Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á - Pdf 12

Bé KÕ ho¹ch vµ §Çu t
Trung t©m th«ng tin vµ dù b¸o kinh tÕ x héi quèc gia– ·

CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á
Hà nội, tháng 10/2006
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á

2
MỤC LỤC
Trang
• Danh mục bảng và biểu đồ........................................................................3
• Danh mục các từ viết tắt............................................................................5
• Lời nói đầu..................................................................................................7
Chương I
CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM
I. Chất lượng tăng trưởng xét trên khía cạnh kinh tế........................................9
II. Chất lượng tăng trưởng xét trên khía cạnh môi trường................................28
III. Hiệu lực quản lý của Nhà nước..............................................................41
IV. Tăng trưởng gắn với phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo
59
Chương II
KINH NGHIỆM CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG
CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á - BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
I. Chất lượng tăng trưởng của Trung Quốc...............................................80
II. Chất lượng tăng trưởng của Thái Lan..................................................109
III. Chất lượng tăng trưởng của Hàn Quốc................................................117
IV. Chất lượng tăng trưởng của Malaixia..................................................126
V. Bài học cho Việt Nam..........................................................................138
• Kết luận...............................................................................................152
• Tài liệu tham khảo..............................................................................154


4
Bảng 18: Tốc độ tăng GDP của Hàn Quốc qua các thời kỳ (%)........118
Bảng 19: Vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế của Malaixia (%)
.............................................................................................130
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1998 – 2005..................10
Biểu đồ 2: Cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam........................................12
Biểu đồ 3: Tỷ trọng tiêu dùng, tích luỹ tài sản trong nước, tiết kiệm nội
địa trong GDP trong giai đoạn 1986 – 2004.........................16
Biểu đồ 4: Bội chi NSNN 1994 – 2004..................................................46
Biểu đồ 5: Biến động lạm phát của Trung Quốc (1990 – 2003).............85
Biểu đồ 6: Biến động lượng tiền mở rộng M2 (1990 – 2003)................92
Biểu đồ 7: Tốc độ tăng trưởng GDP của Malaixia giai đoạn 1997-2006
(%).......................................................................................127
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á

5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH Bảo hiểm xã hội
BN Ngân hàng Trung ương Malaixia
BOD Mức độ ô xy sinh hóa
CCHC Cải cách Hành chính
CHXHCNVN Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
CN Công nghiệp
COD Mức độ ô nhiễm cho phép về oxy hóa học
CPI Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)
CPI Chỉ số nhận biết tham nhũng (Corruption Perception Index)
CSTK Chính sách tài khoá
CSTT Chính sách tiền tệ

ODA Nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức
P II Chỉ số thể chế công
PDS Thị trường chứng khoán nợ tư nhân
PPP Sức mua tương đương
R&D Nghiên cứu và triển khai
REER Tỷ giá thực đa phương
SEPA Công ty bảo vệ môi trường Xcôt-len
TFP Năng suất nhân tố tổng hợp
TI Chỉ số công nghệ (Technology Index)
TI Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparerency International)
UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
WB Ngân hàng thế giới
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
XDCB Xây dựng cơ bản
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á

7
LỜI NÓI ĐẦU
Trong giai đoạn phát triển vừa qua, Việt Nam đã đạt được kết quả tương đối cao về
tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình từ năm 1990 đến nay là 7%, đặc
biệt liên tục tăng cao trong mấy năm gần đây, đạt 7,6% năm 2004; 8,4% năm 2005, đưa
Việt Nam đứng vị trí thứ 39 trên thế giới về chỉ số xếp hạng GDP, đứng thứ 2 trong khu
vực Đông Á về tốc độ tăng trưởng. Nhờ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu
người của Việt Nam được cải thiện đáng kể, tăng từ 140 USD năm 1990 lên 640 USD
năm 2005, mức sống của người dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58,1% năm
1993 xuống còn 24,2% năm 2004.
Theo đánh giá của một số học giả, chất lượng tăng trưởng của Việt Nam còn thấp.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, Khóa IX đã nhận định “tăng trưởng kinh tế khá …
nhưng chưa tương xứng với mức đầu tư, với tiềm năng của nền kinh tế”
1

Trong hai thập niên qua (1986 - 2006), kể từ khi áp dụng những chính sách cải cách kinh tế toàn diện
với nội dung cốt lõi là sự kết hợp của tự do hóa, ổn định hóa, thay đổi thế chế, cải cách cơ cấu và mở cửa ra
nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận.
1.1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Năm 1986 đánh dấu quá trình đổi mới kinh tế, từ chỗ hầu như không có tăng trưởng trong giai đoạn
1976 – 1985, bước sang giai đoạn 1986 – 1990, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi và phát triển, tuy tốc
độ chưa cao. Từ năm 1990 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam tăng cao, trung bình hàng năm
đạt 7%. Tính chung từ 1986 - 2005, tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm là 6,98%, tăng gấp 3,6 lần so với
đầu giai đoạn. Chỉ số xếp hạng GDP của Việt Nam cũng được cải thiện rõ rệt, từ vị trí thứ 124 thế giới năm
2002 tăng lên thứ 39 vào năm 2005.
Năm 1999, do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, tốc độ tăng trưởng
GDP của Việt Nam đã giảm xuống còn 4, 8%. Tăng trưởng giảm sút thể hiện ở hầu hết các ngành kinh tế
chủ chốt như công nghiệp, dịch vụ và xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, đến năm 2000, nền kinh tế đã có sự hồi
phục nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đạt ở mức 6,8% và liên tiếp tăng trong các năm tiếp theo
đạt 7,0% (năm 2002); 7,3% (năm 2003); 7,6% (năm 2004); 8,4% (năm 2005).
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1998 - 2005
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
%
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á


độ tăng trưởng trên 10%/năm cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn nền kinh tế, riêng trong ngành dịch vụ có sự
gia tăng đều đặn hàng năm tuy tốc độ không cao, duy trì ở mức 6-7%/năm, đặc biệt trong năm 2005, đạt
8,48%..
Biểu đồ 2: Cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á

11
15
20
25
30
35
40
45
50
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004

nghiệp
Công nghiệp Dịch vụ
Trung Quốc 18 49 (CN chế tác chiếm 37%) 33
Hàn Quốc 6 43 (CN chế tác chiếm 26%) 51
Malaysia 12 48 (CN chế tác chiếm 34%) 40
Thái Lan 11 40 (CN chế tác chiếm 29%) 49
Việt Nam 25,5 34,5 (CN chế tác chiếm 17,7%) 40
Nhật Bản 2 37 (CN chế tác chiếm 24%) 61
Philipin 17 32 (CN chế tác chiếm 22%) 51
Nhìn chung về cơ cấu ngành, trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được mức tăng
trưởng cao nhưng bản thân quá trình tăng trưởng vẫn thể hiện chất lượng tăng trưởng còn thấp. Tốc độ tăng
trưởng của giá trị tăng thêm thấp hơn tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất, do chi phí trung gian (chi phí
nguyên vật liệu tăng, chi phí quản lý, chi phí sản xuất) tăng với tốc độ cao cả ba khu vực. Cụ thể, trong nông
nghiệp, tính chung trong thời kỳ 1991 - 2003, tăng trưởng giá trị sản xuất là 6,2%/năm, nhưng tăng trưởng giá
trị tăng thêm chỉ đạt 4,1%, chỉ bằng 2/3 tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất. Trong khu vực công nghiệp -
xây dựng tốc độ của giá trị tăng thêm liên tục thấp hơn giá trị sản xuất trong một thời gian khá dài, tính chung
trong thời kỳ 1991 - 2003, khi tốc độ tăng của giá trị sản xuất lên đến 13,9%/năm, thì giá trị tăng thêm chỉ đạt
11,7%/năm.
Chất lượng tăng trưởng thấp còn thể hiện ngay trong cơ cấu của từng ngành. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu
nông – lâm – ngư nghiệp còn rất chậm chạp, tuy tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp có giảm nhưng vẫn
chiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi, ngành thủy sản vẫn còn thấp. Tỷ trọng chăn nuôi trong
thời gian tới có nguy cơ giảm xuống do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm sẽ khiến cho đầu tư vào ngành
chăn nuôi gia cầm bị hạn chế. Những cạnh tranh, tranh chấp đối với thủy sản Việt Nam gần đây, những đe
dọa của thiên tai bất thường, những khó khăn về giới hạn năng lực sản xuất và diện tích canh tác đối với
ngành thủy sản cũng khiến cho ngành này đang phải đứng trước nguy cơ tỷ trọng sẽ giảm trong thời gian
tới. Ngành lâm nghiệp sử dụng nhiều đất nhất trong tất cả các ngành kinh tế nhưng chỉ đóng góp 1,2% vào
GDP (số liệu năm 1999).
Tăng nhanh tỷ trọng giá trị dịch vụ là xu thế chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước
phát triển, phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ công nghệ và phát triển nền kinh tế tri thức.
Trong khi đó ở Việt Nam, tỷ trọng giá trị dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế tăng với tốc độ chậm, thậm chí

40
60
80
100
120
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
%GDP
tiªu dïng tÝch lòy tµi s¶n trong n­íc TiÕt kiÖm néi ®Þa
Nguồn: Tạp chí
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á


- Thứ hai, nước ta hiện nay vẫn chưa xây dựng được mạng lưới các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ
trực tiếp cho các hoạt động sản xuất để xuất khẩu. Ngành sản xuất xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nhập
khẩu nguyên liệu để gia công như ngành da giày, may mặc,…
- Thứ ba, tỷ trọng hàng nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng và nguyên, vật liệu trong cơ cấu hàng nhập
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á

15
khẩu tuy đã giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn; tỷ trọng nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ còn
khiêm tốn.
Như vậy, tuy đã có những sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế, nhưng nhìn một cách tổng thế, cơ
cấu kinh tế Việt Nam vẫn còn lạc hậu. Hiện tại cơ cấu kinh tế của Việt Nam giống như cơ cấu kinh tế của
một số quốc gia ASEAN đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX.
1.4. Lạm phát
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ hai chiều mật thiết với nhau. Một nền kinh tế tăng trưởng
cao thông thường sẽ kéo theo lạm phát cũng tăng. Một nền kinh tế nếu lạm phát thấp, không có lạm phát hoặc
thiểu phát (lạm phát âm) thì nền kinh tế đó cũng rất trì trệ và tăng trưởng thấp. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
đồng nghĩa đất nước đó phải đối mặt với vấn đề lạm phát gia tăng, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.
Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua hầu hết các loại lạm phát như lạm phát phi mã trong thời kỳ 1986 -
1988 với tỷ lệ lạm phát trung bình năm đạt 463,9%/năm; lạm phát cao trong thời kỳ 1989 - 1992, với tỷ lệ
lạm phát bình quân năm tương ứng là 46,7%/năm; lạm phát thấp trong thời kỳ 1996 - 1999 và 2001 - 2003
với tỷ lệ lạm phát tương ứng là 4,4%/năm và 4,3%/năm; thậm chí là giảm phát trong năm 2000 (-0,6%).
Tuy nhiên, trong hai năm 2004 - 2005 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao 7,79% (năm 2004) và
8,5% (năm 2005) thì lạm phát của Việt Nam cũng tăng lên ở mức 9,5% (năm 2004) và 8,4% (năm 2005),
cao hơn cả tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Bảng 3: Tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam
giai đoạn 1998 – 2005
Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tăng trưởng GDP 5,8 4,8 6,8 6,8 7,0 7,3 7,6 8,4
Lạm phát 7,8 4,1 -1,7 0,8 1,5 3,0 9,5 8,4
Lạm phát thường được hiểu là sự gia tăng liên tục của mức giá chung theo thời gian hay là sự sụt giảm

Tổng hợp nguồn: Kinh tế Việt Nam 2003 - 2004 và Thời báo Kinh tế Việt Nam.
Hiện nay, ở nước ta, tăng trưởng kinh tế do yếu tố vốn và lao động còn chiếm chủ yếu, vai trò của TFP
có tăng, nhưng còn rất thấp nếu so với ngay các nước đang phát triển ở châu Á.
Từ 1993 đến nay, đóng góp của TFP vào GDP có tăng lên nhưng tăng còn dè dặt và chiếm tỷ trọng
không lớn (14,8% lên 28,2%); tỷ trọng đóng góp của lao động tăng lên trong giai đoạn 1998 – 2002
nhưng lại có xu hướng giảm dần giai đoạn sau đó; đóng góp từ vốn có giảm xuống (từ 69,3% xuống còn
52,7%), tuy nhiên yếu tố vốn vẫn chiếm chủ yếu trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. So sánh với các
nước trong khu vực, tỷ trọng TFP trong tăng trưởng của nước ta thấp hơn rất nhiều (thời kỳ 1980 – 2000
ở Hàn Quốc là 39,96%, Ấn Độ là 40,78%). Các chỉ số này phản ánh tính chất của tăng trưởng nước ta
còn nghiêng về chiều rộng hơn là chiều sâu. Xu hướng phát triển chủ yếu dựa vào yếu tố vốn đầu tư,
trong khi đó, vốn tự có thấp, chủ yếu phải đi vay từ nước ngoài, vay trong dân cư,… sẽ khiến cho tăng
trưởng thiếu tính bền vững, ổn định, dễ bị tác động từ các yếu tố bên ngoài, đặc biệt từ sự biến động của
thị trường vốn. Yếu tố lao động được coi là nguồn lực nội sinh, hiện đang có lợi thế so sánh (như giá rẻ,
dồi dào…) thì chỉ đóng vai trò thấp hơn nhiều so với yếu tố vốn trong tăng trưởng.
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á

17
Nguyên nhân của tình trạng này ở nước ta có thể được xem xét dựa trên các yếu tố cơ bản trong năng
suất nhân tố tổng hợp đó là hiệu quả đầu tư, chất lượng lao động được thể hiện qua năng suất lao động và
tiến bộ khoa học công nghệ.
* Hiệu quả đầu tư: Lượng vốn đầu tư liên tục tăng trong những năm qua, năm 2000 vốn đầu tư thực
hiện theo giá thực tế là 151,2 nghìn tỷ đồng (bằng 34,2% GDP); năm 2005 tăng lên 324 nghìn tỷ đồng
(bằng 38,7% GDP). Tốc độ tăng về vốn đầu tư thực hiện cao hơn tốc độ tăng GDP, tăng 22,3% (giai
đoạn1991 – 1995); 12,2% (1996 – 2000) và 13% (2001 – 2005). Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư lại thấp và
ngày càng giảm, thể hiện qua chỉ số ICOR còn khá cao và liên tục tăng, cụ thể từ 2,7 (năm 1991) tăng dần
lên 3,6 (năm 1997); tăng cao đột ngột năm 1998 và 1999 tương ứng là 5,3 và 6,1; sau giai đoạn này, chỉ số
ICOR có giảm nhưng vẫn ở mức cao so với trước giai đoạn khủng hoảng, 4,9 (năm 2003) và lên cao nhất
vào năm 2005 (6,93). Có thể nói trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, nhờ đổi mới cơ chế, nền
kinh tế đã huy động được tài sản cố định và khai thác hiệu quả các công suất đã đầu tư trước đây, do vậy
kết quả đầu tư tương đối có hiệu quả, hệ số ICOR thấp. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, cùng với

29.057,6 USD, Brunây 34.697,5 USD, Xingapo 48.563,9 USD, Nhật Bản 73.014,4 USD…). Hơn nữa, năng
suất lao động của nước ta tăng rất chậm, chỉ khoảng 4 - 5%/năm. Như vậy, rõ ràng đóng góp năng suất của lao
động trong thời gian vừa qua, chẳng những không tăng lên nhiều, so với các nước khu vực chúng ta lại càng
bị cách xa thêm nữa. Vậy năng suất lao động xã hội của nước ta ở mức thấp như vậy bắt nguồn do các nguyên
nhân nào?
- Thứ nhất, nguyên nhân xuất phát từ cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của Việt Nam hiện nay vẫn
tập trung chủ yếu vào nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản (56,8%), còn nhóm ngành dịch vụ
chiếm tỷ trọng thấp (25,3%) và nhóm ngành công nghiệp - xây dựng còn chiếm tỷ trọng thấp hơn nữa
(17,9%), các tỷ lệ này gần như ngược với các tỷ lệ tương ứng của các nước trong khu vực. Trong khi
đó, năng suất lao động của nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản chỉ đạt rất thấp (450 USD, riêng
ngành nông, lâm nghiệp đạt chưa được 400 USD), thấp xa so với năng suất lao động của nhóm ngành
dịch vụ (1.860 USD) và còn thấp hơn nữa so với năng suất lao động của nhóm ngành công nghiệp -
xây dựng (2.853 USD). Tính theo tỷ lệ năm suất lao động trong ngành nông – lâm – ngư nghiệp chỉ
chiếm bằng 12,3% năng suất lao động của ngành công nghiệp và bằng 18% năng suất lao động ở khu
vực dịch vụ.
- Thứ hai, chất lượng lao động của nước ta còn rất yếu kém, xếp vào loại thấp (3,79 điểm/thang 10
điểm). Tỷ lệ lao động trẻ cao so với nhiều nước trong khu vực là một lợi thế của lao động Việt
Nam. Bên cạnh những ưu thế về thể chất, lao động trẻ thường là đội ngũ có học thức, năng động,
sáng tạo, ham hiểu biết, tiếp thu nhanh kỹ thuật và công nghệ mới. Mặt khác, trình độ học vấn của
lao động Việt Nam tương đối cao. Tỷ lệ người biết chữ trong trong số lực lượng lao động xã hội là
94,3% (năm 2002), tỷ lệ người không biết chữ chỉ có 3,75%. Hạn chế cơ bản của nguồn nhân lực
Việt Nam là số người được đào tạo nghề và kỹ năng chuyên môn quá ít, năm 2002 mới chiếm có
19,62%. Sự khác nhau về trình độ văn hóa, về đầo tạo nghề và kỹ năng chuyên môn cũng biểu hiện
khá rõ giữa lao động ở khu vực nông thôn và khu vực thành thị, cũng như giữa lao động nữ và lao
động nam. Một hạn chế nữa của lao động Việt Nam là ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công
nghiệp rất yếu thể hiện ở lối sống vô tổ chức, vô kỷ luật, làm việc tùy tiện, thiếu sự hợp tác giữa
các thành viên với nhau v.v... của nền kinh tế tiểu nông, tồn tại hàng ngàn đời nay đã ảnh hưởng
không nhỏ đến đội ngũ lao động Việt Nam hiện tại.
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á


Trình độ công nghệ trong nền kinh tế nước ta còn thấp, lạc hậu 3 - 4 thế hệ so với những nước công
nghiệp phát triển, đứng thứ 92 trong số 117 nước được điều tra (WEF 2005 - 2006). Công nghệ trong các
doanh nghiệp lạc hậu nhiều thế hệ so với khu vực. Chuyển giao công nghệ chưa có những tiến bộ cần thiết,
đặc biệt trình độ công nghệ thông tin còn rất thấp. Tỷ trọng doanh nghiệp có công nghệ cao mới đạt 20,6%,
thấp xa so với các nước ASEAN; rất ít doanh nghiệp quan tâm đến thông tin về khoa học và công nghệ, chỉ
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á

20
có khoảng 8% doanh nghiệp đạt được trình độ tiên tiến (phần lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài)
2
.
3. Năng lực cạnh tranh quốc gia
Tăng trưởng về chất phải là quá trình tăng trưởng theo chiều sâu, đảm bảo nâng cao hiệu quả và năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của ngành, của doanh nghiệp nói riêng. Đối với Việt Nam, mặc
dù đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng nhìn chung, chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta vẫn còn kém. Xếp hạng năng lực cạnh tranh của nước ta rất
thấp và liên tục tụt bậc trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của WEF trong những năm gần
đây.
Bảng 5: Xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng
của Việt Nam
Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Xếp hạng 48/33 49/59 64/75 60/80 60/102 77/104 81/117
Nguồn: WEF – Global Competitiveness Report.
Xếp hạng của nước ta tụt giảm là do các chỉ số năng lực cạnh tranh thành phần thấp (gồm có: chỉ số
công nghệ - TI: Technology Index; chỉ số thế chế công – PII: Public Institution Index; chỉ số môi trường vĩ
mô – MEI: Macroeconomic Environment Index) và có sự tụt giảm trong bảng xếp hạng:
Bảng 6: Xếp hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh
của Việt Nam
Năm

ha; đất lâm nghiệp có rừng tăng thêm 2.180.235 ha và đất chuyên dùng tăng thêm 560.653 ha). Tuy nhiên,
tổng diện tích đất đưa vào sử dụng và diện tích đất bình quân đầu người thực tế lại đang có những biểu hiện
đi ngược lại nỗ lực của tăng diện tích đất canh tác, đất sử dụng của Việt Nam.
1.1.1. Diện tích đất sử dụng cho canh tác ngày càng bị thu hẹp
Diện tích đất canh tác của Việt Nam vốn đã thấp nhưng lại giảm theo thời gian do tệ phá rừng làm nương
rẫy, sự xói mòn và thoái hóa đất, tình trạng sa mạc hóa, sức ép dân số tăng, mất đất do đô thị hoá, công nghiệp
hóa và chuyển đổi mục đích sử dụng.
Bảng 7: Giảm diện tích đất canh tác trên đầu người
ở Việt Nam
Năm 1940 1960 1970 1992 2000
Bình quân đầu người (ha/người) 0,2 0,16 0,13 0,11 0,10
Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam.
So sánh với các nước trong khu vực, số lao động trên 1 đơn vị diện tích của ta thuộc hàng cao nhất.
Theo số liệu năm 2000 của FAO cho thấy nếu ở Việt Nam có 3,2 lao động/ha thì ở Trung Quốc con số này
là 0,9 LĐ/ha, Myanmar là 1,6 LĐ/ha, Inđônêxia là 3,1 LĐ/ha, điều này có nghĩa diện tích đất nông nghiệp
trên một lao động ở nước ta vào loại thấp nhất trong khu vực. Thực trạng này bắt nguồn từ một số nguyên
nhân sau:
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á

22
- Mất đất do đô thị hoá. Đô thị ngày càng mở rộng đồng nghĩa với việc diện tích đất nông nghiệp ngày
càng bị thu hẹp lại, đặc biệt phần diện tích đất tốt, đất thuộc vùng đồng bằng châu thổ trù phú. Điều này
gây ảnh hưởng trực tiếp, đe dọa đến nguy cơ thiếu đất canh tác trong tương lai gần, chưa kể đến các tác
động tiêu cực về mặt xã hội (lao động nông thôn không có việc làm, tệ nạn xã hội tăng lên,…) của quá trình
này. Trong vòng 10 năm từ năm 1990 đến năm 2000, vùng đồng bằng sông Hồng - nơi tốc độ đô thị hóa
diễn ra sôi động nhất cả nước, phần đất dành cho cơ sở hạ tầng và nhà ở tăng thêm 63.780 ha chiếm 4,31%
diện tích đất tự nhiên, nghĩa là mỗi năm mất khoảng 0,43% đất tự nhiên.
- Quá trình hoang mạc hóa làm diện tích đất canh tác bị thu hẹp. Nước ta hiện có khoảng 7.055.000 ha
đang chịu tác động mạnh bởi hoang mạc hóa, bao gồm đất trống bị thoái hóa mạnh, đất bị đá ong hóa
(khoảng 7 ngàn ha); đất bị xói mòn tại Tây Bắc, Tây Nguyên và một số nơi khác là 120 ngàn ha; đất bị

- Ô nhiễm do sử dụng phân bón hóa học: Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nông
nghiệp, bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm và chất lượng phân bón không bảo đảm làm
cho hiệu quả phân bón thấp. Đồng thời lượng phân đạm dư thừa lại gây ô nhiễm môi trường đất. (ở nước ta,
có trên 50% lượng đạm, 50% lượng Kali và khoảng 80% lượng lân dư thừa).
- Ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật gây chết tất cả những sinh vật có hại và có
lợi, và tồn dư lâu dài trong môi trường đất – nước. Từ năm 2000, trung bình mỗi năm tiêu thụ trên 30 ngàn
tấn thuốc bảo vệ thực vật thành phẩm. Tổng lượng thuốc sử dụng hàng năm tăng từ 1,2 - 1,5 lần so với năm
1990. Mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt Nam còn ít so với các nước khác
(trung bình từ 0,5 – 1 kg/ha/năm), nhưng ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất.
- Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt động công nghiệp: Trong những năm gần đây, hàm
lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên đáng kể (như tại cụm công nghiệp
Phước Long, hàm lượng Cr cao gấp 15 lần, Cd từ 1,5 đến 5 lần, As gấp 1,3 lần so với tiêu chuẩn).
1.2. Về nguồn nước
Việt Nam có nguồn tài nguyên nước ngọt rất dồi dào, hoàn toàn có thể đảm bảo được nguồn nước sinh
hoạt cho người dân (lượng nước tính trung bình trên đầu người của Việt Nam là 11.189 m
3
/người, cao gần
gấp đôi so với mức trung bình của thế giới), cũng như cho các mục đích để đáp ứng yêu cầu của phát triển
bền vững. Đây là một cơ sở rất quan trọng và thuận lợi cho Việt Nam để có thể đảm bảo được sự phát triển
bền vững của môi trường cũng như đạt được mục tiêu tăng trưởng có chất lượng.
Bảng 9: Tài nguyên nước tái tạo được của một số quốc gia (2002 - 2004)
Quốc gia Lượng nước (m
3
/người)
Việt Nam 11.189
CHDCND Lào 68.318
Campuchia 30.561
Trung Quốc 2.185
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á


Ô nhiễm nước mặt: Chất lượng nước ở thượng lưu của hầu hết các con sông chính của Việt Nam còn
khá tốt, trong khi mức độ ô nhiễm ở hạ lưu của các con sông này ngày càng tăng do ảnh hưởng của các đô
thị và các cơ sở công nghiệp. Đặc biệt, mức độ ô nhiễm tại các sông tăng cao vào mùa khô. Ở các hệ thống
sông chính trên cả nước đã thấy có hiện tượng hàm lượng BOD
5
và NH
4
vượt mức tiêu chuẩn cho phép từ
1,5 đến 3 lần, hàm lượng chất rắn lơ lửng vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép loại A từ 1,5 đến 2,5 lần. Một
Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á

25
số điểm cũng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm kim loại nặng. Trong khu vực nội thành của các thành phố lớn như
Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh... hệ thống các ao, hồ, kênh rạch và sông nhỏ đều ở tình trạng ô
nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép 5 - 10 lần. Việc khai thác nước quá mức và không
có quy hoạch đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp. Hiện tượng này thấy nhiều ở các khu vực đồng
bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Nước dưới đất đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm phốt phát và
asen. Khai thác nước dưới đất quá mức cũng đã dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển ở
nhiều nơi.
1.2.3. Vấn đề xử lý nước thải
a. Nước thải đô thị và công nghiệp
Hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả thải ra môi trường (chỉ khoảng 4,26% lượng
nước thải công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn). Ngoài ra, hiện nay cả nước chỉ có một số bãi chôn
lấp rác có hệ thống xử lý nước rác hoạt động thường xuyên và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường. Do đó, nước
thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp rác thải và cả nước thải bệnh viện
(nguồn nước chứa nhiều thành phần nguy hiểm gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường) ngấm xuống đất
và xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nước dưới đất.
b. Nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các nguồn khác tại khu vực nông thôn
Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật và phân khoáng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, hoạt động
của các làng nghề trong nước tạo ra một lượng chất thải xả vào môi trường một cách bừa bãi và không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status