ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
------------------
TẠ THU HẰNG
TINH THẦN NHẬP THẾ TRONG LỄ HẰNG THUẬN
CỦA PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2015-X
HÀ NỘI, 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Bảng đã định dạng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TRIẾT HỌC
------------------
TẠ THU HẰNG
TINH THẦN NHẬP THẾ TRONG LỄ HẰNG THUẬN
Đã định dạng: Thụt lề: Dòng đầu tiên: 0 cm, Khoảng cách
tơi xin chân thành cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân Văn, ĐHQGHN, đặc biệt là các thầy, cô giáo Khoa Triết học
– những người dạy dỗ, chỉ bảo cho tôi trong suốt 4 năm qua.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Hà Thị Bắc, người
đã dành rất nhiều tâm huyết và thời gian hướng dẫn tơi hồn thành khóa
luận này.
Mặc dù tơi đã có nhiều cố gắng song khóa luận vẫn cịn có những thiếu
sót. Vì vậy tơi rất mong nhận được những đóng góp q báu của q thầy cơ
và các bạn để khóa luận của tơi được hồn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Tạ Thu Hằng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TINH THẦN NHẬP THẾ
VÀ LỄ HẰNG THUẬN CỦA PHẬT GIÁO.................................................... 7
1.1. Các khái niệm cơ bản .............................................................................. 7
1.1.1. Khái niệm nhập thế ............................................................................ 7
1.1.2. Khái niệm Phật giáo nhập thế ............................................................ 9
1.1.3. Khái niệm lễ Hằng Thuận ................................................................ 11
1.2. Biểu hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam ........................... 12
1.2.1. Biểu hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử12
1.2.2. Biểu hiện tinh thần nhập thế của Phật Giáo Việt Nam hiện nay ..... 27
1.3. Khái quát chung về lễ Hằng Thuận ....................................................... 33
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TINH THẦN NHẬP THẾ TRONG LỄ HẰNG
THUẬN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY .................................. 37
vua Lê Đại Hành đã cho mời hai thiền sư Pháp Thuận và Vạn Hạnh làm cố vấn
chính trị, thiền sư Vạn Hạnh được vua Lê Đại Hành đích thân xin ý kiến về cuộc
kháng chiến chống quân Tống vào năm 980. Sang thời nhà Lý, thiền sư Vạn Hạnh
đã cố vấn vua Lý Công Uẩn dời đô từ kinh thành Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La,
tức Thăng Long – Hà Nội ngày nay, biến nơi đây thành một trung tâm chính trị,
văn hóa, xã hội. Đến thời nhà Trần, sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm và Giáo hội
Trúc Lâm, đã đánh dấu thời kỳ mở đầu của tổ chức Giáo hội Phật giáo độc lập và
thuần Việt tại nước ta, khẳng định vị thế vững vàng của Phật giáo trong lòng dân
tộc.
Hiện nay, tinh thần nhập thế của phật giáo vẫn được phát huy mạnh mẽ.
Phật giáo Việt Nam hơm nay đã có nhiều Phật sự ích đời, lợi đạo. Thông
qua hoằng dương Phật pháp, Phật giáo Việt Nam đã đưa đến cho người dân tư
tưởng sống trong Chính pháp, thực hiện tốt pháp luật của Nhà nước, làm trịn
nghĩa vụ của người cơng dân, tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo, thực
1
hiện xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới văn minh tiến bộ. Trên con
đường hành đạo của mình, Phật giáo Việt Nam đã tích cực tham gia các phong
trào như đền ơn đáp nghĩa, tri ân các thương binh liệt sĩ, gắn liền với đạo lý “Uống
nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Tham gia các chiến dịch nhân đạo ủng
hộ đồng bào bị thiên tai lũ lụt; các công tác từ thiện, nuôi dưỡng, giúp đỡ người
nghèo, người không nơi nương tựa, người khuyết tật, người bị ảnh hưởng chất độc
da cam, nuôi dạy trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi.
Tinh thần nhập thế của Phật giáo xuất hiện ngay cả trong đời sống xã hội.
Đặc biệt trong bối cảnh xã hội đang có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối
sống. Trong gia đình, hiện tượng ly hơn, ly thân, bạo lực gia đình,.. diễn ra ngày
càng nhiều, nhất là ở các cặp vợ chồng trẻ. Trước tình hình đó, Phật giáo nhập thế
đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống xã hội thì nay càng phải nhập thế vào thế
các góc độ khác nhau song chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, liên quan
đến đề tài có một số cơng trình tiêu biểu sau:
Về Tinh thần nhập thế của Phật giáo, Tác giả Đặng Thị Lan với “Tìm hiểu
về tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam” (tạp chí Khoa học xã hội nhân văn
số 1/2003) đã chỉ ra tinh thần nhập thế của Phật giáo thể hiện rất rõ ràng ở hai khía
cạnh: “dùng đạo để hướng dẫn đời và dùng đời để thực hành đạo”. Tác giả nhấn
mạnh “tại thế gian giác” - việc giác ngộ thế gian, hiểu rõ thế gian của người tu sĩ
Phật giáo.
Tác giả Đới Thần Kinh với “Thế tục hóa và thần thánh hóa” đã xuất phát
từ phân tích khái niệm thế tục hóa của tơn giáo nói chung khi các tơn giáo đều có
xu hướng chuyển từ lấy thần thánh làm trung tâm sang lấy con người và xã hội
loài người làm trung tâm, từ đó đi đến khẳng định xu hướng của Phật giáo ở châu
Á là Phật giáo nhập thế. Tác giả dường như đã đồng nhất khái niệm “nhập thế”
với khái niệm “thế tục hóa” và kết luận “dưới sự chỉ đạo của tinh thần nhập thế,
các tôn giáo tích cực tham gia bảo vệ hịa bình thế giới, thúc đẩy các công cuộc
phát triển xã hội, phục vụ xã hội”.
Tác giả Nguyễn Tuấn Anh với bài viết “Vài nét về vấn đề “nhập thế” của
Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê” trong Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê trong công
cuộc dựng nước và giữ nước (Nxb Khoa học xã hội, 2010, tr. 31-39) đã định
nghĩa nhập thế với hai ý: đem đạo vào đời và đem đời vào đạo, cách hiểu này đã
phản ánh được phần nào khái niệm nhập thế.
3
Trong luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Toan với tên đề tài: “Tinh thần
nhập thế trong tư tưởng Phật giáo của Trần Nhân Tông” đã chỉ ra được tinh thần
nhập thế của Phật giáo ngay từ buổi đầu của Đức Phật Thích Ca và tinh thần nhập
thế của Việt Nam trong tất cả khía cạnh văn hóa, xã hội. Đồng thời làm sáng tỏ
các giá trị trong Tinh thần Nhập thế Trần Nhân Tông.
trong cưới hỏi ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”. Luận văn tập trung nghiên
cứu đặc điểm và nghi thức tổ chức lễ Hằng Thuận trong phạm vi Thành phố Hồ
Chí Minh. Thơng qua luận văn có thể biết được nguồn gốc, diễn trình và vai trò
của lễ Hằng Thuận.
Đề tài về lễ Hằng Thuận hiện nay chủ yếu được nghiên cứu từ các nhà sư,
nhà Phật học nên nguồn tài liệu vẫn chưa phong phú, chỉ được công bố trong
phạm vi Phật giới. Trong giới hạn của một số bài viết ngắn, bài báo tạp chí, trên
các phương tiện thơng tin đại chúng, một số tác giả chưa đi sâu vào từng vấn đề cụ
thể, chưa lý giải nhiều về nghi lễ.
Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo rất hữu ích cho
tác giả đi sâu vào tìm hiểu vấn đề “Tinh thần nhập thế trong lễ Hằng Thuận của
Phật giáoViệt Nam hiện nay”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về tinh
thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam, đề tài tiếp tục phân tích, làm rõ những nội
dung cơ bản của tinh thần nhập thế trong lễ Hằng Thuận của Phật giáo. Từ đó rút
ra ý nghĩa của nghi lễ Hằng Thuận của Phật giáo Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ của khóa luận:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt
Nam
- Phân tích nội dung tinh thần nhập thế trong lễ Hằng Thuận của Phật giáo
Việt Nam hiện nay
- Rút ra ý nghĩa của lễ Hằng Thuận đối với đời sống hôn nhân gia đình ở
Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
5
Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu tinh thần nhập thế trong lễ Hằng
Đã định dạng: Tiếng Anh (Hoa Kỳ), Cô đọng 0,3 pt
Việt Nam hiện nay
6
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TINH THẦN NHẬP THẾ VÀ
LỄ HẰNG THUẬN CỦA PHẬT GIÁO
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm nhập thế
Khái niệm nhập thế là khái niệm khá phổ biến khi nói đến phật giáo nói
riêng và các tơn giáo nói chung. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ
học xuất bản năm 2004, nhập thế là “dự vào cuộc đời, gánh vác việc đời,
không đi ở ẩn theo quan niệm của nho giáo”. Quan điểm này tiếp cận khái
niệm nhập thế từ quan điểm của Nho gia về “xuất”, “xử”. Các nhà Nho xưa
ln cho rằng người qn tử phải đem trí óc của mình giúp đời, phị vua để ổn
định đất nước, chăm lo cho nhân dân.
Trong từ điển Nho, Phật, đạo của Lao Tử, Thịnh Lê giải thích khái
niệm nhập thế như sau: “Đạo gia cho rằng, tại gia mà tu đạo, đó có nghĩa là
hịa nhập theo thế tục mà lập thân hành đạo, cho nên gọi là công phu nhập thế.
Như Lão Tử thờ nhà Chu, Trương Lương phò nhà Hán, Lưu Cơ giúp nhà
Minh hưng thịnh, đều gọi là công phu nhập thế, để đối lập với công phu xuất
thế. Hơn nữa, nếu lại làm các việc đời để làm nên cơng đức sửa mình, giúp
đời, độ thế hành đạo, vì thế gian mà làm mọi đạo đức tế vật, tích lũy cơng
danh để chứng đạo quả thì đều là cơng phu nhập thế” [12, tr. 1001]. Khái niệm
này mang chất của đạo giáo, tác giả nhìn nhận nhập thế như một quá trình
trong chỉnh thể tương tác biện chứng giữa chứng đạo và độ thế hành đạo.
hồn tồn trung lập về mặt tôn giáo đồng thời dẫn đến sự hình thành một xã
hội dân sự mà ở đó công dân được hưởng các quyền về luật pháp cá nhân
cũng như được giải phóng một cách tương đối trong việc thực hành đời sống
tôn giáo so với các học thuyết, giáo luật của tôn giáo đã được giáo hội chế
định” [10, tr. 62]. Có thể nói cách khác, đây là q trình giải thiêng, giải thần
thánh hóa của các tổ chức, thể chế xã hội và chúng tách dần và độc lập khỏi
tôn giáo.
8
Khái niệm nhập thế được dùng với nghĩa chỉ sự tham gia ngày càng chủ
động, tích cực thâm nhập vào cuộc sống thế tục của các tôn giáo, nhất là trong
bối cảnh xã hội hiện nay khi nhu cầu về tơn giáo ngày càng đa dạng hóa. Các
tơn giáo khơng chỉ đơn thuần đảm trách nhiệm về phần tâm linh mà đã thực
sự đóng vai trị tinh thần, văn hóa quan trọng của xã hội trong nhiều phương
diện của đời sống. Nói cách khác, nhập thế là sự mở rộng phạm vi tham gia
hoạt động của tơn giáo ra ngồi phạm vi tơn giáo, ví dụ như: chính trị, kinh tế,
ngoại giao, nghệ thuật, giáo dục.
Bên cạnh đó, nhập thế cịn là q trình xử lý mối quan hệ tơn giáo – thế
tục như tính hai mặt của tơn giáo. Một mặt, tơn giáo khơng tự nhiên sinh ra,
mà đó là kết quả của nhu cầu tinh thần, tâm linh của xã hội thế tục. Tơn giáo
là hình thái ý thức của xã hội, khơng có tơn giáo nào có thể tồn tại và phát
triển ngoài các nhu cầu tâm linh của đời sống xã hội. Mặt khác, tôn giáo ln
thể hiện tính tâm linh siêu việt của nó đối với xã hội thế tục bằng sự thần
thánh hóa, thiêng liêng hóa. Xong tính siêu việt ấy khơng thể tự nó chiêm
ngưỡng mà phải gây sức hấp dẫn đối với xã hội thế tục. Khi tôn giáo với xã
hội thế tục có mối quan hệ tốt, đồng thời khi tơn giáo có thể chia sẻ, bù đắp
hoặc giải quyết nhiều vấn đề của xã hội thế tục thì sự lan tỏa và sức mạnh của
tơn giáo đó càng được củng cố, phát huy. Ngoài ra, tinh thần nhập thế của các
tơn giáo cịn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội trên nhiều phương
thế kỷ này ở châu Á sau đó lan sang châu Âu, châu Mỹ bởi một số nhà hoạt
động Phật giáo đương đại có danh vọng quốc tế trong đó có Thiền sư Thích
Nhất Hạnh. Theo trào lưu này, những Phật tử nhập thể tích cực hiến dâng
cuộc đời của mình phục vụ cho con người và xã hội ở khắp nơi. Từ đó, quan
niệm cho rằng Phật giáo là tôn giáo tiêu cực tránh đời bị bác bỏ. Trào lưu này
phát triển rất mạnh mẽ và ngày càng phát triển đến tận ngày nay. Chính vì
vậy, Phật giáo nhập thế là một hình thái phù hợp của xã hội hiện đại và hậu
hiện đại.
Ở Việt Nam, thập niên 30 của thế kỷ 20 xuất hiện khái niệm liên quan
đến khái niệm “Phật giáo nhập thế” là “Nhân gian Phật giáo”. Khái niệm này
xuất hiện lần đầu trên tờ báo Đuốc Tuệ. Theo đó, “nhân gian phật giáo” được
10
định nghĩa là “đạo Phật đóng vai trị dẫn dắt tinh thần với mục đích đem lại
những điều có lợi cho nhân gian” [22, tr. 349]. Khái niệm này có thể đồng
nhất với khái niệm “Phật giáo nhập thế” bởi vì cả hai khái niệm đều hướng
đến mục đích chung là đưa đạo phật vào trong xã hội thế tục để giúp người,
giúp đời.
Tuy nhiên, khái niệm “đạo Phật nhập thế” dễ gây ngộ nhận về bản chất
của Phật giáo. Bởi vì “nhập thế” nghĩa là vào đời, hiểu là ở một nơi nào đó
ngồi đời đi vào cuộc đời mà đạo Phật vốn ở trong đời và chưa hề ở ngoài
cuộc đời. Hơn nữa, khi nhắc đến “đạo Phật nhập thế” đồng thời cũng hàm chỉ
đến “đạo Phật xuất thế”. Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần làm rõ khái niệm “xuất
thế” theo quan niệm của Phật giáo. Nhiều người hiểu sai lệch về khái niệm
“xuất thế”. Họ cho rằng “xuất thế” là tách xa cuộc đời, không màng đến đời
sống thực tiễn xã hội. Sự hiểu sai lệch đó dẫn đến hệ quả hiểu sai về đạo Phật,
cho rằng đây là tôn giáo tiêu cực, kéo lùi sự phát triển. Theo giáo lý Phật giáo,
“xuất thế” mang ý nghĩa ra khỏi những muộn phiền, đẩy những dục vọng
tham, sân, si ra ngồi cơ thể, tránh xa những ngơn ngữ và hành động mang
đến đạo đức truyền thống của dân tộc: "Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông
cũng cạn".
Lễ Hằng Thuận là nghi thức tương đối đặc biệt dành riêng cho lễ cưới
được tổ chức trang nghiêm, trọng thể trong chùa. Nghi thức Hằng Thuận
trong ngày cưới mang đậm dấu ấn đạo đức tâm linh và trí tuệ của đạo Phật,
cùng với những định hướng, mục đích giúp cho gia đình hịa thuận, êm ấm,
giữ vững nề nếp gia phong và những giá trị văn hóa tốt đẹp của người Việt.
1.2. Biểu hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam
1.2.1. Biểu hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong
lịch sử
• Biểu hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước
Thứ nhất, thời kỳ Bắc thuộc: Thời kỳ đầu khi Phật giáo truyền vào
nước ta cũng là lúc phong kiến phương Bắc xâm lược và đặt ách đô hộ trên
đất nước ta. Trong bối cảnh đó, Phật giáo đã trở thành điểm tựa vững chắc về
tinh thần và tư tưởng của người dân nhằm chống lại sự đồng hóa của chính
12
quyền phương Bắc. Góp phần to lớn trong các phong trào đấu tranh giành độc
lập dân tộc suốt 1000 năm.
Tương truyền, ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam là chùa Thanh Vân Cổ
Tự (nay là chùa Yên Phú, thuộc xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Thành phố
Hà Nội) do bà Phương Dung trụ trì. Nơi đây đã ni lớn hai vị tướng tài góp
sức cho cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là Trung Vũ, Đài Liệu. Hai ông được
Phương Dung ni dưỡng, văn tài võ lược, có năm hạn hán, hai vị ra tay cầu
mưa giúp dân, lại có năm lũ lụt, dân kêu cầu liền biến thành khúc đê ngăn lũ
cho dân. Khi Tô Định sang cướp nước, Phương Dung và hai con ni tham
gia phị Hai Bà Trưng đánh giặc. Năm Thiên Phúc đời Lê Đại Hành, bà
Phương Dung được phong là Hoàng Thái Hậu Tuệ Tĩnh Phu Nhân, Trinh
đơ hộ gần 1000 năm của phong kiến phương Bắc, mở ra kỷ nguyên mới cho
dân tộc, đó là kỷ nguyên độc lập tự chủ. Nhiệm vụ quan trọng nhất lúc này là
xây dựng bộ máy chính quyền, tạo tiền đề cho sự phát triển sau này. Trong
hồn cảnh đó, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển và xâm nhập sâu vào các tầng
lớp trong xã hội. Nổi bật nhất là sự xuất hiện của các bậc cao tăng tài đức vẹn
toàn, sau này góp phần khơng nhỏ vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của
các triều đại sau như Đại sư Khuông Việt, thiền sư Đỗ Pháp Thuận, thiền sư
Vạn Hạnh, thiền sư Viên Thông.
Đại sư Khuông Việt đã từng giúp triều Đinh và triều Tiền Lê trong việc
phục hưng đất nước sau 1000 năm Bắc thuộc. Khi quân Tống kéo sang xâm
lược nước ta, vua Lê Đại Hành sai Đại sư cầu đảo cho quân sĩ ở chùa Vệ Linh
(nay thuộc Hà Nội). Nhờ đó, tinh thần chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc càng được
giữ vững và tăng cường trong lòng quân sĩ. Trên mặt trận ngoại giao, Đại sư
đã viết bài “Ngọc lang quy” tiễn sứ thần nhà Tống về nước. Sau này, Lê Quý
Đôn đã hết sức ca ngợi bài Ngọc lang quy của Đại sư như sau: “Nước ta từ
khi gây dựng, văn minh khơng kém gì Trung Quốc. Bài Từ vua Tiền Lê tiễn
Lý Giác nhà Tống lời lẽ nõn nà, có thể vốc được” [5, tr.24].
Cùng với Đại sư Khuông Việt, Thiền sư Đỗ Pháp Thuận cũng được vua
Lê Đại Hành mời tham gia vào bộ máy chính quyền triều đình. Ơng từng
được vua tham vấn về vận nước, điều đó cho thấy vua Lê Hồn rất đề cao
14
Phật giáo. Tư tưởng trị nước của Thiền sư Đỗ Pháp Thuận mang đậm chất từ
bi của đạo Phật, đồng thời đề cao sự bình đẳng tinh thần đồn kết dân tộc.
Theo ơng, để đất nước thái bình, triều đại trường tồn, việc quan trọng nhất là
đoàn kết toàn dân. Để đất nước được n ổn, khơng có trộm cướp và bất
cơng, thì vua và triều đình cần phải hành xử vì quyền lợi của người dân. Năm
1005, ngay sau khi Lê Hoàn mất, một cuộc chém giết kinh hoàng để tranh
giành ngôi báu diễn ra giữa các con của Lê Hồn. Lê Long Tích bị giết ở
dân” và vận dụng rất thành công trong ba cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên – Mông, kẻ thù hung hãn và mạnh nhất thời bấy giờ. Thiền phái Trúc
Lâm ra đời với bậc sơ tổ là Phật Hồng Trần Nhân Tơng. Thiền phái này đề
cao sự tự ngộ, nỗ lực rèn luyện của mọi người. Theo ơng, “sống mà khơng
giúp gì cho đời là điều đáng hổ thẹn của kẻ trượng phu”. Từ đó có thể thấy vì
Phật Hồng này rất đề cao tinh thần nhập thế của Phật giáo.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, nhờ tinh thần
nhập thế của nhà Phật, Trần Nhân Tơng đã xây dựng được khối đồn kết toàn
dân. Kế sách “khoan thư sức dân làm sâu rễ bền gốc” của ông phản ánh tinh
thần bao dung và đặt Quốc gia xã tắc lên trên hết, đó cũng là tinh thần được
kế thừa từ vua ông Trần Thái Tông. Thực tế điều kiện lịch sử Đại Việt lúc đó,
thế giặc mạnh nhưng lịng u nước căm thù giặc của quân dân ta đang ngụt
cháy. Theo nguyện vọng tấm lịng của qn sỹ, Trần Nhân Tơng đã quyết
định cầm quân đánh đuổi ngoại xâm ra khỏi bờ cõi. Nhưng Phật dạy giới đầu
tiên trong Ngũ giới là không sát sinh. Thượng Sỹ đã lập luận: “đạo Phật cấm
sát sinh, song giết giặc cứu dân khơng có gì là trái đạo”. Vua Trần Nhân Tơng
tiếp tục lập luận đó là giết một người để cứu trăm ngàn người thì khơng có gì
là trái với đạo, mà ngược lại đã hành rất đúng với đạo từ bi của nhà Phật.
Có thể nói, hai triều đại Lý – Trần là hai triều đại phong kiến tồn tại lâu
dài nhất và cường thịnh nhất trong lịch sử nước ta. Đây cũng là hai triều đại
hiếm hoi về việc chuyển giao quyền lực diễn ra hịa bình. Một trong số những
ngun nhân dẫn đến điều đó là cả hai triều đại này đều coi Phật giáo là quốc
đạo, trị nước bằng đức với tư tưởng chủ đạo là khoan dung, độ lượng, hiếu
hòa của đạo Phật đã thấm nhuần suốt mấy trăm năm trong mọi tầng lớp của
người Việt.
16
Theo quy luật của lịch sử, vương triều dù có thịnh đến đâu cũng sẽ có
lúc suy tàn. Những năm cuối thời Trần, vua quan chỉ lo ăn chơi không quan
Một trong các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu đó là phong trào Cần Vương.
Lấy danh nghĩa phò vua Hàm Nghi cứu nước, phong trào Cần Vương đã quy
tụ được rất nhiều văn thân sĩ phu yêu nước đứng lên chống Pháp như Hoàng
Diệu, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật. Vương Quốc Chính theo tiếng
gọi của vua Hàm Nghi cũng hăng hái ra phị vua giúp nước. Ơng là bạn thân
của Nguyễn Thiện thuật, người làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải
Dương (nay thuộc Thành phố Hải Phịng). Ơng tham gia phong trào Cần
Vương ngay từ những năm đầu phát động. Sau nhiều lần thất bại của phong
trào, ông bị truy nã phải ẩn vào chùa Ngọc Long Động, nay thuộc Chương
Mỹ, Hà Nội. Năm 1895, ơng xuống tóc, khốc áo cà sa, thực chất là đổi
phương thức kháng chiến. Nhận thấy Phật giáo có tác động lớn đến quần
chúng nhân dân, ơng lập Hội Thượng Chí với phương pháp “khôi phục nhà
Lý, giành lại độc lập dân tộc”, thực chất là dựa vào uy tín của phật giáo để
huy động sức mạnh dân tộc. Bởi triều Lý là triều đại Phật giáo thịnh nhất. Sau
khi lập Hội Thượng Chí, Vương Quốc chính tìm một người họ Lý là Lý Thiếu
Qn tơn làm minh chủ, cịn mình làm qn sư. Khi cuộc khởi nghĩa Yên Thế
nổ ra, Vương Quốc Chính liên lạc với Hoàng Hoa Thám nhằm hiệp đồng
chiến đấu. Ngày 22-10-1989, hội Thượng Thế công bố tuyên cáo, đề cập đến
tư tưởng, nghĩa vụ, kỷ luật, thưởng phạt. Nghĩa quân của Vương Quốc Chính
cho rằng thời cơ khởi nghĩa là lúc Pháp phân mỏng lực lượng để sang Trung
Quốc chiến tranh. Tuy nhiên, Trương Công Bỉnh, một thành viên trong nghĩa
quân bị bắt trên đường đi công cán. Sợ bị bại lộ, nghĩa quân quyết định khởi
nghĩa vào đêm 5-12-1898 nhân dịp có Hội chợ tại Hà Nội. Cuộc khởi nghĩa
quy tụ được rất đông nhân dân tham gia. Tuy thất bại nhưng thực dân Pháp
phải mất rất nhiều công sức mới dập tắt được.
Cùng năm 1898, ở miền Trung diễn ra cuộc khởi nghĩa do nhà sư Võ
Trứ lãnh đạo. Ơng là người làng An Nhơn tỉnh Bình Định, là đệ tử của sư trụ
trì chùa Đá Bạc (thầy từng tham gia phong trào Cần Vương). Nhà sư Võ Trứ
là người nổi tiếng nhân hậu và có tài. Ông có trong tay rất nhiều nghề đặc biệt
18
đỉnh cao cho tinh thần và hoạt động nhập thế của Phật giáo. Sự kiện hòa
19