ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG- TIỀN LƯƠNG VÀ QUẢN LÝ LAO
ĐỘNG, TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG
NGHỆ ĐIỆN TỬ, CƠ KHÍ VÀ MÔI TRƯỜNG- EMECO
1.1. ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA CÔNG TY EMECO
Lao động là một trong những nguồn lực quan trọng của công ty trong
thời buổi cạnh trạnh, đồng thời cũng là yếu tố tiên quyết hàng đầu ảnh hưởng
đến sức cạnh tranh của công ty trên thị trường. Nếu nguồn nhân lực của công
ty có kỹ năng tốt, kinh nghiệm dày dặn, am hiểu và tận tâm với công việc sẽ
góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. Nhận thức được tầm
quan trọng đặc biệt đó, công ty đã và đang nuôi dưỡng cũng như đưa ra các
chính sách, cơ cấu, cách thức phân phối đội ngũ nhân viên để đáp ứng được
yêu cầu đòi hỏi của bản thân công ty cũng như của thị trường.
Tính đến ngày 31/12/2009 tổng số cán bộ, công nhân viên (CBCNV)
trong công ty cổ phần công nghệ điện tử, cơ khí và môi trường- EMECO là
51 người trong đó số người có trình độ trên đại học là 4 người chiếm tỷ lệ
7,8% và đại học- cao đẳng là 18 người chiếm tỷ lệ 35,3% tổng số CBCNV, số
công nhân kỹ thuật là 26 người chiếm tỷ lệ 51%, số công nhân chưa qua đào
tạo chỉ chiếm một phần nhỏ, không đáng kể trong cơ cấu lao động của công
ty. Như vậy số công nhân kỹ thuật, cán bộ quản lý từ cao đẳng trở lên chiếm
43,14% tổng số CBCNV trong toàn công ty. Ngoài ra công ty còn ký thêm
nhiều hợp đồng ngắn hạn, thuê, mướn những công nhân mang tính chất thời
vụ khi phát sinh yêu cầu của công việc.
Đội ngũ cán bộ trong toàn công ty không ngừng trưởng thành và phát
triển toàn diện về cả số lượng và chất lượng. Tuy so với năm 2008 số lượng
công nhân viên trong công ty tăng lên không đáng kể nhưng về phương diện
chất lượng thì không ngừng tăng lên thể hiện qua việc tăng thêm số CBCNV
có trình độ đại học, cao đẳng. Trong những năm qua công ty đã đầu tư cho
công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, tạo điều kiện cho các cán bộ quản
lý học đại học, cao học, văn bằng 2, đào tạo công nhân sản xuất tại các bộ
phận sản xuất tháp giải nhiệt RINKI thông qua các lớp học nghiệp vụ ngắn
hạn, dài hạn do công ty tổ chức.
4
Chưa qua đào tạo 3 0 100 0 0 0 100 0 0
Cộng
51 9
(Nguồn từ phòng tổ chức hành chính)
Do hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng tăng lên, cùng với sự quan tâm
của lãnh đạo công ty mà trong những năm qua thu nhập của NLĐ được nâng
lên nhanh chóng. Điều này được thể hiện thông qua các số liệu về tổng quỹ
lương trong bảng sau:
Bảng 1.2: Bảng tổng quỹ lương và thu nhập bình quân của cán bộ công
nhân viên công ty EMECO
Đơn vị tính: VNĐ
ST
T Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
1 Tổng quỹ lương thực hiện
2.475.543.00
0 1.378.574.775
2.505.882.6
00
2 Số cán bộ, công nhân viên 105 45 51
3 Thu nhập TB người/tháng 1.964.717 2.552.916 4.094.579
(Nguồn từ phòng tài chính kế toán)
Nhìn vào bảng quỹ lương thực hiện ta có thể đưa ra một số so sánh để
thấy được những thành công vô cùng to lớn của công ty trong việc nâng cao
thu nhập cho NLĐ trong những năm gần đây. Mức thu nhập bình quân
người/tháng qua các năm không ngừng tăng lên, đặc biệt là năm 2009 lương
bình quân của CBCNV trong công ty đạt mức 4.094.579 đồng, gấp 1,6 lần so
với năm 2008 và gấp 2,1 lần so với năm 2007.
Ngoài ra công ty còn hết sức chăm lo đến đời sống tinh thần của CNV bằng
việc tổ chức những kỳ nghỉ mát hay các buổi biểu diễn ca nhạc phục vụ công
Việc phân chia quỹ lương như trên có ý nghĩa nhất định trong công tác hạch
toán tiền lương. NLĐ có quyền hưởng theo năng suất lao động, chất lượng lao
động và kết quả công việc. NLĐ làm gì, chức vụ gì thì hưởng lương theo
công việc đó, chức vụ đó thông qua HĐLĐ, thoả ước lao động tập thể và theo
quy định của Nhà nước.
Trong quan hệ với quá trình sản xuất, kinh doanh, kế toán phân loại quỹ
lương của công ty như sau:
- Lương chính: Là tiền lương trả cho NLĐ trong thời gian làm nhiệm vụ chính
đã quy định bao gồm: Tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấp thường xuyên
và tiền thưởng trong sản xuất.
- Lương phụ: Là tiền lương phải trả cho NLĐ trong thời gian không làm
nhiệm vụ chính nhưng vẫn được hưởng lương theo chế độ quy định như tiền
lương trả trong thời gian nghỉ phép, thời gian đi làm nghĩa vụ xã hội, hội họp,
đi học, tiền lương trả cho NLĐ trong thời gian ngừng sản xuất.
Phân chia quỹ lương thành lương chính và lương phụ có ý nghĩa nhất định
trong công tác hạch toán, phân bổ tiền lương theo đúng đối tượng và trong
công tác phân tích tình hình sử dụng quỹ lương ở công ty.
Phòng tài chính kế toán có trách nhiệm quản lý tiền lương, tiền thưởng
trong quỹ lương. Căn cứ xác nhận sản lượng, doanh thu của phòng kinh doanh
được tổng giám đốc (TGĐ) phê duyệt, phòng tài chính kế toán trình TGĐ phê
duyệt quỹ lương theo thời gian, tiền thưởng cho các phòng ban, đơn vị trong
công ty.
Căn cứ vào quỹ tiền lương, tiền thưởng TGĐ đã duyệt hàng tháng, trưởng
các bộ phận, tổ, đội thi công đến phòng tài chính kế toán nhận tiền. Tại đây, kế
toán tiền lương chi trả tiền lương trên cơ sở bảng tính toán tiền lương và tiền
thưởng đã được duyệt. Sau đó, trưởng các bộ phận sẽ có trách nhiệm chi trả
lương cho CNV thuộc sự quản lý của bộ phận mình, có chữ ký xác nhận của
CNV. Đồng thời, các phòng ban nộp trả cho phòng tài chính kế toán bản xác
nhận đó từ ngày 06 đến 10 hàng tháng để lưu trữ hồ sơ chi.