HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO VỆ THỰC VẬT 1 TW - Pdf 75

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO VỆ THỰC VẬT 1 TW
3.1. Đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty Cổ phần Bảo Vệ Thực Vật 1 TW
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh đều quán triệt nguyên tắc “lấy thu bù chi”. Thu không những phải bù
đắp được toàn bộ chi phí đã bỏ ra mà còn phải đảm bảo một tỷ suất lợi nhuận
mong muốn cho doanh nghiệp. Do đó ngoài vấn đề đẩy mạnh tiêu thụ, tăng
doanh thu bán hàng thì vấn đề tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm cũng là
một trong những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp sản xuất. Làm thế nào
để vừa giảm tiêu hao CPSX, vừa đảm bảo tăng năng suất chất lượng và hạ
được giá thành sản phẩm là một bài toán khó đối với các doanh nghiệp.
Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 TW trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình đã luôn quán triệt vấn đề trên. Nhận thức được tầm
quan trọng của việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, trong những
năm qua Công ty đã có những cố gắng trong tổ chức và quản lý sản xuất. Đặc
biệt là không ngừng hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm tăng khả năng
cạnh tranh cuả sản phẩm trên thị trường thuốc BVTV.
Qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật 1 TW, dưới
sự hướng dẫn của PGS. TS. Nguyễn Văn Công và được sự giúp đỡ nhiệt tình
của các cán bộ kế toán trong Công ty. Em đã tìm hiểu thực tế kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty PSC 1 và em có những nhận
xét sau:
3.1.1. Về tổ chức bộ máy kế toán
Bộ máy kế toán được tổ chức khoa học, gọn nhẹ theo mô hình vừa tập
trung vừa phân tán, có sự phân quyền rõ ràng , rành mạch để đảm bảo cho cả
bộ máy kế toán hoạt động hiệu quả giữa các phần hành, nâng cao trách nhiệm
của từng nhân viên kế toán, đảm bảo phát huy năng lực chuyên môn của từng
người. Công tác kiểm tra hệ thống kế toán ở Công ty được tiến hành đồng bộ,
thường xuyên liên tục trong quá trình thu nhận, xử lý thông tin kế toán. Việc

phát sinh chi phí NVL phụ trực tiếp. Ba TK này đều không mở TK cấp hai.
Theo đơn vị hạch toán chung như vậy là để hạn chế dùng nhiều TK và phù
hợp với đặc điểm sản xuất của đơn vị là sản xuất giản đơn, gia công sang
chai, đóng gói thuốc BVTV xong trong ngày nào thường được xuất luôn đi
các chi nhánh. Hạch toán như vậy là chưa phù hợp với chế độ kế toán hiện
hành, gây khó hiểu cho công tác quản lý NVL và kế toán chi phí NVL trực
tiếp. Việc tính giá NVL xuất kho theo phương pháp bình quân cuối kỳ còn
hạn chế, nó không phản ánh đúng trị giá thực của NVL khi nhập mua
* Về kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Toàn thể công nhân trực tiếp sản xuất đều là công nhân hợp đồng ngắn
hạn. Công ty tính CPNC trực tiếp theo lương khoán sản phẩm, không tiến
hành trích các khoản trích theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ trên lương
của công nhân trực tiếp sản xuất.Vịêc thuê lao động như vậy là phù hợp với
đặc điểm sản xuất mang tính thời vụ của công ty. Vừa tiết kiệm chi phí nhân
công trong những tháng không phải thời vụ, mặt khác cách tính lương khoản
sản phẩm sẽ nâng cap năng suất lao động trong sản xuất
Tuy nhiên Công nhân sản xuất trực tiếp đều là lao động thuê theo hợp
đồng ngắn hạn, không nằm trong biên chế. Bên cạnh việc tiết kiệm chi phí
nhân công đặc biệt trong những kỳ không phải thời vụ sản xuất thì nó cũng
có những điểm hạn chế. Nếu không có kế hoạch tuyển dụng kịp thời, thị
trường lao động thuê ngoài mà khan hiếm thì rất dễ xảy ra tình trạng thiếu lao
động sản xuất. Người lao động làm thuê theo hợp đồng tạm thời không được
hưởng chế độ BHXH, BHYT, KPCĐ và các khoản phụ cấp như người lao
động trong biên chế, tiền lương chỉ có lương khoán sản phẩm và tiền phụ cấp
độc hại. Do đó sẽ không khuyến khích người lao động gắn bó với đơn vị và
không khuyến khích người lao động ý thức trách nhiệm và kỷ luật trong công
việc.
* Về kế toán chi phí sản xuất chung
Công ty rất chú trọng đầu tư về mặt trang thiết bị kỹ thuật hiện đai cho sản
xuất và cho quản lý. Từ sản xuất thủ công bán công nghiệp chuyển sang quy trình sản

phần NVL rất khác nhau, các loại thuốc lại được sang chai, đóng gói ra các
dung tích, khối lượng khác nhau nên giá thành rất khác nhau.
Công ty tính giá thành theo công thức giản đơn, không tính chi phí sản xuất
kinh doanh cuối kỳ, toàn bộ CPSX thực tế phát sinh trong kỳ được tính hết cho sản
phẩm hoàn thành. Điều đó là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm quy trình sản xuất giản
đơn, bán công nghiệp, chủ yếu là gia công sang chai đóng gói từ NVL nhập khẩu.
Cách tính giá thành như vậy sẽ đảm bảo tính đủ, tính đúng CPSX vào giá thành sản
phẩm. Mặt khác chu kỳ sản xuất ngắn, nên kỳ tính gía thành là 1 tháng vừa đảm bảo
cung cấp thông tin một cách kịp thời cho nhu cấu quản lý của đơn vị, vừa phù hợp
với kỳ báo cáo.
3.1.3. Về vấn đề luân chuyển chứng từ và ứng dụng phần mềm kế toán
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay , công ty
PSC1 đã nắm bắt kịp thời đưa công nghệ thông tin vào công tác quản lý nói
chung vào công tác kế toán nói riêng. Công ty áp dụng phần mềm kế toán từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status