ra lạm phát bao gồm cả yếu tố trong nước
gây tăng giá hàng hóa và yếu tố tăng giá do bên ngoài tác động. Lạm phát của nước ta tăng cao trong 2 năm trở lại
đây chủ yếu do giá cả hàng hóa trên thế giới tăng đột biến như giá xăng dầu, giá nguyên vật liệu (phân bón, phôi
thép,...), giá vàng. Trong khi nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nhập khẩu của nước
ta (chiếm 68% năm 2004), do đó sự biến động giá cả các mặt hàng này trên thế giới đã tác động trực tiếp đến giá cả
các mặt hàng này ở trong nước, gây tăng lạm phát.
Các chính sách kinh tế vĩ mô có vai trò quan trọng trong việc điều tiết để ổn định và kiểm soát được lạm phát.
Việc dùng chính sách bơm tiền để kích cầu nền kinh tế trong năm 2000, khi nền kinh tế đang giảm phát, lạm phát
âm đã giúp tình trạng trì trệ được cải thiện, tỷ lệ lạm phát nhích lên gần 1% năm 2001 là một minh chứng cụ thể.
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần phải phát huy và nâng cao hiệu quả của các chính sách vĩ mô, phối hợp linh
hoạt giữa chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách tỷ giá nhằm điều tiết nền kinh tế ổn định, đảm bảo tăng trưởng có
công nghệ.
* Hiệu quả đầu tư: Lượng vốn đầu tư liên tục tăng trong những năm qua, năm 2000 vốn đầu tư thực hiện theo
giá thực tế là 151,2 nghìn tỷ đồng (bằng 34,2% GDP); năm 2005 tăng lên 324 nghìn tỷ đồng (bằng 38,7% GDP).
Tốc độ tăng về vốn đầu tư thực hiện cao hơn tốc độ tăng GDP, tăng 22,3% (giai đoạn1991 – 1995); 12,2% (1996 –
2000) và 13% (2001 – 2005). Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư lại thấp và ngày càng giảm, thể hiện qua chỉ số ICOR còn
khá cao và liên tục tăng, cụ thể từ 2,7 (năm 1991) tăng dần lên 3,6 (năm 1997); tăng cao đột ngột năm 1998 và 1999
tương ứng là 5,3 và 6,1; sau giai đoạn này, chỉ số ICOR có giảm nhưng vẫn ở mức cao so với trước giai đoạn khủng
hoảng, 4,9 (năm 2003) và lên cao nhất vào năm 2005 (6,93). Có thể nói trong những năm đầu của công cuộc đổi
mới, nhờ đổi mới cơ chế, nền kinh tế đã huy động được tài sản cố định và khai thác hiệu quả các công suất đã đầu tư
trước đây, do vậy kết quả đầu tư tương đối có hiệu quả, hệ số ICOR thấp. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á,
cùng với chính sách kích cầu, đầu tư vào kết cấu hạ tầng ở nông thôn tăng nhanh, hệ số ICOR đã tăng nhanh. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đầu tư kém hiệu quả, hệ số ICOR cao, đó là:
- Thứ nhất, hệ số ICOR tăng một phần là vì nước ta đang trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, cần phải đầu tư nhiều vào các công trình xây dựng cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng, là những dự án đòi hỏi số
vốn đầu tư cao nhưng lại chậm thu hồi vốn, nhất là các công trình lớn và nhiều năm nữa mới đi vào hoạt động.
- Thứ hai, sự bất hợp lý trong cơ cấu vốn đầu tư, cụ thể chúng ta quá chú trọng vào những ngành công nghiệp được
xếp vào nhóm có sức cạnh tranh thấp, thu hồi vốn chậm (mía, đường, sắt, thép, phân bón, giấy…); đầu tư vào các dự
án cần nhiều vốn nhưng sử dụng ít lao động; đầu tư dàn trải.
- Thứ ba, hiệu quả vốn đầu tư của khu vực Nhà nước còn rất thấp. Mặc dù vốn đầu tư của khu vực Nhà nước chiếm
hơn 56%, nhưng hiệu quả đầu tư ở khu vực này rất thấp. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, hệ số ICOR trong
khu vực Nhà nước là 7,2 trong khi đó ở khu vực tư nhân là 3,8.
- Thứ tư, công tác giám sát đầu tư còn hạn chế. Hầu hết các khâu từ quy hoạch, thiết kế, dự toán, đấu thầu, thi công
đến giám sát thi công đều chưa tốt dẫn đến không bảo đảm chất lượng công trình. Đồng thời, làm gia tăng thất thoát,
lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn ODA. Vấn đề tham
nhũng cũng là một trong những vấn đề gay gắt hiện nay làm giảm hiệu quả đầu tư của nền kinh tế.
Hệ số ICOR tăng nhanh là một vấn đề đáng báo động đối với tình hình chất lượng đầu tư ở nước ta. Các nhà
kinh tế cho rằng, hệ số ICOR của nước ta hiện nay đã vượt qua ngưỡng an toàn. Trong khi chỉ số ICOR của các
nước trong khu vực Đông Nam Á như Xingapo, Malaixia, Thái Lan… chỉ dao động trong khoảng 2,5 đến 3,5. Theo
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, nếu so sánh với các nước ở giai đoạn tương đồng thì chỉ số ICOR của Việt Nam so
với Trung Quốc cao hơn khoảng 1,5 lần, với Thái Lan là 1,35 lần.
Theo chấm điểm và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, về sức cạnh tranh của lao động theo thang điểm
100 thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái độ lao động,
16 điểm về kỹ năng lao động và 32 điểm về chất lượng lao động. Các nhà kinh tế thế giới cũng cảnh báo rằng các
nền kinh tế có chất lượng nguồn nhân lực dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Như đã phân tích ở trên, các nguyên nhân liên quan đến cơ cấu lao động và chất lượng lao động đã dẫn đến năng
suất lao động xã hội thấp, sử dụng vốn con người không hiệu quả, dẫn đến tỷ trọng thấp của TFP trong tăng trưởng
kinh tế.
* Tiến bộ khoa học công nghệ: Yếu tố cơ bản trong TFP là tiến bộ khoa học công nghệ. Tiến bộ khoa học công
nghệ có tác động tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao hiệu quả đầu tư, thúc đẩy đóng góp của yếu tố TFP
trong tăng trưởng.
Đầu tư vào nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất ở nước ta trong những năm qua
mặc dù đã có những tiến triển khả quan, tác động đến tăng trưởng trong nhiều lĩnh vực, góp phần tạo ra nhiều sản
phẩm mới, có giá trị kinh tế cao, song vẫn chưa tạo nên bước đột phá trong tỷ lệ đóng góp của tiến bộ khoa học công
nghệ vào tăng trưởng. Theo tiêu chí đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D) bình quân trên cán bộ nghiên cứu,
Việt Nam thấp hơn Thái Lan 4 lần, Trung Quốc 7 lần, 8 lần so với Malaixia và 26 lần so với Xingapo. Đáng lưu ý là
đầu tư R&D của khu vực ngoài Nhà nước đang còn quá thấp, mới đạt khoảng 19% trong khi mức độ này ở Trung
Quốc là 45%, Malaixia 60% và Nhật Bản đạt trên 72%. Cuộc điều tra trên 7.850 doanh nghiệp công nghiệp của
Tổng cục Thống kê trong năm 2005 cũng cho thấy, chỉ có 3,86% trong số 293 doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu
khoa học và đổi mới công nghệ, tỷ lệ này sút giảm gần 2 lần so với kỳ điều tra của năm 2002 (chiếm 6,14%). Mặc
dù chế biến là ngành được khuyến khích mạnh mẽ, nhưng chỉ có 38 doanh nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống
(chiếm 3,4% số doanh nghiệp) đầu tư vào khoa học công nghệ.
Số lượng các bằng phát minh sáng chế trên một người dân chỉ bằng 1/11 so với Trung Quốc và Thái Lan,
bằng 1/88 so với Xingapo. Năng lực nghiên cứu cơ bản và phát triển công nghệ mặc dù được đánh giá là có tiến
bộ khả quan song mới chỉ thể hiện dưới dạng tiềm năng. Số lượng các cơ quan khoa học công nghệ so với các
nước là không nhiều, trình độ của cán bộ làm nghiên cứu khoa học công nghệ còn thấp so với nhiều nước trong
khu vực và khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội còn hạn chế.
Trình độ công nghệ trong nền kinh tế nước ta còn thấp, lạc hậu 3 - 4 thế hệ so với những nước công nghiệp phát
triển, đứng thứ 92 trong số 117 nước được điều tra (WEF 2005 - 2006). Công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu
nhiều thế hệ so với khu vực. Chuyển giao công nghệ chưa có những tiến bộ cần thiết, đặc biệt trình độ công nghệ
thông tin còn rất thấp. Tỷ trọng doanh nghiệp có công nghệ cao mới đạt 20,6%, thấp xa so với các nước ASEAN; rất
Luật Đầu tư và Luật Đấu thầu năm 2006) và các chính sách cởi mở về xuất khẩu, song hệ thống pháp luật của nước ta
vẫn còn tồn tại nhiều bất cập; còn thiếu tính nhất quán và ổn định. Việc thực thi pháp luật không nghiêm cũng được coi
là một nguyên nhân. Nạn quan liêu, tham nhũng tuy đã có những biện pháp đấu tranh nhưng trong những năm gần đây
vẫn còn khá phổ biến và nghiêm trọng, dẫn đến chỉ số về năng lực thể chế của nước ta còn rất thấp. Chỉ số về môi
trường vĩ mô của Việt Nam cũng ở vị trí khiêm tốn. Nguyên do môi trường kinh doanh còn chưa thực sự bình đẳng,
còn quá nhiều doanh nghiệp nhà nước độc quyền trên các lĩnh vực; tính minh bạch, công khai của nền kinh tế, bao gồm
cả doanh nghiệp và cơ quan nhà nước còn thấp.
II. CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG XÉT TRÊN KHÍA CẠNH MÔI TRƯỜNG
1. Đánh giá chất lượng môi trường Việt Nam
1.1. Tài nguyên đất
Việt Nam có diện tích tự nhiên 32.931.456 ha với 3/4 lãnh thổ là vùng đồi núi và trung du, trong đó diện tích
sông suối và núi đá không có rừng cây khoảng 1.370.100 ha (chiếm khoảng 4,06% diện tích đất tự nhiên), phần đất
liền khoảng 31,2 triệu ha (chiếm khoảng 94,5% diện tích tự nhiên), xếp thứ 58 trên thế giới. Nhưng vì dân số đông
(trên 80 triệu người) nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại rất thấp, xếp thứ 159 và bằng 1/6 bình quân
của thế giới. Trong 10 năm qua, nhờ thực hiện chính sách thích hợp, chúng ta đã khai khẩn được thêm 4.897.629 ha
đất đưa vào sử dụng (đất nông nghiệp tăng thêm 2.352.105 ha; đất lâm nghiệp có rừng tăng thêm 2.180.235 ha và
đất chuyên dùng tăng thêm 560.653 ha). Tuy nhiên, tổng diện tích đất đưa vào sử dụng và diện tích đất bình quân
đầu người thực tế lại đang có những biểu hiện đi ngược lại nỗ lực của tăng diện tích đất canh tác, đất sử dụng của
Việt Nam.
1.1.1. Diện tích đất sử dụng cho canh tác ngày càng bị thu hẹp
Diện tích đất canh tác của Việt Nam vốn đã thấp nhưng lại giảm theo thời gian do tệ phá rừng làm nương rẫy, sự
xói mòn và thoái hóa đất, tình trạng sa mạc hóa, sức ép dân số tăng, mất đất do đô thị hoá, công nghiệp hóa và chuyển
đổi mục đích sử dụng.
Bảng 7: Giảm diện tích đất canh tác trên đầu người
ở Việt Nam
Năm 1940 1960 1970 1992 2000
Bình quân đầu người (ha/người) 0,2 0,16 0,13 0,11 0,10
Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam.
So sánh với các nước trong khu vực, số lao động trên 1 đơn vị diện tích của ta thuộc hàng cao nhất. Theo số liệu
năm 2000 của FAO cho thấy nếu ở Việt Nam có 3,2 lao động/ha thì ở Trung Quốc con số này là 0,9 LĐ/ha,
Cả nước 8,2 10,1
Nguồn: Việt Nam tấn công đói nghèo, Ngân Hàng Thế giới, Hà Nội.
1.1.2. Suy thoái và ô nhiễm đất
Ngoài các nguyên nhân khách quan như vị trí địa lý, khí hậu…, hoạt động của con người như sự tăng dân số, đói nghèo,
kỹ thuật canh tác không hợp lý, mất rừng, cháy rừng, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng đô thị, khu công nghiệp, khai thác
khoáng sản… cũng tác động trực tiếp làm biến đổi tính chất đất và mất đất, làm cho đất không còn tính năng sản xuất, từ đó
dẫn đến quá trình suy thoái và ô nhiễm môi trường đất trở nên trầm trọng hơn. Các nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường đất
bao gồm:
- Ô nhiễm do sử dụng phân bón hóa học: Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp,
bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm và chất lượng phân bón không bảo đảm làm cho hiệu quả phân
bón thấp. Đồng thời lượng phân đạm dư thừa lại gây ô nhiễm môi trường đất. (ở nước ta, có trên 50% lượng đạm,
50% lượng Kali và khoảng 80% lượng lân dư thừa).
- Ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi, và tồn
dư lâu dài trong môi trường đất – nước. Từ năm 2000, trung bình mỗi năm tiêu thụ trên 30 ngàn tấn thuốc bảo vệ
thực vật thành phẩm. Tổng lượng thuốc sử dụng hàng năm tăng từ 1,2 - 1,5 lần so với năm 1990. Mặc dù khối lượng
thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt Nam còn ít so với các nước khác (trung bình từ 0,5 – 1 kg/ha/năm),
nhưng ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.
- Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt động công nghiệp: Trong những năm gần đây, hàm lượng kim
loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên đáng kể (như tại cụm công nghiệp Phước Long, hàm lượng
Cr cao gấp 15 lần, Cd từ 1,5 đến 5 lần, As gấp 1,3 lần so với tiêu chuẩn).
1.2. Về nguồn nước
Việt Nam có nguồn tài nguyên nước ngọt rất dồi dào, hoàn toàn có thể đảm bảo được nguồn nước sinh hoạt cho
người dân (lượng nước tính trung bình trên đầu người của Việt Nam là 11.189 m
3
/người, cao gần gấp đôi so với mức
trung bình của thế giới), cũng như cho các mục đích để đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững. Đây là một cơ sở
rất quan trọng và thuận lợi cho Việt Nam để có thể đảm bảo được sự phát triển bền vững của môi trường cũng như
đạt được mục tiêu tăng trưởng có chất lượng.
Bảng 9: Tài nguyên nước tái tạo được của một số quốc gia (2002 - 2004)
Quốc gia Lượng nước (m
Việt Nam là một trong những nước đang ở trong tình trạng ô nhiễm nước nghiêm trọng và diễn ra với tốc độ tăng
nhanh nhất trên thế giới. Đặc biệt mức độ ô nhiễm nước ở một số khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp
tập trung đã lên đến mức báo động.
Ô nhiễm nước mặt: Chất lượng nước ở thượng lưu của hầu hết các con sông chính của Việt Nam còn khá tốt,
trong khi mức độ ô nhiễm ở hạ lưu của các con sông này ngày càng tăng do ảnh hưởng của các đô thị và các cơ sở
công nghiệp. Đặc biệt, mức độ ô nhiễm tại các sông tăng cao vào mùa khô. Ở các hệ thống sông chính trên cả nước
đã thấy có hiện tượng hàm lượng BOD
5
và NH
4
vượt mức tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần, hàm lượng chất rắn
lơ lửng vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép loại A từ 1,5 đến 2,5 lần. Một số điểm cũng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm kim
loại nặng. Trong khu vực nội thành của các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh... hệ thống các
ao, hồ, kênh rạch và sông nhỏ đều ở tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép 5 - 10 lần.
Việc khai thác nước quá mức và không có quy hoạch đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp. Hiện tượng này thấy
nhiều ở các khu vực đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Nước dưới đất đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm
phốt phát và asen. Khai thác nước dưới đất quá mức cũng đã dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển
ở nhiều nơi.
1.2.3. Vấn đề xử lý nước thải
a. Nước thải đô thị và công nghiệp
Hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả thải ra môi trường (chỉ khoảng 4,26% lượng nước thải
công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn). Ngoài ra, hiện nay cả nước chỉ có một số bãi chôn lấp rác có hệ thống
xử lý nước rác hoạt động thường xuyên và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường. Do đó, nước thải công nghiệp, nước thải
sinh hoạt, nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp rác thải và cả nước thải bệnh viện (nguồn nước chứa nhiều thành phần nguy
hiểm gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường) ngấm xuống đất và xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nước
dưới đất.
b. Nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các nguồn khác tại khu vực nông thôn