LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Ở DOANH NGHIỆP - Pdf 75

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ TỔ CHỨC CÔNG
TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Ở DOANH NGHIỆP
Từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, để thích ứng với điều kiện
mới, cơ chế quản lý và hệ thống quản lý đã có những bước thay đổi cơ bản, trong đó có
kế toán.
Ngày nay, hệ thống thông tin kế toán phải được tổ chức đảm bảo đáp ứng tốt nhu
cầu cung cấp bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho các nhà quản
lý, nhà đầu tư, ngân hàng, lãnh đạo doanh nghiệp ... Thông tin kế toán không chỉ hướng
vào các quá trình và các sự kiện kinh tế đã xảy ra, mà còn phải hướng đến những diễn
biến trong tương lai nhằm giúp nhà quản trị hoạch định đúng đắn phù hợp với mục tiêu
đã xác lập. Một hệ thống kế toán đáp ứng được nhu cầu thông tin như thế phải là một
hệ thống bao gồm hai phân hệ: kế toán tài chính và kế toán quản trị.
1.1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1.1. Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị
Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế,
tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động
kinh tế. Kế toán có vai trò đặc biệt quan trong không chỉ với hoạt động tài chính Nhà
nước, mà còn vô cùng cần thiết và quan trọng với hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Chức năng của kế toán là cung cấp thông tin cần thiết về tình hình và sự vận động của
tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cho các đối tượng sử dụng
thông tin, với các mục đích sử dụng khác nhau. Đối với một doanh nghiệp, đối tượng
quan tâm đến thông tin của doanh nghiệp rất đa dạng, tuy nhiên có thể chia làm 02
nhóm đối tượng chính là những người ngoài doanh nghiệp và nội bộ doanh nghiệp. Đây
là hai nhóm đối tượng khác nhau nên yêu cầu về thông tin được cung cấp cũng khác
nhau.
Kế toán tài chính cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Kế
toán tài chính liên quan đến quá trình báo cáo hoạt động của một tổ chức doanh nghiệp
cho các đối tượng bên ngoài thông qua các báo cáo tài chính. Mục tiêu của báo cáo tài
chính là cung cấp một bức tranh tổng thể về tình hình tài chính của doanh nghiệp như
tổng hợp về tình trạng và sự biến đổi của tài sản, cơ cấu nguồn vốn, tình hình nợ, các
khoản phải nộp, kết quả hoạt động kinh doanh và phân phối kết quả hoạt động kinh

liệu chi tiết, song kế toán quản trị không phải là kế toán chi tiết, nhu cầu thông tin chính
của các nhà quản trị không chỉ là thông tin chi tiết mà phải là các bảng biểu, các bảng
tóm tắt, phân tích các thông tin chi tiết từ sổ sách kế toán. Khi sử dụng các báo cáo này,
nhà quản trị sẽ có được thông tin mà họ quan tâm. Kế toán quản trị sử dụng các báo cáo
của riêng mình để thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin kế toán, đặt
chúng trong bối cảnh các mục tiêu đã được xác định với các tình huống khác nhau
nhằm cung cấp thông tin phù hợp, hữu ích theo yêu cầu của nhà quản trị. Nội dung
thông tin mà kế toán quản trị cung cấp cho nhà quản lý sẽ bổ sung cho phần thông tin
thiếu sót mà kế toán tài chính không cung cấp được.
Như vậy, kế toán quản trị về bản chất là một bộ phận cấu thành không thể tách rời
của hệ thống kế toán, vì đều làm nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin kinh tế trong
doanh nghiệp. Kế toán quản trị trực tiếp cung cấp thông tin cho các nhà quản lý bên
trong tổ chức kinh tế - người có trách nhiệm điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của
tổ chức đó.
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của Kế toán quản trị trong việc cung cấp thông tin
- Cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng kế hoạch (dưới hình thức dự toán)
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện: Với chức năng tổ chức thực
hiện cùng với sự liên kết giữa con người và các nguồn lực. Kế toán quản trị sẽ cung cấp
thông tin để nhà quản lý có thể đưa ra quyết định đúng đắn nhất trong quá trình tổ chức
điều hành hoạt động kinh doanh. Để hoàn thành tốt chức năng của mình, kế toán quản
trị phải làm tốt các nhiệm vụ sau:
+ Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị
của đơn vị xác định theo từng thời kỳ.
Muốn vậy kế toán phải sử dụng hệ thống các chứng từ và sổ sách để ghi chép một
cách có hệ thống hoạt động kinh doanh hằng ngày.
+ Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán.
+ Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán
quản trị.
+ Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của
Ban lãnh đạo doanh nghiệp.

Đưa ra các
chỉ tiêu cần
Tình hình
hoạt động
Thu thập
thông tin
Xử lý thông
tin
Truyền đạt
thông tin
Ra quyết
định
Lập kế
hoạch
Ra quyết
định
Đánh giá Thực hiện kế
hoạch

Sơ đồ 1.2 - Các chức năng cơ bản của quản lý
Qua sơ đồ trên, có thể thấy sự liên tục của hoạt động quản lý từ khâu lập kế hoạch
đến thực hiện, kiểm tra, đánh giá rồi sau đó quay lại khâu lập kế hoạch cho kỳ sau, tất
cả đều xoay quanh trục ra quyết định.
Như vậy, để làm tôt chức năng quản lý, nhà quản trị phải có thông tin cần thiết để có
thể ra quyết định đúng đắn. Kế toán quản trị là nguồn chủ yếu, dù không phải là duy
nhất, cung cấp nhu cầu thông tin đó. Vai trò của kế toán quản trị thể hiện trong các khâu
của quá trình quản lý được thể hiện cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn lập kế hoạch và dự toán: Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu
phải đạt và vạch ra các bước thực hiện để đạt được những mục tiêu đó. Dự toán cũng là
một kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn

tương lai; không chỉ đo lường về mặt giá trị mà cả đo lường về hiện vật. Những thông
tin như vậy thì phần lớn được cung cấp bởi kế toán quản trị.
Kế toán quản trị không chỉ giúp nhà quản trị trong quá trình ra quyết định bằng cách
cung cấp thông tin thích hợp, mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vào
các tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn ra quyết định thích hợp nhất.
Tóm lại, chu kỳ quản lý và quá trình kế toán là một chu kỳ khép kín, vận động liên
tục lặp đi lặp lại nhưng không ngừng cải tiến để nâng cao chất lượng để ngày càng quản
lý tốt hơn và doanh nghiệp kinh doanh ngày càng có hiệu quả hơn. Các nhà quản trị
điều hành hoạt động kinh doanh thông qua các chức năng quản lý còn Kế toán quản trị
sử dụng các phương pháp riêng có của mình để thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền
đạt thông tin kế toán, đặt chúng trong bối cảnh các mục tiêu đã xác định với các tình
huống khác nhau nhằm cung cấp thông tin thực sự hữu ích cho các chức năng quản trị.
Kế toán quản trị có vai trò cung cấp thông tin cho các chức năng của quản trị dưới đây:
Các chức năng quản lý Quá trình kế toánXác định mục tiêu Chính thức hoá thành các chỉ tiêu kinh tế
Lập kế hoạch Lập dự toán chung và các bản dự toán chi
tiết
Thu thập các kết quả thực hiệnTổ chức thực hiện

Sơ đồ 1.3 - Mối quan hệ giữa Kế toán quản trị với các chức năng quản trị
1.1.4. Các phương pháp của Kế toán quản trị
Là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp, kế toán quản trị tất yếu cũng áp dụng các
phương pháp của kế toán nói chung, tuy nhiên việc vận dụng các phương pháp này có
đặc điểm khác so với kế toán tài chính. Kế toán quản trị được hình thành và phát triển
nhằm đáp ứng công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp. Vì vậy, phương pháp lựa chọn tuỳ
theo điều kiện cụ thể từng doanh nghiệp.
- Phương pháp chứng từ: Bên cạnh những chứng từ theo quy định bắt buộc, kế toán
quản trị còn tự xây dựng hệ thống chứng từ theo các yêu cầu quản lý cụ thể của doanh

thống hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật, hạch toán thống kê, và sử dụng những phương
pháp của phân tích kinh doanh như phương pháp so sánh, phân tích tương quan, phương
pháp thay thế liên hoàn, phương pháp phân tổ.
Ngoài ra, Kế toán quản trị cũng sử dụng nhiều đến thông tin quá khứ khi lập dự
toán, vì đó là cơ sở để ước đoán doanh thu, chi phí và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt
động của doanh nghiệp. Do vậy, các phương pháp của kế toán quá trình cũng thường
theo cách ước đoán, mô phỏng, gần đúng, dự báo xu hướng, biến động đánh giá trên cơ
sở sản xuất trong doang nghiệp và môi trường xung quanh.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CHI PHÍ
1.2.1. Bản chất chi phí
Chi phí có thể nhìn nhận một cách trừu tượng chính là biểu hiện bằng tiền toàn bộ
những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp phải chi ra trong
một thời kỳ nhất định, hoặc là những phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động phải phát
sinh gắn liền với mục đích kinh doanh. Đây chính là bản chất chi phí trong hoạt động
của doanh nghiệp là nó phải mất đi để đổi lấy một kết quả, kết quả có thể dưới dạng vật
chất hoặc không vật chất.
1.2.2. Phân loại chi phí
Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp là các
thông tin về chi phí, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Do vậy, các nhà quản lý cần phải kiểm soát chặt chẽ chi phí của doanh nghiệp, để quản
lý được chi phí cần thiết phải làm rõ cách phân loại chi phí khác nhau trong kế toán
quản trị, vì mỗi cách phân loại chi phí đều cung cấp những thông tin dưới nhiều góc độ
để nhà quản trị ra quyết định.
Trong kế toán tài chính, chi phí được định nghĩa như một khoản hao phí bỏ ra để thu
được một số sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Bản chất của chi phí phải mất đi để lấy một
khoản thu về. Trong Kế toán quản trị, chi phí được tiếp cận theo nhiều góc độ khác
nhau phục vụ cho yêu cầu quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Một số cách phân loại
chính là phân loại theo chức năng hoạt động, phân loại theo cách ứng xử, phân loại theo
mối quan hệ với báo cáo tài chính (BCTC) ...
- Phân loại theo chức năng hoạt động:

từng đơn vị sản phẩm thì hầu như không thay đổi.
+ Chi phí bất biến (định phí): Là những chi phí mà xét về tổng số sẽ không thay đổi
khi mức độ hoạt động thay đổi nhưng chi phí tính cho một đơn vị sản phẩm sẽ thay đổi
tỷ lệ nghịch với sự thay đổi của mức độ hoạt động.
+ Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí bao hàm cả yếu tố biến phí và định phí. Ở mức
độ hoạt động này, chi phí biểu hiện đặc điểm của định phí nhưng ở một mức độ hoạt
động khác chi phí biểu hiện đặc điểm của biến phí.
Ngoài ra, còn có các cách phân loại chi phí khác nhằm mục đích ra quyết đinh như:
- Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp:
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí tự bản thân nó hiển nhiên được chuyển vào đơn
vị sản phẩm hoặc dịch vụ, lao vụ.
+ Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phải được phân bổ vào từng đơn vị sản phẩm,
dịch vụ, lao vụ.
- Chi phí chênh lệch: Là những chi phí hiện diện trong phương án này nhưng chỉ
hiện diện một phần hoặc hoàn toàn không có mặt trong phương án khác.
- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được: Là những khoản chi phí
phản ánh phạm vi quyền hạn của nhà quản trị các cấp với chi phí đó. Một chi phí được
xem là kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó nếu cấp này có thẩm quyền định ra chi
phí đó. Ngược lại, chi phí được xem là chi phí không kiểm soát được ở một cấp quản lý
nào đó nếu cấp này không có thẩm quyền định ra chi phí đó.
- Chi phí cơ hội và chi phí chìm:
+ Chi phí cơ hội: Là lợi nhuận tiềm tàng bị mất hoặc hi sinh khi chọn một phương
án này để thay thế một phương án khác.
+ Chi phí chìm: Là những chi phí phát sinh trong quá khứ mà doanh nghiệp phải
chịu và vẫn còn phải chịu trong tương lai bất kể doanh nghiệp lựa chọn phương án kinh
doanh nào.
1.3. TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP
Tại Việt Nam, kế toán quản trị vẫn là lĩnh vực khá mới mẻ tại các doanh nghiệp.
Tuy nhiên trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường thì yêu cầu phải tổ chức
bộ phận kế toán quản trị đã trở nên đặc biệt cấp thiết. Để thực hiện được công tác kế

kết hợp phần hành kế toán quản trị với kế toán tài chính thì yêu cầu công tác kế toán
quản trị vẫn phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ là lập dự toán, phân tích, lập
báo cáo kế toán quản trị, xem xét đánh giá các dự án và cung cấp thông tin cho lãnh đạo
ra quyết định. Có thể tổ chức bộ máy kế toán quả trị theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.4 - Tổ chức bộ máy kế toán quản trị
Trong đó nhiệm vụ của bộ phận lập dự toán là tập hợp chi phí, phân tích biến
phí, định phí, xây dựng các phương trình tính chi phí hỗn hợp, lập kế hoạch giá thành,
giá bán, lập dự toán, phận tích mối quan hệ chi phí - sản lượng - lợi nhuận (CVP), phân
tích thông tin hỗ trợ việc ra quyết định của nhà quản lý.
Bộ phận phân tích giá có nhiệm vụ lấy báo cáo kế toán quản tri, so sánh, đánh giá
kết quả thực hiện với kế hoạch đề ra, tìm ra nguyên nhân gây ra biến động. Kế toán viên
KẾ TOÁN
KẾ TOÁN TÀI
CHÍNH
KẾ TOÁN QUẢN
TRỊ
Bộ
phận
kế
toán
nguồn
vốn
Bộ
phận
kế
toán
tài
sản
Bộ
phận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status